Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, với sự phát triển của nền kinh tế thị trường (KTTT), các Báo
cáo tài chính hàng năm (Bảng cân đối kế toán, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ,
Báo cáo kết quả kinh doanh...) do các doanh nghiệp lập ra là đối tượng quan
tâm của nhiều người như: các chủ doanh nghiệp, các cổ đông, các doanh
nghiệp bạn, ngân hàng, chủ đầu tư, các cơ quan quản lý cũng như công chúng
trong xã hội nói chung... Tuy mỗi đối tượng quan tâm đến Báo cáo tài chính
(BCTC) của doanh nghiệp ở mỗi góc độ và mục đích khác nhau nhưng tất cả
đều cần BCTC chứa những thông tin có độ tin cậy cao, trung thực và hợp lý.
Vì những thông tin tài chính không trung thực sẽ dẫn đến các quyết định
không thích hợp cho người sử dụng. Một trong các biện pháp hiệu quả làm
giảm rủi ro của thông tin được trình bày trên các BCTC của doanh nghiệp là
các BCTC này được kiểm tra bởi các kiểm toán viên (KTV) độc lập thuộc các
công ty kiểm toán chuyên nghiệp- Kiểm toán độc lập (KTĐL). Vì thế nên
hoạt động kiểm toán hiện nay đang diễn ra rất sôi động, đã mang lại không ít
lợi ích cho xã hội.
Đặc biệt đối với kiểm toán BCTC, KTĐL đã góp phần giúp các doanh
nghiệp, các dự án quốc tế, các đơn vị hành chính sự nghiệp nắm bắt được kịp
thời, đầy đủ và tuân thủ đường lối, chính sách kinh tế tài chính, loại bỏ được
chi phí bất hợp lý, tạo lập được những thông tin tin cậy từng bước đưa công
tác quản lý tài chính- kế toán doanh nghiệp vào nề nếp. Hoạt động KTĐL đã
tạo được vị trí trong nền KTTT góp phần quan trọng trong việc lành mạnh
hoá môi trường đầu tư và nền tài chính quốc gia.
Trong một doanh nghiệp chi phí tiền lương và nhân viên chiếm tỷ trọng
khá lớn trong tổng chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh, tiền lương không
những ảnh hưởng đến nhiều chỉ tiêu trọng yếu trong BCTC mà còn ảnh
hưởng trực tiếp đến người lao động. Do đó, để có được một BCTC trung thực
thì kiểm toán chu trình tiền lương nhân viên là một trong những phần hành
quan trọng của cuộc kiểm toán BCTC. Nhận thức được vấn đề trên nên khi
Bùi Thị Ngọc Anh 1 Kiểm toán 44
1.1.1. Khái niệm chung về kiểm toán Báo cáo tài chính
Trên thế giới, thuật ngữ “kiểm toán” đã có từ khá lâu, từ khi xuất hiện
nhu cầu xác định tính trung thực, độ tin cậy của thông tin tài chính nói chung
và trên Báo cáo tài chính (BCTC) nói riêng cùng thực trạng tài sản của một
chủ thể trong quan hệ kinh tế.
Ngày nay, thực tiễn kiểm toán đã phát triển rất cao với nhiều loại hình
kiểm toán, nhiều mô hình tổ chức và bằng sự thâm nhập sâu của kiểm toán
vào nhiều lĩnh vực trong đời sống kinh tế, xã hội. Để lí luận phát triển tương
xứng với thực tiễn Nhà nước đã ban hành rất nhiều những ấn phẩm về kiểm
toán như những: Qui định, Chuẩn mực, hướng dẫn nghiệp vụ và việc đào tạo
kiểm toán viên (KTV) cũng mang tính chuyên nghiệp do các Hiệp hội kiểm
toán viên công chứng hoặc do các công ty kiểm toán độc lập thực hiện.
Ở nước ta hoạt động kiểm toán thực sự phát triển mạnh từ những năm
đầu thập kỷ 90. Trước những yêu cầu đổi mới nền kinh tế, thực hiện chính
sách “mở cửa”, Đảng, Nhà nước và các hội nghề nghiệp cũng rất quan tâm
đối với sự phát triển của dịch vụ trong đó dịch vụ kế toán, kiểm toán và môi
trường pháp lý cho dịch vụ này ngày càng được hoàn thiện. Đặc biệt sự ra đời
của Nghị định số 105/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/03/2004 và thông
tư hướng dẫn số 64/2004/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 29/06/2004, cũng
như Chuẩn mực kế toán, kiểm toán của Việt Nam là chỗ dựa quan trọng, là cơ
sở pháp lý cho các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động dịch vụ kế toán, kiểm
toán. Vậy kiểm toán là gì?
Bùi Thị Ngọc Anh 3 Kiểm toán 44
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD
Theo cách hiểu chung nhất: “Kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến
về thực trạng hoạt động được kiểm toán bằng hệ thống phương pháp kỹ thuật
của kiểm toán chứng từ và kiểm toán ngoài chứng từ do các kiểm toán viên
có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có
hiệu lực”
1
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD
khoản mục này liên quan tới số dư hoặc số phát sinh của tài khoản tương
ứng... Do vậy khi tiến hành kiểm toán tài chính người ta có thể phân chia các
Bảng khai tài chính thành các phần hành kiểm toán:
* Phân theo khoản mục: Cách phân chia máy móc từng khoản mục
hoặc nhóm các khoản mục theo thứ tự trong các báo cáo vào một phần hành.
Cách phân chia này đơn giản, nhưng để hiệu quả phải có sự đánh giá kết hợp
kết quả các khoản mục liên quan.
* Phân theo chu trình: Căn cứ vào mối liên hệ chặt chẽ lẫn nhau giữa
các khoản mục, các quá trình cấu thành, các yếu tố trong một chu trình chung
của hoạt động tài chính. Theo đó BCTC thường bao gồm các phần hành cơ
bản sau:
- Kiểm toán chu trình bán hàng- thu tiền
- Kiểm toán tiền mặt (tại két, tại ngân hàng hoặc đang chuyển)
- Kiểm toán chu trình mua hàng- trả tiền (cung ứng và thanh toán)
- Kiểm toán chu trình thuê mướn nhân công và trả lương (tiền lương và
nhân viên)
- Kiểm toán hàng tồn kho
- Kiểm toán huy động- hoàn trả vốn
Sơ đồ 1: Kiểm toán Bảng khai tài chính theo chu trình
Bùi Thị Ngọc Anh 5 Kiểm toán 44
Bán hàng-
thu tiền
Mua hàng
trả tiền
Tiền lương và
nhân viên
HÀNG TỒN KHO
TIỀN
Huy động
động hăng hái làm việc tăng năng suất, bên cạnh đó có thể tiết kiệm được
đáng kể những khoản chi phí nhân công, hạ giá thành sản phẩm.
3
: Kế toán tài chính trong các doanh nghiệp, PGS.TS Đặng Thị Loan chủ biên, NXB Thống kê-2004, tr 67
Bùi Thị Ngọc Anh 6 Kiểm toán 44
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD
Quản lý lao động và tiền lương là một trong những nội dung quan trọng
của công tác quản lý sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp. Tổ chức hạch
toán lao động tiền lương giúp cho công tác quản lý lao động đi vào nề nếp:
người lao động luôn chấp hành tốt mọi kỷ luật lao động, có ý thức làm tăng
năng suất lao động và hiệu suất công tác. Đồng thời giúp ích cho doanh
nghiệp trong việc tính lương, quản lý quỹ tiền lương trả lương và trợ cấp Bảo
hiểm xã hội (BHXH) đảm bảo đúng nguyên tắc, đúng chế độ.
Các khoản trích theo lương bao gồm:
Bảo hiểm xã hội: Theo chế độ tài chính hiện hành, quỹ BHXH được
hình thành bằng cách tính theo tỷ lệ 20% trên tổng quỹ lương của doanh
nghiệp (người sử dụng lao động phải nộp 15% được tính vào chi phí sản xuất
kinh doanh, còn 5% trên tổng quỹ lương do người lao động trực tiếp đóng
góp). Quỹ BHXH dùng để trợ cấp cho người lao động có tham gia đóng góp
quỹ trong các trường hợp họ bị mất khả năng lao động như ốm đau, thai sản
tai nạn lao động, hưu trí, mất sức…
Bảo hiểm y tế (BHYT): Theo chế độ các doanh nghiệp phải thực hiện
trích quỹ BHYT 3% tổng quỹ lương (doanh nghiệp phải chịu 2% tính vào chi
phí, người lao động chịu 1%). Quỹ được sử dụng để trợ cấp cho những người
lao động tham gia đóng góp quỹ trong các hoạt động khám, chữa bệnh.
Kinh phí công đoàn (KPCĐ): Theo chế độ kinh phí công đoàn được trích
2% trên tổng quỹ lương (doanh nghiệp phải trả toàn bộ tính vào chi phí).
Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm: Quỹ dùng để trợ cấp cho người
lao động phải nghỉ việc theo chế độ. Thời điểm trích lập là lúc khoá sổ kế
toán để lập BCTC năm (mức trích lập cụ thể do doanh nghiệp tự quyết định
bậc trong thang lương).
Bùi Thị Ngọc Anh 8 Kiểm toán 44
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD
Lương ngày trả cho người lao động theo mức lương ngày và số ngày làm
việc thực tế trong tháng, thường được áp dụng để trả lương cho lao động trực
tiếp hưởng lương theo thời gian.
Lương ngày =
Lương tháng
Số ngày làm việc trong tháng
Lương giờ thường được áp dụng để trả lương cho người lao động trực
tiếp trong thời gian làm việc không hưởng lương theo sản phẩm.
Lương giờ =
Lương ngày
Số giờ làm việc trong ngày
Hình thức tiền lương theo sản phẩm:
Hình thức tiền lương theo thời gian có hạn chế là mang tính bình quân,
nhiều khi chưa phản ánh phù hợp kết quả lao động thực tế của người lao
động. Hình thức trả lương theo sản phẩm đã phản ánh kết quả lao động tốt
hơn. Trả lương theo sản phẩm đã gắn chặt thù lao lao động với năng suất lao
động, do đó khuyến khích người lao động nâng cao năng suất tạo thêm nhiều
sản phẩm cho xã hội.
Để áp dụng tốt hình thức trả lương theo sản phẩm doanh nghiệp cần phải
xây dựng được các định mức kinh tế, kỹ thuật làm cơ sở cho việc xây dựng
đơn giá tiền lương đối với từng loại sản phẩm, từng công việc một cách hợp
lý. Tuỳ theo từng doanh nghiệp cụ thể có thể áp dụng các hình thức sau:
- Hình thức tiền lương theo sản phẩm trực tiếp không hạn chế.
- Hình thức tiền lương theo sản phẩm gián tiếp.
- Hình thức tiền lương theo sản phẩm có thưởng, có phạt.
- Hình thức tiền lương sản phẩm thưởng luỹ tiến.
- Hình thức khoán khối lượng hoặc khoán từng việc.
mức lao động và đơn giá tiền lương hợp lý được cơ quan có thẩm quyền phê
duyệt.
Bùi Thị Ngọc Anh 10 Kiểm toán 44
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD
1.2.2.2. Hạch toán tiền lương, tiền thưởng và thanh toán với người lao động
Thời gian để tính lương thưởng và các khoản phải trả cho người lao động
là hàng tháng, được thực hiện tập trung tại phòng kế toán của doanh nghiệp.
Căn cứ vào các chứng từ theo dõi thời gian lao động kết quả lao động (“Bảng
chấm công”, “Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành”, và các
chứng từ khác có liên quan như: giấy báo nghỉ phép, biên bản ngừng việc…),
kế toán lập “Bảng thanh toán tiền lương” làm căn cứ thanh toán lương cho
người lao động và tiến hành lập chứng từ phân bổ tiền lương, thưởng vào chi
phí kinh doanh.
Tài khoản sử dụng để hạch toán tổng hợp tiền lương, thưởng, và thanh
toán với người lao động là TK 334 “Phải trả CNV”. Bên nợ: các khoản tiền
lương, thưởng, BHXH, và các khoản khác đã trả, ứng trước cho người lao
động. Bên có: các khoản lương, thưởng, khoản khác thực tế phải trả người lao
động. Số dư bên có: các khoản lương, thưởng còn phải trả người lao động
(nếu dư bên nợ phản ánh số tiền đã trả quá cho người lao động). TK 334 được
chi tiết thành 2 tiểu khoản: TK 3341 “Thanh toán lương”, TK 3348 “Các
khoản khác” (dùng để phản ánh các khoản thu nhập không có tính chất lương,
trợ cấp từ quỹ BHXH, tiền thưởng từ quỹ khen thưởng… mà doanh nghiệp
phải trả cho người lao động).
Bùi Thị Ngọc Anh 11 Kiểm toán 44
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD
Sơ đồ 2: Hạch toán tổng hợp thanh toán với NLĐ
Các khoản trích theo lương: Các doanh nghiệp phải nộp BHXH trích trong kỳ
vào quỹ tập trung do quỹ BHXH quản lý (qua TK của họ ở kho bạc). Quỹ
BHYT do cơ quan BHYT thống nhất quản lý và trợ cấp cho người lao động
thông qua mạng lưới y tế. KPCĐ một nửa phải nộp cho công đoàn cấp trên,
TK 621
TK 138
TK 141
TK 338
TK 641
TK 642
TK 431
TK 3383
BHXH phải trả cho NLĐ trong
doanh nghiệp
Trích theo TL của NVPX tính
vào chi phí
Trích theo TL của LĐTT tính
vào chi phí
Trích theo TL của NV bán
hàng tính vào chi phí
Trích theo TL của NVQLDN
tính vào chi phí
Trích theo TL của NLĐ trừ
vào thu nhập của họ
Nhận tiền cấp bù của quỹ
BHXH
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD
Sơ đồ 3: Hạch toán tổng hợp quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ
1.2.2.3. Đặc điểm chu trình tiền lương và nhân viên ảnh hưởng đến việc
thực hiện kiểm toán Báo cáo tài chính.
Chu trình tiền lương và nhân viên bao gồm các chức năng: tuyển dụng và
thuê mướn nhân viên; phê duyệt các mức lương, bậc lương, sự thay đổi về
mức lương và bậc lương; theo dõi và tính toán thời gian lao động, công việc
hoàn thành; tính toán tiền lương và lập bảng thanh toán lương; ghi chép sổ
Việt Nam thì chứng từ ban đầu sử dụng để hạch toán thời gian lao động và
khối lượng công việc, lao vụ hoàn thành là: Bảng chấm công (Mẫu số 02-
LĐTL- Chế độ chứng từ kế toán), Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc lao vụ hoàn
thành (Mẫu số 06- LĐTL- Chế độ chứng từ kế toán), Hợp đồng giao khoán
(Mẫu số 08- LĐTL- Chế độ chứng từ kế toán), ngoài ra doanh nghiệp có thể
sử dụng một số chứng từ liên quan như Thẻ thời gian, Giấy chứng nhận nghỉ
ốm…để làm căn cứ tính lương và các khoản trích theo lương.
Tính lương và lập bảng lương: Căn cứ vào các chứng từ theo dõi thời
gian lao động và kết quả công việc, sản phẩm, lao vụ hoàn thành, các chứng
từ liên quan khác được gửi từ bộ phận hoạt động tới bộ phận kế toán tiền
lương; tiền lương được tính cụ thể cho từng đối tượng lao động, các khoản
trích theo lương được tính dựa trên các quy định của pháp luật hiện hành. Kế
toán tiền lương lập Bảng thanh toán tiền lương (Mẫu số 02 và 03- LĐTL- Chế
Bùi Thị Ngọc Anh 14 Kiểm toán 44
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD
độ chứng từ kế toán) để làm căn cứ thanh toán tiền lương, phụ cấp, thưởng
cho người lao động; lập bảng khai các khoản phải nộp phải trả về các khoản
trích theo tiền lương; Kế toán tiến hành phân bổ tiền lương, thưởng vào chi
phí kinh doanh một cách hợp lý, đúng đắn.
Ghi chép sổ sách: Trên cơ sở Bảng thanh toán tiền lương, thưởng và các
chứng từ gốc đính kèm kế toán tiến hành vào Sổ nhật ký tiền lương, định kỳ
sẽ được kết chuyển sang Sổ cái. Đồng thời, kế toán tiền lương viết các phiếu
chi, séc chi lương kèm theo Bảng thanh toán tiền lương, thưởng được phê
duyệt bởi người có thẩm quyền và gửi cho thủ quỹ để thanh toán cho người
lao động.
Thanh toán tiền lương và bảo đảm những khoản lương chưa thanh toán:
Thủ quỹ tiến hành kiểm tra đối chiếu tên và số tiền được nhận giữa phiếu chi
hoặc séc chi lương với danh sách trên Bảng thanh toán tiền lương, tiền
thưởng; sau đó tiến hành chi lương cho nhân viên và yêu cầu người nhận ký
vào phiếu chi đầy đủ, đồng thời đóng dấu đã chi tiền và ký vào phiếu chi tiền.
mướn lao động.
• Tuyển chọn, thuê mướn.
• Lập báo cáo tình hình nhân sự.
• Lập sổ nhân sự.
• Lập hồ sơ nhân sự.
Bộ phận kế toán tiền lương:
• Tính lương, thưởng và lập bản thanh toán
lương & các khoản phải nộp.
• Ghi chép sổ sách kế toán.
• Thanh toán lương, thưởng các khoản liên
quan.
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD
1.3. KIỂM TOÁN CHU TRÌNH TIỀN LƯƠNG VÀ NHÂN VIÊN TRONG
KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.3.1. Vai trò của kiểm toán chu trình tiền lương nhân viên trong kiểm
toán Báo cáo tài chính
Kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên đóng vai trò quan trọng
trong cuộc kiểm toán BCTC do các nguyên nhân sau đây:
• Tiền lương và các khoản trích theo lương là khoản chi phí chiếm một tỷ
trọng khá lớn trong chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, liên
quan đến giá thành sản phẩm hàng hoá, dịch vụ.
• Chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương có ảnh hưởng rất lớn
tới việc đánh giá giá trị của khoản mục hàng tồn kho (chi phí sản xuất kinh
doanh dở dang). Nếu như việc hạch toán và tính toán tiền lương không đúng sẽ
dẫn đến sai sót trọng yếu trong việc đánh giá giá trị hàng tồn kho, sản phẩm dở
dang, lợi nhuận, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
• Tiền lương là một lĩnh vực dễ có thể xảy ra các hình thức gian lận
của nhân viên làm cho một số lượng tiền lớn của doanh nghiệp bị thất thoát
hoặc sử dụng không hiệu quả.
1.3.2. Một số sai phạm thường gặp trong kế toán tiền lương và nhân viên
thêm giờ vào chi phí mà không qua TK 334. Chưa tiến hành khấu trừ vào
lương đối với những khoản tiền bồi thường thiệt hại tổn thất do vi phạm của
nhân viên.
- Bảng chấm công và Bảng thanh toán lương chưa có đầy đủ chữ ký
cần thiết của người nhận, kế toán trưởng, người nhận hộ.
1.3.3. Mục tiêu kiểm toán chu trình tiền lương nhân viên
Mục tiêu chung: Kiểm toán viên phải thu thập các bằng chứng để khẳng
định tính trung thực và hợp lý của các nghiệp vụ tiền lương và nhân viên, các
thông tin tài chính trọng yếu có liên quan đến chu trình đều được trình bày
phù hợp với các nguyên tắc kế toán và chế độ tài chính hiện hành.
Bùi Thị Ngọc Anh 18 Kiểm toán 44
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD
Các mục tiêu chung khác:
- Mục tiêu về sự hiện hữu và có thực: Các nghiệp vụ tiền lương đã được
ghi chép thì thực sự xảy ra, các khoản chi phí tiền lương, tiền lương chưa
thanh toán thực sự tồn tại.
- Mục tiêu trọn vẹn: Các nghiệp vụ tiền lương đã xảy ra đều được ghi
chép đầy đủ.
- Mục tiêu về quyền và nghĩa vụ: Đối với nghiệp vụ tiền lương thì mục
tiêu này thường không quan trọng lắm.
- Mục tiêu đo lường và tính giá: Các số dư có liên quan là những giá trị
đã ghi chép về các nghiệp vụ tiền lương hợp lệ là đúng (mục tiêu này còn có ý
nghĩa quan trọng việc lập các bản báo cáo khoản thuế phải nộp khác có liên
quan tới tiền lương).
- Mục tiêu phân loại và trình bày: Tất cả các chi phí tiền lương và các
khoản phải thanh toán cho CNV phải được trình bày vào các tài khoản thích
hợp.
- Mục tiêu đúng kỳ: Đây là một trong những mục tiêu rất quan trọng,
KTV kiểm tra tính kịp thời trong việc ghi sổ các nghiệp vụ về chi phí tiền
lương, có chi phí tiền lương của kỳ trước bị ghi vào kỳ này hoặc chi phí tiền
ngành nghề kinh doanh của khách, bằng cách: trao đổi trực tiếp với Ban giám
đốc (BGĐ) của khách hàng hoặc với nhân viên, với những kiểm toán viên tiền
nhiệm, những người hoạt động trong cùng ngành nghề…Dựa trên những hiểu
biết chung về nền kinh tế, lĩnh vực hoạt động của đơn vị, KTV tìm hiểu về
khía cạnh đặc thù: cơ cấu tổ chức, dây chuyền công nghệ, bộ máy kế toán, các
nghiệp vụ có tác động đến BCTC. Bên cạnh đó KTV phải xem xét lại kết quả
cuộc kiểm toán năm trước và hồ sơ kiểm toán chung, tham quan nhà xưởng,
nhận diện các bên hữu quan, dự kiến nhu cầu chuyên gia bên ngoài. KTV tìm
Bùi Thị Ngọc Anh 20 Kiểm toán 44
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD
hiểu cơ chế tiền lương của đơn vị (cách tính lương theo sản phẩm hay theo
thời gian) để có nhận định về chi phí tiền lương và các khoản trích theo
lương.
* Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng: Những
thông tin có được khi KTV tiếp xúc với BGĐ của khách hàng giúp cho KTV
nắm bắt được các quy trình mang tính pháp lý ảnh hưởng đến hoạt động sản
xuất kinh doanh của đơn vị: Giấy phép thành lập và điều lệ công ty; các
BCTC, Báo cáo kiểm toán, thanh tra hay kiểm tra của năm hiện hành hoặc
trong một vài năm trước; Biên bản các cuộc họp cổ đông, Hội đồng quản trị
và BGĐ; các hợp đồng và cam kết quan trọng. Dựa trên những hiểu biết về
BCTC, hoạt động kinh doanh của khách hàng KTV xác định các nghi vấn về
năng lực hoạt động liên tục của công ty khách hàng, và đánh giá các sai số có
thể có trên BCTC của doanh nghiệp từ đó có thể ước lượng các sai số cho các
khoản mục. Đối với chu trình tiền lương và nhân viên KTV có thể đánh giá về
chính sách lao động và tiền lương, về tình hình biến động nhân sự, xu hướng
biến động quỹ lương để có hướng kiểm tra nhất định.
* KTV áp dụng các thủ tục phân tích: để xác định nội dung cơ bản của
cuộc kiểm toán: thủ tục phân tích bao gồm thủ tục phân tích ngang (để tìm ra
những biến động bất thường: so sánh số liệu tiền lương kỳ này với kỳ trước,
so sánh số liệu tiền lương thực tế với kế hoạch…) và thủ tục phân tích dọc (so
toán: Giúp cho việc thực hiện kiểm toán được sắp xếp một cách có kế hoạch,
phân công lao động hợp lý, dự kiến những thông tin liên quan cần thu thập,
đảm bảo thời gian hoàn thành công việc. Chương trình kiểm toán là những dự
kiến chi tiết về các công việc kiểm toán cần thực hiện, thời gian hoàn thành và
sự phân công lao động giữa các KTV cũng như dự kiến về những tư liệu,
thông tin liên quan cần sử dụng và thu thập.Chương trình kiểm toán được
thiết kế hợp lý sẽ hướng dẫn chi tiết cho các KTV thực hiện công việc trong
quá trình kiểm toán, cũng là phương tiện để chủ nhiệm kiểm toán quản lý và
giám sát cuộc kiểm toán. Chương trình kiểm toán được thiết kế thành 3 phần:
trắc nghiệm công việc, trắc nghiệm phân tích, trắc nghiệm trực tiếp số dư.
Bùi Thị Ngọc Anh 22 Kiểm toán 44
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD
Việc thiết kế các trắc nghiệm kiểm toán được thực hiện gồm: xác định thủ tục
kiểm toán, quy mô mẫu chọn, khoản mục được chọn và thời gian thực hiện.
Trong thực tế các công ty kiểm toán thường thiết kế chương trình kiểm toán
mẫu phù hợp với điều kiện thực tế.
1.3.4.2. Giai đoạn 2: Thực hiện kế hoạch kiểm toán.
Thực hiện kế hoạch kiểm toán là quá trình triển khai một cách chủ động
và tích cực các kế hoạch, chương trình kiểm toán nhằm đưa ra những ý kiến
xác thực về mức độ trung thực và hợp lý của BCTC trên cơ sở những bằng
chứng kiểm toán đầy đủ và tin cậy. KTV tiến hành thực hiện các thủ tục: thủ
tục kiểm soát; thủ tục phân tích; thủ tục kiểm tra chi tiết số dư. Đối với việc
thực hiện kế hoạch kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên KTV thực
hiện các công việc cụ thể:
* Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ trong chu trình tiền lương và
nhân viên: Để xác định mức độ tin cậy của kiểm toán viên đối với hệ thống
và đánh giá rủi ro kiểm soát liên quan đến tiền lương nhân viên, nhằm phát
hiện và ngăn chặn sai phạm xảy ra. Kết quả của thử nghiệm kiểm soát phải
chỉ ra rằng các nghiệp vụ tiền lương đã được tính toán và ghi sổ đúng đắn, các
Bảng tính lương, Sổ cái, Sổ nhật ký tiền lương và các báo cáo có liên quan
- Thanh toán tiền lương và các khoản liên quan: KTV cần kiểm tra tính
độc lập giữa chi trả lương, ký phiếu chi lương với việc tính lương. Để kiểm
soát các khoản chi không có thật thì trong việc chi trả thanh toán tiền lương,
thưởng chỉ thanh toán dựa trên các khoản nợ đã được ghi nhận. Các phiếu
chi, séc chi lương chi cho các công việc, sản phẩm hoặc dịch vụ đã hoàn
thành và nghiệm thu. Đối với những phiếu chi bất thường hoặc những phiếu
chi có số tiền lớn phải có chữ ký đầy đủ của các bên liên quan.
- Tiếp cận hệ thống sổ sách: KTV kiểm tra xem ở đơn vị Ban quản lý
có thể tạo ra các hàng rào cản trở những nhân viên không có phận sự tiếp cận
tới tài liệu của bộ phận nhân sự và bộ phận tiền lương, việc phân chia tách
bạch giữa các quyền phê duyệt, quyền ghi chép sổ sách, và quyền thanh toán
tiền lương.
Bùi Thị Ngọc Anh 24 Kiểm toán 44
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD
- Phân chia trách nhiệm: Kiểm tra có sự phân chia trách nhiệm giữa các
bộ phận nhân sự với bộ phận thanh toán tiền lương và các bộ phận hoạt động,
vì nếu có sự kết hợp giữa các bộ phận này dễ xảy ra các hình thức gian lận
trong việc tình toán tiền lương hoặc tăng mức lương, bậc lương vì mục đích
tư lợi hoặc tạo ra các nhân viên khống.
* Khảo sát các nghiệp vụ liên quan đến tiền lương nhân viên
Đối với kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên những bằng chứng
mà KTV thu thập từ nội bộ đơn vị là những bằng chứng có tính thuyết phục
nhất phục vụ cho kiểm tra các tài khoản tiền lương. Tuy nhiên KTV thường
không mất nhiều thời gian vào công việc khảo sát nghiệp vụ vì: Việc tính
lương và thanh toán lương nếu có sai sót thì công nhân viên đã phát hiện và
kiến nghị xem xét lại, các nghiệp vụ liên quan đến quỹ lương, BHXH...được
kiểm soát bởi các tổ chức: tổ chức BHXH, tổ chức công đoàn...Các thử
nghiệm kiểm soát thường được áp dụng:
Khảo sát tổng quan chu trình tiền lương và nhân viên: KTV kiểm tra báo
cáo về tình hình nhân sự, tình hình tăng giảm lao động; và kiểm tra tính chính