MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 22

LỜI MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn nền kinh tế nước ta đang phát triển với tốc độ nhanh, các
doanh nghiệp không ngừng mở rộng quy mô và số lượng. Với xu hướng đó thị
trường tài chính đang không ngừng phát triển để là nguồn cung vốn cho các doanh
nghiệp, các ngân hàng đã có những kế hoạch ngắn và dài hạn nhằm đạt được mục
tiêu đề ra.
HABUBANK là một trong những ngân hàng đó. Trong những năm vừa qua
HABUBANK có kết quả hoạt động kinh doanh rất ấn tượng, luôn thể hiện là một
ngân hàng rất tiềm năng. HABUBANK đang ngày càng chiếm được lòng tin của
các cá nhân và doanh nghiệp.
Nhằm mục đích nghiên cứu tìm hiểu để đưa ra những đánh giá thực trạng
và đưa ra những giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư.
Chuyên đề thực tập của em gồm có 3 phần chính :
Chương 1 : Một số vấn đề cơ bản về thẩm đinh tài chính dự án đầu tư của
ngân hàng thương mại
Chương 2 : Thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Hội sỏ
chính Ngân hàng thương mại cổ phần Nhà Hà Nội
Chương 3 : Giải pháp hoàn thiện hoạt động thẩm định tài chính dự án đầu
tư tại Hội sở chính ngân hàng thương mại cổ phần Nhà Hà Nội
.
Chuyên đề không tránh khỏi những sai sót, em mong thầy cô và các bạn
góp ý để bản báo cáo được hoàn thiện hơn!
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của thầy giáo TS.Hoàng Xúân Quế,
các anh chị trong Hội sở ngân hàng thương mại cổ phần Nhà Hà Nội đã hướng dẫn
em hoàn thành báo cáo này!
1
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH
DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Hoạt động cho vay theo dự án của ngân hàng thương mại
1.1.1 Sự cần thiết của cho vay theo dự án của ngân hàng thương mại
Hoạt động cho vay theo dự án của ngân hàng là các khoản cho chủ đầu tư

Các khoản vay ở Ngân hàng thương mại thường bao gồm vay ngắn hạn và
vay trung - dài hạn. Việc cho vay các khoản ngắn hạn tương đối dễ và đơn giản.
Nhưng thế mạnh của Ngân hàng thương mại là khai thác các khoản cho vay trung -
dài hạn. Các khoản cho vay này thường là các khoản vay với khối lượng vốn lớn,
thời gian vay lâu và độ rủi ro tương đối cao, thường phục vụ cho vấn đề đầu tư
mua sắm tài sản cố định, máy móc thiết bị cho sản xuất, xây dựng nhà xưởng...
Các dữ liệu của công cuộc đầu tư đều được thể hiện trong dự án mà các đơn vị vay
vốn nộp kèm đơn vay. Khi xét duyệt món vay, cán bộ tín dụng luôn bám sát các
thông tin trong dự án, kết hợp so sánh vớí các yếu tố, các thông tin thu thập bên
ngoài để đánh giá tính hợp lí, tính khả thi và tính hiệu quả của dự án, đánh giá dự
án có lời hay bị lỗ, ngân hàng có lãi trong hoạt động cho vay này hay không...
Các Ngân hàng thương mại hầu như đều rất quan tâm đến các dự án mang
lại lợi nhuận lớn. Tuy nhiên, độ rủi ro của các dự án này thường rất cao. Do đó, để
hạn chế rủi ro, ngân hàng thường rất quan tâm đến công tác thẩm đinh dự án -
nhất là thẩm định về mặt tài chính dự án đầu tư .
Thẩm định tài chính dự án đầu tư giúp cho cán bộ tín dụng của ngân hàng
nắm được các thông số thực sự về dự án và bản thân chủ thể vay vốn sau khi đã
tiến hành đối chứng, kiểm định và tính toán lại một số chỉ tiêu chưa hợp lí. Do các
số liệu về thu - chi, lợi nhuận của một dự án đầu tư chủ yếu là các số liệu giả định,
dự đoán dựa trên các số liệu thực tế tình hình sản xuất kinh doanh tương tự của
doanh nghiệp hoặc của một doanh nghiệp khác đã làm trước đây. Tuy nhiên, các
số liệu này thường không hoàn toàn chính xác do tác động của yếu tố rủi ro tác
3
động bên ngoài. Một dự án đầu tư nếu không được thẩm định cẩn thận trước khi
cho vay thì rất dễ gây ra những tác động không không như dự kiến. Nếu thực tế
diễn ra thuận lợi thì rất tốt. Nhưng nếu có những tiêu cực xảy ra thì không chỉ bản
thân ngân hàng khó thu hồi được vốn, doanh nghiệp thua thiệt mà còn có thể gây
ra những tác động tiêu cực đến hiệu quả kinh tế - xã hội. Mặt khác, hiện nay xu
hướng chung trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại là tiến tới cho
vay không có tài sản thế chấp nhiều hơn. Nếu trước đây, tài sản thế chấp của

hợp với chiến lược phát triển đầu tư,quy hoạch phát triển kinh tế xã hội
.Đảm bảo thực hiện các quy định của pháp luật về dự án đầu tư
- Vai trò
.Đối với chủ đầu tư :do doanh nghiệp thường không đủ khả năng phân
tích,đánh giá tính khả thi của dự án,thiếu khả năng phân tích tổng hợp ,thiếu thông
tin.Mà những thứ này thì ngân hàng có nhiều kinh nghiệm và khả năng. Do đó
ngân hàng có thể tư vấn cho doanh nghiệp để chọn ra dự án hiệu quả nhất
. Đối với cơ quan quản lý nhà nước: các cơ quan nhà nước luôn đánh giá dự
án ở tính phù hợp của nó đối với quy hoạch phát triển chung của ngành,địa
phương và cả nước trên các mặt:mục tiêu,quy mô,quy hoạch và hiệu quả. Thẩm
định dư án đầu tư giúp cơ quan quản lý đánh giá được sự cần thiết của dự án cũng
như tính thống nhất thực hiện dự án đối với chiến lược quy hoạch phát triển tổng
thể để từ đó ra quyết định bác bỏ hay cho phép thi công dự án
. Đối với nền kinh tế: nền kinh tế luôn cần các dự án đầu tư phục vụ cho sự
nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước,song đó phải là các dự án không chỉ
đem lại hiệu quả kinh tế mà còn phải có hiệu quả xã hội,đảm bảo sự phát triển bền
vững của kinh tế.Chíng vì thế thẩm định dự án đầu tư là công việc không thể
thiếu,nhằm xác định hiệu quả của dự án khi đi vào hoạt động trên những khía
cạnh:công nghệ,vốn,ô nhiễm môi trường và các hiệu quả kinh tế xã hội khác.Điều
này có ý nghĩa rất lớn,bởi nếu đầu tư kém hiệu quả,sai mục đích sẽ gây ra những
hậu quả khó lường cho nền kinh tế,cho xã hội.Ngày nay với điều kiện hạn chế về
vốn đầu tư,tính hiệu quả của một dự án càng phải được cân nhắc kỹ.Thông qua
công tác thẩm định dự án đầu tư của mình,các ngân hàng ngày càng giúp cho nền
kinh tế có được những dự án thực sự tốt,đem lại hiệu quả như mong muốn
5
. Đối với ngân hàng:mục tiêu của ngân hàng là an toàn và sinh lợi.Vì vậy
việc thẩm định dự án đầu tư là việc hết sức cần thiết và có ý nghĩa quan trọng đối
với ngân hàng.Nếu ngân hàng làm tốt công tác này sẽ giúp cho các cán bộ tín dụng
ngân hàng rút ra kết luận chính xác về tính khả thi ,hiệu quả kinh tế của dự án hoặc
dự án vay vốn,khả năng trả nợ,những rủi ro có thể xảy ra để ra quyết định cho vay

. Kiểm tra xem nhu cầu vay vốn có thuộc đối tượng cho vay hay không
. Kiểm tra tính hợp pháp của mục đích vay vốn
. Đối với với những dự án vay bằng ngoại tệ thì kiểm tra mục đích vay vốn
sao cho phù hợp với quy định quản lý ngoại hối
- Sự cần thiết của dự án:
Mỗi dự án là một mắt xích quan trọng trong chương trình phát triển
trung,dài hạn của nghành,vùng lãnh thổ.Việc một dự án đầu tư sẽ ảnh hưởng
không nhỏ đến con người,đến kinh tế xã hội,đến thị trường,môi trường tự
nhiên...Vì vậy khi tiến hành thẩm định dự án cán bộ tín dụng cần phải xem xét các
mục tiêu và định hướng của dự án.Đánh giá xem dự án có cần thiết trong tình hình
kinh tế xã hội,thị trường hiện nay hay không,có tuân thủ theo đúng kế hoạch,quy
hoạch đầu tư,định hướng phát triển của ngành không,có tác dụng như thế nào đối
với sự phát triển chung của cả nước .Mặc khác ngân hàng cần xem xét dự án có
đem lại lợi ích cho mình và cho chủ đầu tư hay không
* Thẩm định về phương diện kỹ thuật
Thẩm định dự án về phương diện kỹ thuật là việc kiểm tra,phân tích các
yếu tố kỹ thuật và công nghệ chủ yếu của dự án để đảm bảo tính khả thi cả về mặt
thi công xây lắp dự án và việc vận hành dự án theo đúng mục tiêu dự kiến.Các vấn
đề chính sách nghiên cứu kiểm tra bao gồm:
- Thẩm định quy mô của dự án:là thẩm định xem quy mô,công suất dự án
có phù hợp với khả năng tiêu thụ của thị trường hay không,có phù hợp với khả
năng nguồn vốn,khả năng cung cấp nguyên liệu,khả năng quản lý của doanh
nghiệp không.
- Thẩm định công nghệ và trang thiết bị
Dây truyền công nghệ và trang thiết bị là những vấn đề sống còn đối với
hiệu quả của dự án đầu tư,bởi chúng quyết định cả năng suất và chất lượng sảm
7
phẩm.Để xác định dây truyền công nghệ và lựa chọn thiết bị dự án cho hiệu
quả,người ta đưa ra một số quyết định
+ Công nghệ sản xuất được lựa chọn phải đảm bảo đã qua kiểm chứng thực

hoàn thành dứt điểm.Trước hết là các hạng mục công trình sản xuất,rồi đến các
hạng mục công trình sản xuất phụ trợ,các hạng mục thực hiện sản xuất sau
cùng.Tính toán để hoàn thành các hạng mục cần thiết có thể đưa dự án đi vào hoạt
động từng bộ phận hoặc vẫn đảm bảo cho sản xuất các bộ phận hiện có.Tránh thi
công dàn đều tất cả các hạng mục cùng một lúc,sẽ không hiệu quả,thậm chí nếu
thiếu vốn,thiếu nguyên vật liệu...sẽ làm dở dang tất cả
* Phân tích trên phương diện thị trường,phân tích ngành của dự án
- Thị trường là nơi quyết định thành công của dự án và là yếu tố quyết định
nguồn trả nợ cho dự án.Một dự án tốt,chiếm lĩnh được thị trường thì khả năng thu
hồi vốn của ngân hàng càng trở nên chắc chắn.Chính vì vậy phân tích thị trường là
rất cần thiết:
+ Kiểm tra cung – cầu sảm phẩm.Khi nghiên cứu quan hệ cung,cầu sảm
phẩm cần xem xét tổng thể cả thị trường trong nước và ngoài nước với mục đích
làm rõ xu thế trong tương lai của sảm phẩm.Tùy theo phạm vi tiêu thụ sảm phẩm
của dự án mà cán bộ tín dụng cần xem xét trên các khía cạnh sau:
. Nhu cầu hiện tại của thị trường trên các địa bàn mà dự án thâm
nhập,chiếm lĩnh cũng như sự chấp thuận của sảm phẩm đó trên thị trường hiện
nay,nhu cầu của người tiêu dùng đang ở mức độ nào.Sự chấp nhận và mức độ thỏa
mẵn của người tiêu dùng đối với sảm phẩm của mình so với những sảm phẩm
cùng loại trên thị trường và sảm phẩm có thể thay thế
. Dự báo nhu cầu sảm phẩm trong tương lai và mức độ đáp ứng sảm phẩm
đó trên thị trường,các kênh đáp ứng các sảm phẩm tương tự và sảm phẩm thay thế
ra sao
.Tính hợp pháp, hợp lý và mức độ tin cậy của hợp đồng bao tiêu sảm
phẩm,các văn bản giao dịch sảm phẩm,tránh sự giả mạo có thể xẩy ra
.Phân tích hợp lý về giá cả và mức biến động về giá cả đầu vào,đầu ra của
dự án
. Khả năng nắm bắt các thông tin về thị trường quản lý xuất nhập khẩu của
các nước có quan hệ
- Phân tích ngành:

thanh toán... để đưa ra ưu thế của sảm phẩm đó
10
. Phân tích về khả năng cạnh tranh gián tiếp là đánh giá,so sánh uy tín,kinh
nghiệm...của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trên thị trường.Uy tín,kinh
nghiệm cũng như khả năng nắm bắt thông tin chính xác,nhanh nhậy,mức độ linh
hoạt trong sản xuất kinh doanh có ý nghĩa rất lớn trong cạnh tranh.Do đó cần phải
tìm hiểu kỹ về khả năng xuất hiện hiặc gia tăng cạnh tranh gián tiếp
*

Thẩm định ảnh hưởng của dự án tới môi trường
Hiện nay tiêu chuẩn về môi trường tại các nước phát triển được quy định
rất khắt khe,bắt buộc các nhà sản xuất phải bỏ ra một chi phí không nhỏ cho vấn
đề ô nhiễm môi trường.Trước tình hình đó,các doanh nghiệp cần giảm chi phí sản
xuất bằng cách chuyển những công nghệ lạc hậu,gây ra sự ô nhiễm sang các nước
đang phát triển để đầu tư. Do vậy khi thẩm định cần phải xem xét khả năng tác
động đến môi trường của dự án và phân tích các biện pháp xử lý chống ô nhiễm
môi trường,trong đó phải tính toán các chi phí cho lĩnh vực này.
Tình hình kinh tế,môi trường,xã hội được đề cập trong dự án bao gồm các
vấn đề sau:
- Điều kiện và địa lý tự nhiên (địa hình,khí hậu,địa chất...) có liên quan đến
việc chọn,thực hiện và phát huy hiệu quả của dự án sau này
- Điều kiện dân số và lao động có liênquan đến nhu cầu và khuynh hướng tiêu
thụ sảm phẩm,đến ngồn lao động cung cấp cho dự án
- Tình hình chính trị,chính sách có ảnh hưởng đến tâm lý nhà đầu tư
- Tình hình phát triển kinh tế xã hội đất nước,địa phương,tình hình sản xuất
kinh doanh của ngành,địa phương (tốc độ tăng trưởng GDP,tỷ lệ đầu tư với
GDP,quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng,GDP/đầu người,tỷ suất lợi nhuận kinh
doanh...) có ảnh hưởng tới quá trình thực hiện và phát huy hiệu quả của dự án
- Tình hình ngoại hối ( cán cân thanh toán quốc tế,dự trữ ngoại tệ,nợ nước
ngoài và tình hình thanh toán nợ...) đặc biệt đối với các dự ân phải nhập khẩu

với từng khoản mục chi phí.Khối lượng xây lắp,số lượng,chủng loại vật liệu cần
mua sắm phù hợp với nhu cầu thực tế.
Ngoài ra cán bộ tín dụng cần kiểm tra tiến độ bỏ vốn của doanh nghiệp có
phù hợp với độ dài thời gian thực hiện dự án không, bởi điều này ảnh hưởng đến
hiệu quả và khả năng trả nợ của dự án.Cán bộ thẩm định phải xem xét, đánh gía về
tiến độ thực hiện dự án và nhu cầu cho từng giai đoạn,khả năng đáp ứng nhu cầu
vốn trong từng giai đoạn thực hiện dự án để đảm bảo tiến độ thi công.
12
-Kiểm tra về cơ cấu vốn,cơ cấu nguồn vốn đầu tư và sự đảm bảo của các
nguồn vốn
Các dự án được đầu tư bằng nhiều nguồn vốn khác nhau như : vốn tự có
của chủ đầu tư,vốn ngân sách,vốn đi vay,vốn liên doanh liên kết,vốn cổ phần và
các nguồn vốn khác.Do đó cán bộ tín dụng khi thẩm định chỉ tiêu này cần chỉ rõ
những hình thức huy động vốn vào dự án,để đi sâu phân tích tìm hiểu khả năng
,hiện thực của các nguồn vốn đó.Xem xét tỷ lệ tương quan hợp lý giữa các nguồn
vốn.Vốn đi vay quá lớn doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn về tài chính khi trả nợ.Vốn
đi vay hợp lý sẽ tạo ra đòn bảy tài chính giúp doanh nghiệp tạo lợi nhuận tốt hơn
do tích kiệm được thuế
+Thông thường một dự án có tính thuyết phục cao khi chủ đầu tư có ít nhất
50% vốn tự có tham gia vào dự án,còn đối với các ngân hàng thương mại chỉ cần
đầu tư số vốn còn lại sau khi chủ dự án đã huy động hết nguồn vốn của họ.Có như
vậy thì trách nhiệm chủ dự án trong việc sử dụng vốn mới được nâng cao và rủi ro
trong đầu tư mới được hạn chế
+Cần quan tâm và xử lý tới các nguồn vốn đầu tư :
. Đối với vốn tự có của doanh nghiệp: Cần kiểm tra phân tích tình hình tài
chính và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để xác định số vốn cần bổ xung
của doanh nghiệp có thể giành để đầu tư cho dự án hiện tại cũng như trong thời
gian thực hiẹn dự án sau khi đã trích ra để trang trải các hoạt động cần thiết khác
. Vốn trợ cấp của ngân sách: Đối với các dự án được ngân sách tài trợ một
phần vốn, cần xem xét các cam kết bảo đảm của các cấp có thẩm quyền đối với

đời của dự án.Doanh thu của dự án tài chính là tổng giá trị bán ra của hàng hóa
dịch vụ. Trong những năm đầu của dự án đưa vào hoạt động ,công suất thiết kế
thường tính thấp hơn dự tính(70%-90%) do những nguyên nhân khác nhau dẫn
đến doanh thu trong những năm này thường thấp,sau đó doanh thu tăng dần theo
vòng đời của dự án.Điều lưu ý là xem doanh thu đó được hình thành từ những
hoạt động,những sảm phẩm nào và xác định các khoản mục lãi gộp,lãi thuần trước
thuế,lãi sau thuế,dự phòng... xem đã phù hợp với khả năng thực tế của dự án
không
* Kiểm tra các chỉ tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp và các chỉ tiêu
phản ánh hiệu quả đầu tư
14
Khi tiến hành thẩm định dự án, cơ quan thẩm định ngoài việc đánh giá dự án còn
tiến hành phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp để đánh giá được đầy đủ
nhất tình trạng thực tế của doanh nghiệp, đánh giá lịch sử sản xuất kinh doanh.
như vậy, hệ thống chỉ tiêu cơ bản có thể phân thành 2 loại:
+ Chỉ tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp.
+ Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính dự án đầu tư.
Trong mỗi loại đó, việc phân tích đều dựa trên phân tích về mặt giá trị, tức
là dùng một đơn vị tiền tệ làm công cụ đánh giá chung. Nhưng bản thân tiền cũng
có giá trị vận động theo thời gian,tức là có giá trị về mặt thời gian nên có hai khả
năng đánh giá:
+ Phương pháp tài chính giản đơn
+ Phương pháp tài chính có chiết khấu
Tuỳ theo từng nội dung , từng loại chỉ tiêu mà một trong hai cách phân tích
nêu trên được lựa chọn.
Chỉ tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp
Khi phân tích phải được so sánh theo thời gian để thấy được tốc độ tăng
trưởng hay suy thoái,so sánh với doanh nghiệp tiêu biểu cùng ngành nếu có và so
sánh với các chỉ tiêu bình quân ngành để thấy rõ tình hình tài chính doanh nghiệp
trong tương quan chung

lợi,sảm phẩm tiêu thụ tốt,ít cạnh tranh thì cơ cấu tài chính này sẽ mang lại lợi
nhuận cao.Ngược lại khi doanh nghiệp lâm vào khó khăn ,thua lỗ thì cơ cấu tài
chính này sẽ đưa doanh nghiệp thua lỗ nhanh hơn
Hệ số này thấp: không có được ý nghĩa đem lại cho doanh nghiệp suất lợi
nhuận cao ,nhưng đổi lại mức độ an toàn coa hơn.Vì vậy Doanh nghiệp muốn chỉ
tiêu này cao nhưng ngân hàng thì ngược lại
Vốn chủ sở hữu
Hệ số tự tài trợ =
Tổng tài sản
Cho ta biết mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp.Tỷ số cao thể hiện
năng lực tự chủ tài chính cao và ngược lại.Đánh gía tỷ số như thế nào là hợp lý thì
16
phụ thuộc vào quan điểm đánh giá,môi trường kinh doanh.Đối với ngân hàng thì
chỉ số này càng cao càng tốt
Lợi nhuận từ kinh doanh
Khả năng trang trải lãi vay =
Chi phí lãi vay
Chỉ số này xem xét khả năng khi trả lãi vay từ lợi nhuận thu được từ hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp.Chỉ số này > 1 là tốt
Lợi nhuận trước thuế và chi phí lãi vay
Khả năng hoàn trả nợ vay =
Vốn gốc + chi phí lãi vay
Chỉ số này xem xét khả năng của doanh nghiệp khi trả lãi vay từ lợi nhuận
thu được từ hoạt động kinh doanh . Chỉ số này bằng 1 chỉ ra rằng doanh nghiệp
tạo ra dòng tiền từ hoạt động kinh doanh chỉ đư để trả nợ lãi và gốc đến hạn. Chỉ
số này cang cao thì khả năng trả nợ gốc và lãi càng cao và khả năng chống chọi
với các biến động trong lãi suất và dòng tiền càng cao
+ Các tỷ số về khả năng hoạt động
Doanh thu thuần
Hệ số vòng quay tổng tài sản =

đó sẽ mất nhiều thời gian hơn để thu tiền mặt
Giá trị các khoản phải trả
Thời gian thanh toán = x 365
công nợ phải trả Giá vốn hàng bán
Tỷ số này cho biết thời gian từ khi mua hàng hóa và nguyên vật liệu cho tới
khi thanh toán tiền.Nếu chu kỳ dài thì có nghĩa: điều kiện thanh toán với người
cung cấp là thuận lợi cho doanh nghiệp,thời gian trả chậm dài giúp doanh nghiệp
dễ dàng tăng vốn điều lệ.Mặc khác cũng có thể nói rằng giá mua hàng là bất
lợi,hoặc doanh nghiệp đang phụ thuộc vào các điều kiện tín dụng thương mại do
thiếu các khoản tín dụng ngân hàng.Nếu chu kỳ ngắn thì: các điều kiện thanh toán
là bất lợi vì quan hệ với nhà cung cấp trở nên xấu đi.Tuy nhiên cũng có khả năng
doanh nghiệp có nhiều vốn trong tay,và thay vì gia tăng các khoản thanh toán
bằng tiền mặt,doanh nghiệp đang mua hàng với giá cả thuận lợi
18
+ Các tỷ số về khả năng sinh lãi
Lợi nhuận ròng
Hệ số lãi ròng =
Doanh thu
Hệ số này thể hiện một đồng doanh thu có thể tạo ra được bao nhiêu lợi
nhuận ròng trong một chu kỳ kinh doanh.Do đó đây là tỷ lệ quan trọng nhất trong
việc đánh giá khả năng sinh lời nói chung.

Lợi nhuận ròng (lỗ)
Suất sinh lời của tài sản (ROA) =
Bình quân tổng tài sản đầu kỳ và cuối kỳ
Hoặc ROA =Hệ số lãi rõng x Số vòng quay tài sản
=(Lãi ròng / Doanh thu ) x (Doanh thu / Tổng tài sản )
ROA cao khi số vòng quay tài sản cao và hệ số lợi nhuận lớn
ROA đo lường kết quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp để tạo ra lợi
nhuận.Không phân biệt tài sản này được hình thành từ vốn chủ sở hữu hay vốn

khi lấy các khoản thu từ dự án, trừ các khoản chi từ dự án. Khi tính toán chỉ tiêu
này, cũng dưa trên cơ sở giá trị hiện tại, tức là phải xem xét đến lãi suất chiết khấu.
Trước khi tính các chỉ tiêu, cán bộ thẩm định dự án đầu tư phải xác định
luồng tiền ra và vào của dự án đem lại.
. Dòng tiền ra gồm: vốn đầu tư ban đầu vào tài sản cố định; vốn đầu tư vào
tài sản lưu động; chi phí sửa chữa, bảo trì, bảo dưỡng; chi phí hoạt động tăng
thêm.
. Dòng tiền vào bao gồm: lợi nhuận ròng do dự án mang lại; khấu hao
TSCĐ; thu hồi từ giá trị thanh lý TSCĐ khi kết thúc dự án; thu hồi vốn đầu tư vào
tài sản lưu động khi kết thúc dự án.
. Giá trị hiện tại ròng của một dự án đầu tư là số chênh lệch giữa giá trị hiện
tại của các luồng tiền ròng kỳ vọng trong tương lai với giá trị hiện tại của vốn đầu
tư :
Công thức tính giá trị hiện tại ròng:
n CF
t
NPV = - CF
0
+ Σ
20
t=1 (1+ i)
t
Trong đó :
CF
0
: là vốn đầu tư bỏ ra ban đầu , giả định vốn đầu tư được bỏ ra một lần
vào đầu năm thứ nhất của dự án
CF
t
: là dòng tiền xuất hiện tại năm thứ t của dự án , t chạy từ 1 đến n.

- Phương pháp nội suy : phương pháp nay dựa trên nguyên tắc tam giác đồng
dạng. Trình tự phương pháp này được thực hiện như sau:
Bước 1: chọn một lãi suất chiết khấu tùy ý để tính NPV sao cho NPV > 0.
Sau đó tăng lãi suất chiết khấu đến khi NPV gần đến 0 nhất ta có lãi suất chiết
khấu i
1
và NPV
1
.
Bước 2 : tiếp tục tăng lãi suất chiết khấu cho đến khi NPV < 0 và chọn một
NPV gần bằng 0 ta có i
2
và NPV
2
. Chú ý : để tăng tính chính xác của IRR, thường
hai giá trị lãi suất chiết khấu được chọn không lệch nhau quá 5%.
Bước 3 : tính IRR theo công thức:
NPV
1
(i
2
– i
1
)
IRR = i
1
+
| NPV
1
| + | NPV

Ưu điểm của chỉ tiêu này là:
- Dễ xác định.
- Độ tin cây tương đối cao
Chỉ tiêu này giúp cho người thẩm định có một cái nhìn tương đối chính xác
về mức độ rủi ro của dự án. Nó được các nhà tài trợ ưu thích vì thời gian thu hồi
vốn đầu tư càng dài thì nhà tài trợ càng phải đương đầu với rủi ro trong việc thu
hồi vốn. Chủ đầu tư cũng ưu thích những dự án có thời gian hoàn vốn ngắn vì khả
năng quay vòng vốn nhanh, rủi ro thấp.
Nhược điểm của chỉ tiêu này là :
- Không tính đến dòng tiền sau thời gian hoàn vốn do đó không cho biết lợi
nhuận lớn nhất của dự án. Đôi khi một phương án có thời gian hoàn vốn dài
nhưng thu nhập về sau lại cao hơn thì vẫn có thể là phương án tốt.
- Không tính đến sự khác biệt của dòng tiền trước thời điểm hoàn vốn và
không tính đến giá trị theo thời gian của tiền.
Vì những nhược điểm như trên phải được sử dụng kết hợp với các chỉ tiêu
khác ,chứ khó có thể sử dụng một cách độc lập để đưa ra quyết định đầu tư.
* Thẩm định về khả năng trả nợ cho ngân hàng
Tín dụng là quan hệ vay trả, việc cạnh tranh giữa các ngân hàng trong việc
thu hút khách hàng nhằm dành lấy thị trường ngày càng tăng. Nên vấn đề lôi kéo
23
khách hàng vay tiền của ngân hàng mình mà vẫn bảo đảm an toàn vốn là một bài
toán vô cùng khó khăn.
Do vậy, mối quan tâm hàng đầu của ngân hàng là biết trước được khả năng
thanh toán của dự án trong quá trình quyết định cho vay. Khả năng thanh toán của
dự án phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Dự án đang cho vay là dự án mới đầu tư
hay đầu tư chiều sâu, nguồn vốn trả nợ cơ bản được huy động từ ba nguồn chính,
gồm có: Lợi nhuận sau thuế để lại; khấu hao cơ bản; các nguồn hợp pháp khác
ngoài dự án. Cán bộ thẩm định dự án sẽ đánh giá khả năng trả nợ của dự án thông
qua chỉ tiêu:
Các nguồn tiền để trả nợ hàng năm đối với dự án

liệu, giá bán sản phẩm, tiền lương ...).
Phân tích độ nhạy là phương pháp mà theo đó người ta xác định một hay
một số yếu tố có ảnh hưởng tới dự án, cho các yếu tố đó thay đổi, các yếu tố còn
lại giữ nguyên, sau đó tính lại các chỉ tiêi hiệu quả tài chính và so sánh để đưa ra
kết luận va mức độ rủi ro của yếu tố đó ảnh hưởng đến dự án.
Thông thường người ta kiểm tra độ nhậy của dự án theo từng yếu tố ảnh
hưởng riêng biệt và đôi khi cũng tiến hành kiểm tra với sự biến đổi đồng thời của
một vài yếu tố. Trong thực tế thì việc xác định lại các chỉ tiêu đánh giá dự án đòi
hỏi khá nhiều công sức vì vậy người ta thường kiểm tra theo một vài yếu tố cơ bản
nhất trong các tình huống thích hợp :
- Trong trương hợp xác định thị trường chưa chắc chắn thì yếu tố thường
được quan tâm là khối lượng sản phẩm tiêu thụ.
- Nếu khối lượng công tác xây dựng và giá đầu tư chưa được xác định cụ
thể thì yếu tố chi phí đầu tư lại được chú ý.
- Chi phí sản xuất được phân tích trong trưòng hợp giá cả và điều kiện cung
cấp các yếu tố đầu vào thường biến động...
Điều quan trọng khi đánh giá độ nhạy của dự án là phải ước lượng xu
hướng và mức độ thay đổi của các yếu tố ảnh hưởng.
+ Phân tích tình huống: Là phương pháp mà theo đó người ta làm thay đổi
hàng loạt các yếu tố cùng chiều để xây dựng tình huống tốt nhất, trung bình và xấu
25

Trích đoạn Thứ hai thẩm định tổng vốnđầu tư, chi phớ và doanh thu của dự ỏn. Giải phỏp đổi mới trang thiết bị, cụng nghệ ngõn hàng Thanh tra kiểm soỏt băng việc sử dụng hiệu quả kiểm toỏn độc lập và kiểm tra kiểm soỏt nội bộ. Kiến nghị đối với Nhà nước Kiến nghị đối với NHNN Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status