giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội tỉnh thanh hóa - Pdf 22

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu đã nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ rang.
Hà Nội, Ngày 08 tháng 12 năm 2011
Tác giả luận văn
Lê Thị Thuý Nga
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trong nền kinh tế thị trường việc phân hoá giàu nghèo là một tất yếu
do sự khác nhau về khả năng lao động, trình độ văn hoá, kiến thức nghề
nghiệp dẫn đến có nhiều tầng lớp xã hội có mức thu nhập khác nhau. Một xã
hội văn minh là xã hội mà mọi người có cuộc sống ấm no hạnh phúc, do đó
cần phải thực hiện xoá đói giảm nghèo.
Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện công cuộc đổi mới nền
kinh tế đất nước, chuyển từ kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa; với
mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh”.
Nhằm đạt mục tiêu chiến lược này, một trong những chủ trương lớn của
Đảng và Nhà nước Việt nam là thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo.
Ngay từ Hội nghị Trung ương 5 khoá VIII của Đảng cộng sản Việt nam đã
xác định “Phải trợ giúp người nghèo bằng cách cho vay vốn, hướng dẫn
cách làm ăn, hình thành quỹ XĐGN ở từng địa phương trên cơ sở dân giúp
dân. Nhà nước giúp dân và tranh thủ các nguồn tài trợ quốc tế, phấn đấu
tăng hộ giàu đi đôi với XĐGN”. [16,tr 63].
Sau hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành
tựu quan trọng, tốc độ tăng trường GDP hàng năm đạt từ 7-8%; đời sống
nhân dân ngày càng được cải thiện, chính trị được giữ vững và ổn định.
Lĩnh vực XĐGN cũng đạt được nhiều thành tích nổi bật và được Liên hợp
quốc đánh giá cao. Tuy vậy, mặt trái của sự phát triển cũng ngày càng bức
xúc, như khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng; sự tụt hậu ngày càng lớn
giữa khu vực nông thôn và thành thị, giữa miền núi và đồng bằng; tình trạng

- Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo
- Phạm vi nghiên cứu: Tại NHCSXH tỉnh Thanh Hóa với số liệu từ
năm 2006-2010.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp
quan sát khoa học, phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp tổng
hợp, thống kê, chứng minh, diễn giải, sơ đồ, biểu mẩu và đồ thị trong trình
bày luận văn.
5. Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham
khảo, có kết cấu 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả tín dụng ngân hàng đối với hộ
nghèo.
Chương 2: Thực trạng hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại Ngân
hàng chính sách xã hội tỉnh Thanh Hóa.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại
Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Thanh Hóa .
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO
1.1. TỔNG QUAN VỀ ĐÓI NGHÈO
1.1.1. Quan niệm về đói nghèo
Tình trạng đói nghèo ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau về cấp độ
và số lượng, thay đổi theo thời gian. Người nghèo của quốc gia này có thể có
mức sống cao hơn mức sống trung bình của quốc gia khác. Bởi vậy, để nhìn
nhận và đánh giá được tình trạng đói nghèo của một quốc gia, một vùng và
nhận dạng được hộ đói nghèo, để từ đó có giải pháp phù hợp để XĐGN, đòi
hỏi chúng ta phải có sự thống nhất về khái niệm và các tiêu chí để đánh giá
đói nghèo tại từng thời điểm.
Ở nước ta trong những năm qua, thực hiện công cuộc đổi mới do

cảnh nào thì hộ nghèo, người nghèo cũng chỉ vật lộn với những mưu sinh
hàng ngày về kinh tế, biểu hiện trực tiếp nhất là bữa ăn. Họ không thể vươn
tới mức tối thiểu nhất, gần như không có. Biểu hiện rõ nhất ở các hộ nghèo
là hiện tượng trẻ em bỏ học, không có điều kiện để chữa bệnh khi ốm đau.
1.1.2. Quan niệm về đói nghèo
Theo Ngân hàng Thế giới, biện pháp áp dụng thông dụng nhất để đo
lường đói nghèo là dựa trên mức thu nhập hoặc mức chi tiêu. Một người
được coi là nghèo, nếu mức độ chi tiêu hoặc thu nhập của anh ta xuống dưới
mức tối thiểu cần thiết để đáp ứng cho các nhu cầu căn bản. Mức tối thiểu
này được gọi là "ngưỡng đói nghèo". Các yếu tố đáp ứng nhu cầu căn bản
thay đổi theo thời gian và xã hội. Do đó, ngưỡng đói nghèo khác nhau theo
thời gian và địa điểm và mỗi quốc gia sử dụng các ngưỡng thích hợp với
mức độ phát triển chuẩn mực và giá trị xã hội của mình. Để tổng hợp và so
sánh toàn cầu, Ngân hàng Thế giới sử dụng ngưỡng của tham chiếu $1 và
$2/ngày trong thuật ngữ "sức mua tương đương" (PPP) 1993 (PPP đo lường
sức mua tương đối của đồng tiền các quốc gia).
Trong quá trình nghiên cứu đói nghèo và thực hiện chương trình
XĐGN ở Việt Nam, WB đã đưa ra hai mức chuẩn nghèo đối với Việt Nam:
Thứ nhất, là số tiền cần thiết để mua một số lương thực, thực phẩm
đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng với lượng 2.100 calo/người/ngày gọi là chuẩn
nghèo về lương thực, thực phẩm.
Thứ hai, là số tiền cần thiết bao gồm cả chi tiêu cho lương thực, thực
phẩm và chi tiêu cho các nhu cầu cần thiết khác, gọi là chuẩn nghèo chung.
Tại Việt Nam hiện nay sử dụng một loạt các chỉ tiểu đánh giá về
nghèo đói và phát triển xã hội: Bộ LĐ- TB&XH (cơ quan thường trực của
Chính phủ trong tổ chức, triển khải thực hiện XĐGN) dùng phương pháp
dựa trên thu nhập của hộ gia đình tuỳ theo từng thời gian. Các hộ được xếp
vào diện nghèo, nếu thu nhập đầu người của họ dưới mức chuẩn được xác
định. Mức này khác nhau giữa thành thị, nông thôn và miền núi. Tỷ lệ nghèo
được xác định bằng tỷ lệ giữa dân số có thu nhập dưới ngưỡng nghèo so với

Phương pháp xác định đói nghèo do Bộ LĐ TB&XH nêu trên có
những ưu điểm nhất định: Dễ hiểu, dễ tính toán, dễ điều tra.
Việc đưa ra giới hạn đói nghèo của Bộ LĐ TB&XH là phù hợp với
điều kiện của Việt Nam, tiện lợi cho việc Nhà nước có một bức tranh tổng
quát về đói nghèo, đặc biệt là vùng nông thôn và miền núi để có thể đưa ra
các giải pháp XĐGN trong cả nước. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện
việc bình xét hộ nghèo tại một số địa phương (xóm, bản, xã, phường) đã
không thực hiện đúng theo hướng dẫn của Bộ LĐ TB&XH về tiêu chí đánh
giá hộ nghèo, cho nên đã dẫn đến tình trạng số hộ nghèo thực tế lớn hơn số
hộ nghèo được cấp sổ (hộ nghèo trong danh sách) tại từng thời điểm.
1.1.3. Nguyên nhân đói nghèo
Đói nghèo là hậu quả đan xen của nhiều nguyên nhân nằm trong các
nhóm nguyên nhân. Nhóm nguyên nhân khách quan, do môi trường tự nhiên
(vị trí, khí hậu, đất đai); kinh tế - xã hội (trình độ dân trí thấp, yếu tố tập
quán của từng dân tộc, từng vùng miền, chính sách của Nhà nước) và nhóm
nguyên nhân do bản thân người nghèo, dựa vào phân tích các nguyên nhân
như sau:
1.1.3.1 Nhóm nguyên nhân do môi trường tự nhiên; kinh tế - xã hội
Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt đã tác động sâu sắc đến sản xuất nông
nghiệp của các hộ gia đình nghèo. Ở những vùng khí hậu khắc nghiệt : thiên
tai, lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh, đất đai cằn cỗi, diện tích canh tác ít, địa hình
phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, cơ sở hạ tầng thiếu hoặc không có là
những vùng có nhiều hộ nghèo đói nhất.
1.1.3.2 Nhóm nguyên nhân do bản thân hộ nghèo
- Thiếu vốn sản xuất: Các tài liệu điều tra cho thấy đây là nguyên
nhân chủ yếu nhất. Nông dân thiếu vốn thường rơi vào vòng luẩn quẩn, sản
xuất kém, làm không đủ ăn, phải đi thuê, phải đi vay để đảm bảo cuộc sống
tối thiểu hàng ngày. Có thể nói: Thiếu vốn sản xuất là một lực cản lớn nhất
hạn chế sự phát triển của sản xuất và nâng cao đời sống của các hộ gia đình
nghèo. Kết quả điều tra xã hội học về nguyên nhân nghèo đói của các hộ

Xoá đói giảm nghèo sẽ hạn chế được các tệ nạn xã hội, tạo sự ổn định công
bằng xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế. Người nghèo được hỗ trợ
để tự vươn lên, tạo thu nhập, từ đó làm tăng sức mua, khuyến khích sản xuất
phát triển. Chính vì vậy, quan điểm cơ bản của chiến lược phát triển xã hội
mà Đảng ta đã đề ra là phát triển kinh tế, ổn định và công bằng xã hội nhằm
thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh.
Tóm lại, hỗ trợ người nghèo là một tất yếu khách quan. Xuất phát từ lý
do của sự đói nghèo có thể khẳng định một điều: mặc dù kinh tế đất nước có
thể tăng trưởng nhưng nếu không có chính sách và chương trình riêng về
XĐGN thì các hộ gia đình nghèo không thể thoát ra khỏi đói nghèo được.
Chính vì vậy, Chính phủ đã đề ra những chính sách đặc biệt trợ giúp người
nghèo, nhằm thu hẹp dần khoảng cách giữa giàu và nghèo. Tất nhiên Chính
phủ không phải tạo ra cơ chế bao cấp mà tạo ra cơ hội cho hộ nghèo vươn
lên bằng những chính sách và giải pháp. Cụ thể là:
- Điều tra, nắm bắt được tình trạng hộ nghèo và thực hiện nhiều chính
sách đồng bộ: tạo việc làm, chuyển giao kỹ thuật, xây dựng cơ sở hạ tầng
với quy mô nhỏ ở những vùng nghèo, cho hộ nghèo vay vốn với lãi suất ưu
đãi, đồng thời cung cấp thông tin cần thiết để họ có thể tiếp cận với thị
trường và hòa nhập với cộng đồng.
- Tiếp tục triển khai mở rộng Chương trình mục tiêu Quốc gia XĐGN
của Thủ tướng Chính phủ. Hàng năm, Chính phủ dành ra một tỷ lệ trong
tổng chi ngân sách để bổ sung quỹ cho vay XĐGN.
- Kết hợp chương trình mục tiêu Quốc gia XĐGN với các chương trình
kinh tế xã hội khác như: Chương trình khuyến nông, chương trình phát triển
các ngành công nghiệp và dịch vụ, chương trình phủ xanh đất trống đồi núi
trọc, chương trình hỗ trợ các xã đặc biệt khó khăn, chương trình nước sạch
nông thôn, dân số kế hoạch hóa gia đình, xoá mù chữ…
- Thực hiện một số chính sách khuyến khích và giúp đỡ hộ nghèo như:
miễn giảm thuế, viện phí, học phí… đối với hộ nghèo không còn khả năng lao
động tạo ra nguồn thu nhập, Nhà nước trợ cấp hàng tháng và vận động các tổ

hành cho các tác nhân tư nhân vay để bổ sung cho nhu cầu SXKD hoặc tiêu
dùng. Do huy động và cho vay bằng tiền, nên đối tượng cho vay của ngân
hàng rất linh hoạt và đáp ứng mọi nhu cầu trong nền kinh tế.
- Ngân hàng thương mại đóng vai trò vừa là người đi vay, vừa là cho
vay; ở đây ngân hàng đóng vai trò là tổ chức trung gian tài chính.
- Quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng độc lập
tương đương đối với sự vận động và phát triển của quá trình sản xuất xã hội.
1.2.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hộ nghèo
Tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng đối với hộ nghèo. Nó được
coi là công cụ quan trọng để phá vỡ vòng luẩn quẩn của thu nhập thấp, tiết
kiệm thấp và năng suất thấp, là chìa khoá vàng để giảm nghèo. Vai trò tín
dụng ngân hàng được thể hiện ở một số nội dung sau:
- Cung cấp vốn tín dụng, góp phần cải thiện thị trường tài chính cộng
đồng, nơi có hộ nghèo sinh sống:
Vốn tín dụng cho người nghèo đã góp phần cải thiện tình hình thị
trường tài chính khu vực nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt
khó khăn, vùng có nhiều đồng bào dân tộc ít người sinh sống. Trong ba yếu
tố cơ bản để hộ nghèo có điều kiện SXKD, đó là vốn bằng tiền hoặc đất đai,
lao động và kỹ thuật; trong đó, vốn bằng tiền đóng vai trò quan trọng nhất vì
nếu có vốn bằng tiền, thì người sản xuất có thể mua sắm các tư liệu sản xuất
khác, kể cả đất đai. Hiện nay, tích lũy của người nghèo ở nước ta rất thấp, do
đó hầu như các hộ nghèo đều thiếu vốn để SXKD. Nhờ nguồn vốn của ngân
hàng mà các hộ nghèo có điều kiện tiếp cận được khoa học kỹ thuật, công
nghệ mới như các giống cây, con mới, kỹ thuật canh tác mới và cũng nhờ
vay vốn, mà hộ nghèo tiếp cận được với công tác khuyến nông, khuyến lâm,
khuyến ngư.
- Tín dụng ngân hàng làm giảm tệ nạn cho vay nặng lãi:
Tệ nạn cho vay nặng lãi đã có từ lâu đời nay, hiện nay vẫn đang tồn
tại khá nặng nề ở nông thôn, nhất là vùng cao, vùng sâu, vùng xa. Cho vay
nặng lãi thể hiện ở lãi suất cao hơn nhiều so với lãi suất cho vay của ngân

đó, thông qua vay vốn, các hộ nghèo trong tổ cùng giúp đỡ nhau trong sản xuất
và đời sống; trao đổi kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm quản lý kinh tế, chia
sẻ rủi ro, hoạn nạn. Thông qua đó mà tình làng nghĩa xóm được gắn bó hơn.
Đồng thời số lượng các hội viên sinh hoạt tại các tổ chức hội (HND, HNP,
HCCB, ĐNT) ngày càng đông, hoạt động của các tổ chức hội phong phú hơn
về nội dung, các hội làm dịch vụ ủy thác cho vay hộ nghèo cũng có thêm khoản
thu nhập từ phí ủy thác ngân hàng trả theo tỷ lệ và định kỳ nhất định (hàng
quý). Kết quả phát triển kinh tế đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế nông thôn. Trật
tự an ninh, an toàn xã hội được giữ vững, hạn chế được những mặt tiêu cực, tạo
ra bộ mặt mới trong đời sống kinh tế - xã hội ở nông thôn.
1.3. HIỆU QUẢ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO
Đối với các ngân hàng thương mại, thì các dịch vụ tín dụng là một
trong những sản phẩm quan trọng nhất của ngân hàng, chúng gồm các khoản
cho vay và các dịch vụ mang tính chất tín dụng. Đối với NHCSXH hiện nay,
các khoản cho vay chiếm tỷ trọng chủ yếu trong hoạt động tín dụng Ngân
hàng và chúng là sản phẩm dễ rủi ro nhất. Quan niệm hiệu quả tín dụng hộ
nghèo ở đây được hiểu là hiệu quả cho vay.
1.3.1. Quan niệm
Hiệu quả tín dụng hộ nghèo xét trên các khía cạnh:
- Thực hiện bình xét dân chủ, công khai, vốn đến đầy đủ, đúng địa chỉ
hộ nghèo cần vay vốn (hộ nghèo có sức lao động, có khả năng SXKD nhưng
thiếu vốn) và được sử dụng đúng mục đích.
- Quy mô tín dụng: Quy mô tín dụng với hộ nghèo được thể hiện ở số
tuyệt đối dư nợ tín dụng đối với hộ nghèo trong tổng dư nợ, doanh số cho
vay, thu nợ hộ nghèo, số tiền vay đối với một hộ. Số tuyệt đối dư nợ lớn và
tỷ trọng dư nợ cao, doanh số cho vay, thu nợ lớn thể hiện hoạt động tín dụng
ngân hàng đã đáp ứng tốt nhu cầu của các hộ nghèo.
- Chất lượng tín dụng: Chất lượng tín dụng đối với hộ nghèo thể hiện
ở mức độ an toàn tín dụng, khả năng hoàn trả và hiệu quả sử dụng vốn tín
dụng của người vay). Nếu tỷ lệ nợ quá hạn trong tổng dư nợ hộ nghèo thấp,

Ngược lại, nếu vay vốn về SXKD thua lỗ thì hiệu quả thấp, thậm chí mất
vốn. Có nhiều trường hợp vay vốn ngân hàng về chăn nuôi, trồng trọt, tuy đã
trả hết nợ cho ngân hàng đúng thời hạn, nhưng vẫn bị đánh giá là hiệu quả
thấp vì nguồn để trả nợ cho ngân hàng phải đi vay chỗ khác, chứ không phải
từ nguồn thu nhập của người vay. Trường hợp này, nếu không đi vay chỗ
khác thì hộ nghèo phải bán tài sản hình thành từ vốn vay để trả nợ. Cho nên,
nếu chỉ nhìn một mặt trả nợ của hộ vay cho ngân hàng để đánh giá hộ vay sử
dụng vốn có hiệu quả là chưa đủ.
- Hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo cũng được đánh giá thông qua
tiêu chí: Tỷ suất lợi nhuận và mức sống của hộ nghèo, nếu tỷ suất lợi nhuận
được tăng lên, mức sống hộ nghèo được cải thiện tốt, thì hiệu quả tín dụng
tốt.
- Thông qua việc sử dụng vốn vào SXKD, trình độ quản lý kinh tế của
người vay được nâng lên. Người nghèo có điều kiện tiếp cận được kỹ thuật
về trồng trọt, chăn nuôi tiên tiến, có điều kiện áp dụng khoa học kỹ thuật
mới. Đây cũng là một trong những tiêu chí đánh giá hiệu quả tín dụng mang
lại cho hộ nghèo.
- Số hộ thoát nghèo bền vững, vươn lên thành hộ giàu là một trong
những chỉ tiêu quan trọng đánh giá hiệu quả của tín dụng đối với hộ nghèo. Hộ
đã thoát khỏi ngưỡng đói nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người
cao hơn chuẩn mực đói nghèo hiện hành, không còn nằm trong danh sách hộ
nghèo do phòng LĐ - TB&XH huyện, thị, thành phố lập theo từng năm.
Tổng số
hộ nghèo đã thoát
Số hộ
nghèo
Số hộ
nghèo
Số hộ
nghèo

được vay vốn
=
Tổng số hộ nghèo được vay vốn
x 100%
Tổng số hộ nghèo trong danh sách
- Luỹ kế số hộ thoát nghèo lớn, cũng là một tiêu chí để đánh giá hiệu
quả tín dụng đối với hộ nghèo qua cả một thời gian.
b. Về phía ngân hàng
NHCSXH là tổ chức tín dụng của nhà nước, hoạt động vì mục tiêu
XĐGN, phát triển kinh tế và ổn định xã hội, không vì mục đích lợi nhuận.
Hiệu quả tín dụng NHCSXH được thể hiện.:
Thứ nhất, quy mô tín dụng: Quy mô tín dụng đối với hộ nghèo được
thể hiện ở số tuyệt đối dư nợ tín dụng với hộ nghèo và tỷ trọng dư nợ tín
dụng hộ nghèo trong tổng số dự nợ tín dụng của NHCSXH. Số tuyệt đối lớn
và tỷ trọng dư nợ cao, thể hiện hoạt động tín dụng ngân hàng đã đáp ứng tốt
nhu cầu vốn của hộ nghèo.
Tỷ lệ dư nợ tín dụng
đối với hộ nghèo
=
Dư nợ tín dụng hộ nghèo
x 100%
Tổng dư nợ tín dụng
Tăng trưởng
dư nợ TDHN
=
Dư nợ TDHN năm sau -Dư nợ TDHN năm trước
x 100%
Dư nợ tín dụng hộ nghèo năm trước
Thứ hai, chất lượng tín dụng:
- Có 03 tiêu chí đánh giá chất lượng tín dụng là tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ

x 100%
Tổng dư nợ
Tỷ lệ này càng cao thì chất lượng tín dụng bị đánh giá là thấp và ngược
lại.
- Tỷ lệ thanh toán nợ do bán tài sản của người vay: Nguồn trả nợ cho
ngân hàng về nguyên tắc là được trích ra từ phần thu nhập của người vay. Tuy
nhiên, có trường hợp do sử dụng vốn kém hiệu quả bị mất vốn nên người vay
phải bán tài sản để trả nợ, trong trường hợp này đánh giá chất lượng tín dụng
thấp.
Tỷ lệ thanh toán nợ
do bán tài sản
=
Số tiền nợ thu được do khách hàng bán
x 100%
Tổng doanh số thu nợ
Thứ ba, khả năng bảo toàn vốn: NHCSXH là một tổ chức tín dụng
Nhà nước hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, thực hiện chính sách tín
dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác, nhưng
phải bảo toàn vốn. Muốn duy trì hoạt động bền vững thì NHCSXH phải có
chênh lệch tương đương về thu, chi nghiệp vụ. Các khoản thu chủ yếu là thu
lãi tiền vay, chi chủ yếu trả phí ủy thác, hoa hồng, trả lãi tiền vay. NHCSXH
cho hộ nghèo vay vốn phải thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn, hạn chế
thấp nhất về rủi ro xảy ra (kể cả rủi do bất khả kháng).
`Thứ tư, mức độ đáp ứng nhu cầu vốn hợp lý của hộ nghèo, hỗ trợ hộ
nghèo phát triển kinh tế, vượt lên thoát đói nghèo. Nếu nguồn vốn của ngân
hàng đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu ngày càng tăng của hộ nghèo, thì
đánh giá hiệu quả của NHCSXH đối với tín dụng hộ nghèo cao và ngược lại.
Thứ năm, về thủ tục đơn giản, thuận tiện, cung cấp nhanh chóng,
giảm bớt chi phí trong hoạt động cho vay, nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc tín
dụng.

nghèo. Những hộ sống ở vùng đồng bằng, nơi có cơ sở hạ tầng tốt, trình độ
dân trí cao, khí hậu ôn hòa, đất đai rộng, thì vốn tín dụng hộ nghèo dễ có
điều kiện phát huy hiệu quả cao và ngược lại, những nơi cơ sở hạ tầng thấp
kém, giao thông đi lại khó khăn, đất đai ít, cằn cỗi, khí hậu khắc nghiệt thì
vốn tín dụng phát huy hiệu quả không cao.
(2). Điều kiện xã hội
Do tập quán canh tác ở một số vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa còn
lạc hậu, như chăn nuôi gia súc, gia cầm thả rông, không có chuồng trại,
không tiêm phòng dịch, nên hiệu quả không cao. Từ đó ảnh hưởng trực tiếp
đến hiệu quả tín dụng hộ nghèo. Các hộ nghèo thường có số con đông hơn
các hộ trung bình, nhưng sức lao động ít, trình độ học vấn của chủ hộ và các
thành viên trong gia đình thấp, nên sử dụng vốn kém hiệu quả. Một số hộ
nghèo do nhận thức còn hạn chế, xem nguồn vốn tín dụng của NHCSXH là
vốn cấp phát, cho không của Nhà nước, nên sử dụng chủ yếu vào sinh hoạt
trong gia đình; không đầu tư vào SXKD; vốn sử dụng không có hiệu quả,
dẫn đến không trả nợ cho ngân hàng.
(3). Điều kiện kinh tế
Vốn tự có của hộ nghèo hầu như không có (chỉ có sức lao động), nên
vốn SXKD chủ yếu dựa vào vốn vay ngân hàng cũng là một yếu tố làm giảm
hiệu quả của vốn vay. Cùng với việc thiếu vốn SXKD, thì việc lồng ghép tập
huấn các chương trình như: Khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư … hạn
chế cũng góp phần làm giảm hiệu quả tín dụng hộ nghèo.
Điều kiện y tế, giáo dục, thị trường cũng có ảnh hưởng lớn đến hiệu
quả tín dụng hộ nghèo. Những nơi có trạm y tế, có đội ngũ y, bác sỹ đầy đủ,
thì nơi đó việc chăm sóc sức khỏe cho người dân được đảm bảo, người dân
có sức khỏe tốt đồng nghĩa với sức lao động tốt, có điều kiện để SXKD tốt,
sử dụng vốn có hiệu quả, trong đó, có vốn tín dụng hộ nghèo và ngược lại.
Giáo dục có ý nghĩa quyết định đến việc sử dụng vốn tín dụng có hiệu quả.
Nếu nơi nào có tỷ lệ người được học cao, thì nơi đó dễ có điều kiện tiếp thu
khoa học, kỹ thuật vào sản xuất; nơi đó con người có ý thức tốt hơn; SXKD

chăn nuôi thì sẽ có hiệu quả. Tuy nhiên, hiện nay tại một số vùng đặc biệt
khó khăn là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn tư
tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự trợ giúp của Nhà nước. Một số hộ nghèo do ý
thức kém, nên sử dụng vốn sai mục đích, không chấp hành việc trả nợ (gốc,
lãi) cho ngân hàng đúng hạn.
1.4. KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI VIỆT
NAM
1.4.1. Kinh nghiệm của một số nước
1.4.1.1 Kinh nghiệm cho vay XĐGN của Ngân hàng Grameen (Bangladesh)
Bangladesh một số nước nông nghiệp lạc hậu, diện tích tự nhiên gần
143.000 km
2
, dân số khoảng 120 triệu người, thuộc nước nghèo nhất thế
giới; trong đó, 80% dân số sinh sống ở nông thôn. GDP bình quân đầu người
dưới 200 USD, nhưng bình quân GDP của nông dân chỉ hơn 100 USD/năm.
Dân trí thấp, nhiều người mù chữ. Bangladesh là nước đồng bằng, thiên tai
thường xuyên xảy ra. Do đó, đời sống của đa số nông dân rất thiếu thốn.
Ngân hàng Grameen (có nghĩa là làng xã) hình thành từ năm 1976,
vốn ban đầu chỉ có 28 USD của Giáo sư, TS Yumus sáng lập. Hệ thống ngân
hàng Grameen gồm: Ngân hàng TW, trụ sở tại thủ đô Datka, Văn phòng đại
diện tại các bang hoặc vùng, hơn 1.000 Chi nhánh khu vực ở nông thôn,
dưới chi nhánh, mỗi làng có Trung tâm tín dụng do thành viên vay vốn tự
xây dựng và tự quản lý, một thành viên làm trưởng Trung tâm tín dụng, mỗi
trung tâm tín dụng có ít nhất 10 tổ tín dụng. Mỗi tổ tín dụng có 5 thành viên,
một thành viên làm tổ trưởng. Nông dân nghèo muốn được vay tiền ngân

Trích đoạn ĐỊNH HƯỚNG NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO Xây dựng, tạo lập nguồn vốn phù hợp Hoàn thiện cơ chế cho vay hộ nghèo Đẩy mạnh tín dụng ủy thác qua các tổ chức chính trị xã hội Đẩy mạnh công tác đào tạo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status