LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, trong tiến trình hội nhập và phát triển nền kinh tế thế giới, nền
kinh tế nước ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ, bước chuyển mình vượt
bậc. Với chính sách mở cửa và tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển, môi
trường kinh doanh ngày càng rộng mở, nhiều doanh nghiệp ra đời với quy mô
lớn, thu hút ngày càng đông đảo sự quan tâm của các nhà đầu tư, của những
người quan tâm tới tình hình tài chính của doanh nghiệp. Có được điều đó là sự
đóng góp không nhỏ của ngành kiểm toán.
CPA Việt Nam là một Công ty kiểm toán tuy còn non trẻ nhưng đang từng
bước khẳng định được vị trí của mình trên thị trường kiểm toán còn khá mới mẻ
và nhiều thách thức ở nước ta. Là một sinh viên sắp ra trường chuyên ngành kiểm
toán, việc được thực tập ở CPA Việt Nam đã giúp em có được 1 cái nhìn tổng
quan về thị trường kiểm toán ở nước ta.
Những kết luận của kiểm toán viên về tính trung thực và hợp lý của Báo
cáo tài chính trong cuộc kiểm toán đóng vai trò quan trọng đối với quyết định của
các nhà đầu tư, đối với sự phát triển lành mạnh của doanh nghiệp. Để đưa ra
những kết luận đó, kiểm toán viên phải thu thập những bằng chứng kiểm toán đầy
đủ và có giá trị. Việc thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán diễn ra trong
suốt cuộc kiểm toán, là cơ sở chứng minh cho các báo cáo kiểm toán. Với tầm
quan trọng đó của việc thu thập bằng chứng kiểm toán em đã lựa chọn đề tài:
“Vận dụng các phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm
toán báo cáo tài chính do Công ty hợp danh kiểm toán Việt Nam thực hiện”
để viết chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình.
Chuyên đề gồm có 3 phần:
Phần I: Cơ sở lý luận về bằng chứng kiểm toán và các phương pháp
thu thập bằng chứng kiểm toán.
Phần II: Thực trạng việc áp dụng các phương pháp thu thập bằng
1
chứng kiểm toán trong kiểm toán Báo cáo tài chính tại Công ty hợp danh
kiểm toán Việt Nam
Phần III: Một số nhận xét và những kiến nghị nhằm nâng cao chất
chính là quá trình thu thập bằng chứng.Từ đó có thể thấy mỗi bước trong trình tự
chung này đều hướng tới bằng chứng cho những ý kiến kết luận của kiểm toán
viên.
3
1.2 Khái niệm và phân loại BCKT
1.2.1.Khái niệm BCKT
Báo cáo kiểm toán đã đưa ra ý kiến xác nhận về tính trung thực và hợp lý
của báo cáo tài chính đơn vị được kiểm toán. Để đánh giá, nhận xét và đưa ra ý
kiến về báo cáo tài chính của đơn vị đã được kiểm toán, kiểm toán viên cần thu
thập các bằng chứng kiểm toán làm cơ sở cho những kết luận của mình. BCKT
quyết định tính đúng đắn, chính xác các nhận xét của KTV, quyết định sự thành
công của cuộc kiểm toán. Việc thu thập BCKT là trung tâm của cuộc kiểm toán.
Theo Chuẩn mực kiểm toán số 500 ban hành theo quyết định số
219/2000/QĐ/BTC ngày 29/12/2000 của Bộ trưởng tài chính về BCKT ta có khái
niệm về BCKT như sau: “Bằng chứng kiểm toán là tất cả những tài liệu, thông tin
do kiểm toán viên thu thập được liên quan đến cuộc kiểm toán và dựa trên các
thông tin này kiểm toán viên hình thành nên ý kiến của mình”.
Như vậy, BCKT bao gồm cả thông tin nhân chứng và thông tin vật chứng
mà kiểm toán viên thu thập làm cơ sở cho ý kiến của mình về Báo cáo tài chính
được kiểm toán. BCKT có tính đa dạng. Các loại BCKT khác nhau sẽ có ảnh
hưởng khác nhau đến việc hình thành ý kiến kết luận kiểm toán. Do đó, kiểm toán
viên cần có nhận thức cụ thể về các loại bằng chứng một cách hữu hiệu khi thực
hành kiểm toán.
BCKT có một vai trò quan trọng, là cơ sở hình thành ý kiến kết luận kiểm
toán. Từ đó, sự thành công của toàn bộ cuộc kiểm toán phụ thuộc trước hết vào
việc thu thập và sau đó là đánh giá BCKT của kiểm toán viên. Việc kiểm toán
gồm có hai chức năng cả hai chặt chẽ đều liên quan đến bằng chứng. Thứ nhất, là
chức năng thu thập bằng chứng, thứ hai là đánh giá các bằng chứng. Một khi
kiểm toán viên không thu thập đầy đủ và đánh giá đúng các bằng chứng thích hợp
thì kiểm toán viên khó có thể đưa ra kết luận xác đáng về đối tượng được kiểm
doanh nghiệp, như các phiếu chi, phiếu xuất vật tư, hoá đơn bán hàng
5
Các sổ kế toán, báo cáo kế toán của doanh nghiệp lập
Những thông tin (lời nói, ghi chép..) của cán bộ quản lý, cán bộ nghiệp vụ
hoặc những giải trình của những người có liên quan trong đơn vị cho kiểm toán
viên…
BCKT do bên thứ 3 cung cấp từ các nguồn khác nhau
Các bằng chứng do những người bên ngoài đơn vị cung cấp trực tiếp cho
kiểm toán viên, như: các bảng xác nhận nợ phải trả của các chủ nợ ; Bảng xác
nhận các khoản phải thu của các khác nợ; hoặc số dư tiền gửi ngân hàng đã được
ngân hàng xác nhận….
Các bằng chứng được lập do đối tượng bên ngoài doanh nghiệp có liên
quan đến báo cáo tài chính của doanh nghiệp, như hoá đơn bán hàng cho doanh
nghiệp, số phụ ngân hàng…
Các ghi chép độc lập hoặc các báo cáo thống kê tổng hợp theo chuyên
ngành có liên quan đến doanh nghiệp…
Phân loại BCKT theo loại hình
Căn cứ vào loại hình hay còn gọi là dạng BCKT thì BCKT được chia thành
các loại sau:
Các bằng chứng vật chất là các bằng chứng mà kiểm toán viên thu thập
được trong quá trình thanh tra hoặc quá trình kiểm kê các tài sản hữu hình như:
hàng tồn kho, tài sản cố định hữu hình, tiền mặt, các loại chứng khoán…
Thuộc loại này gồm có các biên bản kiểm kê hàng tồn kho, biên bản kiểm
kê quỹ tiền mặt, các chứng khoán, biên bản kiểm kê TSCĐ hữu hình….
Các bằng chứng vật chất có độ tin cậy cao nhất, bởi vì bằng chứng vật chất
được đưa ra từ việc kiểm tra trực tiếp để xác minh tài sản có thực hay không
Các bằng chứng tài liệu: là các bằng chứng mà kiểm toán viên thu thập
được qua việc cung cấp tài liệu, thông tin cảu các bên liên quan theo yêu cầu của
kiểm toán viên.
Thuộc loại này gồm:
của bộ phận này có thể vẫn hữu ích cho kiểm toán viên độc lập cần quan tâm đến
kết quả kiểm toán nội bộ khi chúng có liên quan đến công việc của mình
Tư liệu của các kiểm toán viên khác: Vấn đề này phát sinh khi kiểm toán
báo cáo tài chính của một đơn vị có nhiều bộ phận (chi nhánh, công ty con, công
ty liên doanh hay công ty thành viên của tập đoàn…) đã được kiểm toán bởi các
kiểm toán viên khác. Trong trường hợp này, kiểm toán viên kiểm toán cho đơn vị
đó (gọi là kiểm toán viên chính) phải chịu trách nhiệm về ý kiến của mình đối với
báo cáo tài chính của toàn đơn vị. Thay vì phải thực hiện lại công việc kiểm toán
tại các bộ phận, kiểm toán viên chính có thể sử dụng công việc của các kiểm toán
viên khác. Để sử dụng tư liệu của kiểm toán viên khác, kiểm toán viên chính phải
xác định ảnh hưởng của công việc do kiểm toán viên khác thực thi đến cuộc kiểm
toán của mình.
Tư liệu của các bên hữu quan: Bên liên quan và những mối quan hệ với các
bên liên quan có ảnh hưởng lớn đến nhận định của người sử dụng báo cáo tài
chính. Thông tin về các bên này cần phải được công bố những vấn đề cần thiết để
giúp người sử dụng hiểu được về bản chất của các mối liên hệ và những nhiệm vụ
phát sinh giữa các bên liên quan.
2 TÍNH THUYỂT PHỤC CỦA BCKT
Trong thực tế kiểm toán, trên cơ sở thu thập đầy đủ và đánh giá BCKT,
kiểm toán viên sẽ đưa ra ý kiến kết luận của mình về Báo cáo tài chính của Công
ty khách hàng. Do đó, BCKT có ảnh hưởng trực tiếp đến kết luận của kiểm toán
viên. Vấn đề đặt ra là cần phải thu thập được những BCKT có tính thuyết phục.
Tính thuyết phục của BCKT được quyết định bởi 2 tính chất quan trọng sau:
2.1.Tính hiệu lực
Có hiệu lực hay có giá trị là yêu cầu của BCKT thể hiện chất lượng hay
mức độ đáng tin cậy của BCKT.
Yêu cầu có hiệu lực là thước đo chất lượng BCKT đã thu thập được, do đó
nó chỉ phụ thuộc vào các thể thức kiểm toán được lựa chọn là chủ yếu chứ nó
8
không phụ thuộc vào quy mô mẫu được chọn kiểm toán.
về vấn đề đang tìm hiểu sẽ ảnh hưởng đến độ tin cậy của các bằng chứng đạt
được.
2.2.Tính đầy đủ
Yêu cầu này liên quan đến số lượng BCKT cần thiết, chủ yếu là cỡ mẫu và
thời gian thực hiện các thủ tục kiểm toán. Đây là một vấn đề không có thước đo
chung, không có bất kỳ một chuẩn mực nào quy định một cách cụ thể bao nhiêu
bằng chứng là đủ mà nó phụ thuộc vào sự suy đoán nghề nghiệp, sự phán xét chủ
quan của kiểm toán viên.
Những yếu tố ảnh hưởng đến tính đầy đủ của BCKT:
Thứ nhất là Tính hiệu lực của bằng chứng: Bằng chứng có độ tin cậy
càng thấp thì càng cần thu thập nhiều. Một (một số ít) bằng chứng có độ tin cậy
thấp chưa đủ để có thể nhận định một cách xác đáng về đối tượng kiểm toán cụ
thể.
Thứ hai là Tính trọng yếu: Đối tượng cụ thể được kiểm toán càng trọng
yếu thì số lượng BCKT cần thu thập càng nhiều: mục tiêu của kiểm toán tài chính
là khẳng định báo cáo tài chính được trình bày trung thực trên mọi khía cạnh
trọng yếu. Kiểm toán viên phải phát hiện mọi sai phạm có ảnh hưởng trọng yếu
đến báo cáo tài chính. Các đối tượng cụ thể được xem là trọng yếu thường là các
khoản mục có giá trị lớn. Nếu sai sót xảy ra ở những đối tượng này có thể sẽ ảnh
hưởng trọng yếu đối với báo cáo tài chính. Ngược lại, ở các khoản mục có quy
mô nhỏ nếu có sai phạm thì khó ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính.
Thứ ba là Mức độ rủi ro: Những đối tượng cụ thể (khoản mục, bộ phận,
nghiệp vụ…) được đánh giá là khả năng rủi ro lớn thì lượng BCKT phải thu thập
càng nhiều và ngược lại.
2.3.Một số tính chất khác.
Ngoài 2 tính chất cơ bản trên, bằng chứng được coi là có tính thuyết phục
10
khi thoả mãn các tiêu chí sau:
Bằng chứng phải thu thập kịp thời, đúng lúc: Tính đúng lúc của BCKT
có thể dựa vào hoặc thời gian bằng chứng được thu thập hoặc thời kỳ được kiểm
Nhân tố thuộc về dạng của BCKT, các BCKT vật chất có độ tin cậy cao
hơn bằng chứng tài liệu, bằng chứng tài liệu có độ tin cậy cao hơn các bằng
chứng thu thập qua phỏng vấn
Nhân tố thuộc về hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp các bằng
chứng thu nhận ở các bộ phận có hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh sẽ có độ
tin cậy cao hơn ở các bộ phận có hệ thống kiểm soát nội bộ yếu.
Nhân tố thuộc về tính trọng yếu trong kiểm toán. Bằng chứng thu được
ở bộ phận có tính trọng yếu càng cao thì càng có giá trị và độ tin cậy cao hơn
Nhân tố liên quan đến mức độ rủi ro trong kiểm toán, các bằng chứng
thu thập được ở những bộ phận có mức độ rủi ro cao thì càng tăng tính thuyết
phục của bằng chứng đó.
3.2. Những điều cần lưu ý khi xét đoán BCKT
Khi xét đoán BCKT, kiểm toán viên cần phải kết hợp nhiều loại bằng
chứng và mối liên quan của các bằng chứng đó đối với một vấn đề, hay một nhận
định để độ tin cậy của các bằng chứng cao hơn và đủ tính thuyết phục.
Trong trường hợp ngược lại, nếu nhiều bằng chứng (từ hai trở lên) liên
quan đến một vấn đề mà có kết quả trái ngược nhau thì kiểm toán viên vẫn phải
xem xét vấn đề một cách thận trọng để có cơ sở giải thích được sự khác biệt đó
bằng cách mở rộng diện điều tra, khảo sát để có khẳng định cuối cùng.
Khi BCKT chưa thật tin cậy, thì không được sử dụng làm chứng cứ cho
những kết luận. Vì điều đó có thể dẫn tới kết luận sai lầm của kiểm toán viên
Khi kiểm toán viên còn có những nghi ngờ nhất định về các bản báo cáo
tài chính của doanh nghiệp, thì cần phải tiếp tục tìm kiếm những bằng chứng đầy
đủ và có giá trị để chứng minh hoặc giải toả những nghi ngờ của mình. Nếu
12
trường hợp không thể thu thập đầy đủ những BCKT,kiểm toán viên không thể ghi
ý kiến nhận xét hoàn hảo về báo cáo tài chính của doanh nghiệp (báo cáo kiểm
toán chấp nhận toàn bộ).
Kiểm toán viên cũng cần phải hết sức thận trọng trong khi xét đoán và sử
dụng những bằng chứng có tác dụng khẳng định kết luận này nhưng lại phủ nhận
Hàng tồn kho gửi trong công ty lưu kho Công ty lưu kho
Giá trị bằng tiền của bảo hiểm nhân thọ Công ty bảo hiểm
Công nợ
Khoản phải trả Chủ nợ
Phiếu nợ phải trả Người cho vay
Trả trước của khách hàng Khách hàng
Cầm cố phải trả Người nhận cầm cố
Trái phiếu phải trả Người giữ trái phiếu
Vốn chủ sở hữu Người giữ sổ đăng ký và đại lý chuyển nhượng
Cổ phần đang lưu hành Cổ đông
Các loại thông tin khác
Loại bảo hiểm Công ty bảo hiểm
Nợ ngoài ý muốn Luật sư của công ty, ngân hàng
Hợp đồng trái khoán Người giữ trái khoán
Vật ký quỹ cho chủ nợ Chủ nợ
Thư xác nhận (sau khi đã có ký, duyệt của đại diện đơn vị được kiểm toán)
có thể được kiểm toán viên gửi trực tiếp đến người thứ ba để nhờ xác nhận thông
tin theo yêu cầu và sau đó đượcgửi trở lại theo địa chỉ của kiểm toán viên. Thông
14
thường, đơn vị được kiểm toán có thể gửi thư nhờ xác nhận đến người thứ ba theo
yêu cầu của kiểm toán viên, nhưng thư trả lời vẫn phải gửi trực tiếp về địa chỉ của
kiểm toán viên và kiểm toán viên phải kiểm soát được toàn bộ việc gửi và nhận
các xác nhận. Quy trình nhằm đảm bảo tính độc lập của kỹ thuật xác nhận đối với
đơn vị kiểm toán.
Phương pháp này được áp dụng hầu như trong tất cả các cuộc kiểm toán.
Ưu điểm của kỹ thuật xác nhận là bằng chứng thu được có độ tin cậy cao nếu
kiểm toán viên thực hiện đúng quy trình và đảm bảo các yêu cầu:
Thông tin cần phải được xác nhận theo yêu cầu của KTV
Sự xác nhận phải được thực hiện bằng văn bản
Sự độc lập của người xác nhận thông tin
chứng về tính có thật của mọi nghiệp vụ được ghi sổ
Kỹ thuật kiểm tra tài liệu tương đối thuận tiện do tài liệu thường là có sẵn,
chi phí để thu thập bằng chứng cũng ít hơn các kỹ thuật khác. Tuy nhiên, kiểm tra
tài liệu cũng có những hạn chế nhất định. Độ tin cậy của tài liệu minh chứng phụ
thuộc vào nguồn gốc của bằng chứng (hay sự độc lập của tài liệu so với đơn vị
được kiểm toán); các tài liệu cung cấp có thể đã bị sửa chữa, giả mạo làm mất
tính khách quan nên cần có sự kiểm tra, xác minh bằng các phương pháp kỹ thuật
khác. BCKT thu được từ kỹ thuật này gọi là kiểu mẫu tài liệu chứng minh
4.4. Phương pháp quan sát
Là phương pháp được sử dụng để đánh giá một thực trạng hay hoạt động
của đơn vị được kiểm toán. Ví dụ, kiểm toán viên có thể đi thị sát đơn vị được
kiểm toán để có ấn tượng chung về máy móc thiết bị của đơn vị, quan sát tính cũ
mới cũng như sự vận hành của máy móc; hay quan sát các cá nhân thực hiện
nhiệm vụ để đánh giá về thức tế hoạt động của đơn vị…
Kỹ thuật này rất hữu ích trong nhiều phần hành của cuộc kiểm toán, bằng
chứng thu được đáng tin cậy. Tuy nhiên, bản thân bằng chứng thu được từ kỹ
16
thuật này chưa thể hiện tính đầy đủ nên cần đi kèm với kỹ thuật khác. Kỹ thuật
này chỉ cung cấp bừng chứng về phương pháp thực thi công việc ở thời điểm
quan sát, không chắc chắn có được thực hiện ở các thời điểm khác hay không.
Bằng chứng thu được từ kỹ thuật này goi là kiểm mẫu quan sát.
4.5 Phương pháp phỏng vấn
Là quá trình kiểm toán viên thu thập thông tin bằng văn bản hay bằng lời
nói qua việc thẩm vấn những người hiểu biết về vấn đề kiểm toán viên quan tâm.
Ví dụ thẩm vấn khách hàng về những quy định kiểm soát nội bộ, hoặc hỏi nhân
viên về sự hoạt động của các quy chế này.
Quá trình thu thập bằng chứng qua phỏng vấn thường bao gồm ba giai
đoạn:
Giai đoạn thứ nhất: Lập kế hoạch phỏng vấn. Kiểm toán viên phải xác
định đượec mục đích, đối tượng và nội dung cần phỏng vấn (Có thể cụ thể hoá ra
cộng trên sổ chi tiết và sổ cái,…. Đối với kiểm tra tính chính xác của việc ghi sổ,
kiểm toán viên đối chiếu các chứng từ có liên quan để xem cùng một thông tin
được phản ánh trên chứng từ khác nhau, ở những nơi khác nhau.
Kỹ thuật này chỉ quan tâm đến tính chính xác thuần tuý về mặt số học,
không chú ý đến sự phù hợp của phương pháp tính được sử dụng. Do đó kỹ thuật
này thường được sử dụng cùng với các kỹ thuật khác nhưu kiểm tra tài liệu, kiểm
tra vật chất, phân tích…trong quá trình thu thập bằng chứng.
Ưu điểm của kỹ thuật này là cung cấp bằng chứng có độ tin cậy cao, xét về
mặt số học. Tuy nhiên, nhược điểm của kỹ thuật này là các phép tính và phân bổ
đôi khi khá phức tạp, tốn thời gian đặc biệt khi đơn vị được kiểm toán có quy mô
lớn, loại hình kinh doanh đa dạng, luồng tiền ra vào rất lớn…Trong trường hợp
đố, để thực hiện kỹ thuật này kiểm toán viên cần được trang bị máy tính cá nhân
nhiều số, máy tính xác tay…BCKT thu được khi áp dụng kỹ thuật tính toán gọi là
kiểu mẫu chính xác số học.
18
4.7. Phương pháp phân tích
Là quá trình so sácnh, đối chiếu, đánh giá các mối quan hệ để xác định tính
hợp lý của các số dư trên tài khoản. Các mối quan hệ bao gồm quan hệ giữa các
thông tin tài chính với nhau và quan hệ giữa các thông tin tài chính và các thông
tin phi tài chính. Do đó kỹ thuật phân tích gồm 3 nội dung: dự đoán, so sánh và
đánh giá.
Dự đoán: là việc ước đoán về số dự tài khoản, giá trị tỉ suất hoặc xu
hường…
So sánh: là việc đối chiếu ước đoán trên với số báo cáo.
Đánh giá: là việc sử dụng các phương pháp chuyên môn, và các kỹ thuật
khác (phỏng vấn, quan sát) để phân tích và kết luận về các chênh lệch khi so sánh.
Kỹ thuật phân tích được sử dụng để thu thập bằng chứng kiểm toán có hiệu lực
gồm ba loại: kiểm tra tính hợp lý, phân tích xu hường và phân tích tỉ suất.
Kiểm tra tính hợp lý thường bao gồm những so sánh có bản như so sánh
giữa số liệu thực tế và số liệu kế hoạch, dự toán…Từ kết quả so sánh việc điều tra
Thứ nhất, chọn loại hình phân tích phù hợp. Nhìn chung các loịa hình
phân tích áp dụng hiệu quả đối với các tài khoản trong báo cáo kết quả kinh
doanh và các loại nghiệp vụ liên quan hơn là đối với các tài khoản trong bảng cân
đối kế toán. Các tài khoản trong báo cáo kết quả kinh doanh dễ dự đoán hơn,
trong khi đó tài khoản trong bản cân đối kế toán thường kết hợp nhiều loại hình
nghiệp vụ phức tạp. Khi lựa chọn sử dụng loại hình phân tích, kiểm toán viên có
thể tham khảo hướng dẫn chung ở bảng số 4.2
Bảng số 4.2. hướng dẫn chọn loại hình phân tích
20
Loại hình phân tích
Đối tượng kiểm toán
Phân tích xu
hướng
Phân tích tỉ suất Kiểm tra tính hợp lý
Khoản mục trong bảng cân
đối kế toán
Hạn chế Hữu ích Hạn chế
Khoản mục trong báo cáo kết
quả kinh doanh
Hữu ích Rất hữu ích Rất hữu ích
Thứ hai, đưa ra mô hình để dự đoán những số liệu tài chính hoặc những xu
hướng hay những tỉ suất về số liệu tài chính và số liệu hoạt động. Vấn đề này bao
gồm những bước công việc sau:
Xác định các biến tài chính và các biến hoạt động cũng như mối quan hệ
có thể dự đoán được giữa hai loại biến này. Ví dụ, xét trong chu trình
kiểm toán tiền lương và nhân công thì biến tài chính có thể là tổng quỹ
lương thực hiện trong một niên độ kế toán, biến hoạt động có thể là tổng
số sản phẩm sản xuất ra tỏng kỳ, hay tổng số thơờ gian lao động của cán
bộ công nhân viên trong đơn vị được kiểm toán.
Đưa ra mô hình để kết hợp thông tin. Ở nội dung này, kiểm toán viên
BCKT như dự tính. Khi đó kiểm toán viên phải điều tra tính chất và nguyên nhân
của chênh lệch và xem xét ảnh hưởng của nó tới hoạt động kinh doanh của đơn vị
được kiểm toán.
Nếu chênh lệch thấp hơn đáng kể mức chênh lệch theo kế hoạch, kiểm toán
viên kết luận rằng mục tiêu kiểm toán đã đạt được. Tuy nhiên, kiểm toán viên vẫn
cần xem xét xem liệu những phát hiện của kiêểm toán viên có thu được từ những
theo dõi thích hợp đối với kiểm soát nội bộ, hệ thống thông tin và các vấn đền
khác hay không.
Nếu chênh lệch này xấp xỉ độ chênh lệch theo kế hoạch, kiểm toán viên sẽ
sử dụng đánh giá của mình để xem xét có nên:
Chấp nhận chênh lệch này là chênh lệch kiểm toán và chuyển nó vào
bảng tóm tắt những chênh lệch kiểm toán chưa được điều chỉnh:
22
Tiếp tục hoàn thiện dự đoán của mình, đưa vào nhiều biến hơn và đưa ra
ít số xấp xỉ hơn, cho đến khi số chênh lệch đạt đến mức có thể chấp
nhận được.
Tiến hành kiểm tra chi tiết
Ưu điểm của thủ tục phân tích là tương đối đơn giản, có hiệu quả vì ít tốn
thời gian, chi phí cho kiểm toán thấp mà vẫn có thể cung cấp bằng chứng về sự
đồng bộ, chuẩn xác và có giá trị về mặt kế toán; giúp kiểm toán viên đánh giá
được tổng thể không bị sa và các nghiệp vụ cụ thể. Thủ tục phân tích do đó được
sử dụng trong tất cả các giai đoạn của qui trình kiểm toán và được xem là rất hữu
ích. Tuy nhiên, khi áp dụng kỹ thuật này, kiểm toán viên cần lưu ý một số điểm:
Mối quan hệ bản chất giữa các chỉ tiêu được so sánh: việc phân tích sẽ
không có ý nghĩa nếu các chỉ tiêu không có mối liên hệ với nhau. Ngoaà
ra kỹ thuật này chỉ áp dụng đối với các chỉ tiêu đồng chất về nội dung
và phương pháp tính.
Đối với những khoản mục hay chỉ tiêu trọng yếu, kiểm toán viên không
thể chỉ sử dụng kỹ thuật phân tích đơn thuần mà cần kết hợp với các kỹ
thuật khác để tìm được bằng chứng thích hợp.
nhiên ; (d) chọn theo phán đoán của kiểm toán viên hay kết hợp các cách nói trên
5.4. Quyết định về thời gian hoàn thành các thể thức
Việc xác định thời gian của thể thức kiểm toán vó thể ngay từ khi kỳ kế toán mà
báo cáo tài chính phản ánh chưa kết thúc; hoặc có thể rất lâu sau kỳ kế toán đó kết
thúc. Tuy nhiên, thông thường khách hàng muốn công ty kiểm toán hoành thành
kiểm toán trong khoảng thời gian không quá một quý kể từ khi kê toán kết thúc
6. THU THẬP BCKT TRONG CÁC GIAI ĐOẠN CỦA QUÁ TRÌNH KIỂM
TOÁN BCTC
24
6.1.Thu thập BCKT trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
Lập kế hoạch kiểm toán không chỉ xuất phát từ yêu cầu của cuộc kiểm toán
mà còn là nguyên tắc cơ bản trong kiểm toán đã được quy định thành chuẩn mực
và đòi hỏi kiểm toán viên phải tuân theo đầy đủ nhằm đảm bảo kiểm toán có hiệu
quả và chất lượng. Việc lập kế hoạch kiểm toán giúp kiểm toán viên thu thập
được các bằng chứng đầy đủ và có giá trị làm cơ sở để đưa ra ý kiến xác đáng về
các báo cáo tài chính, từ đó hạn chế những sai sót, nâng cao hiệu quả công việc và
giữ vững được uy tín của mình đối với khách hàng. Quá trình lập kế hoạch kiểm
toán gồm 6 bước
Sơ đồ 6.1. Các bước lập kế hoạch kiểm toán
Bước 1: Chuẩn bị kế hoạch kiểm toán
Mục đích của bước công việc này đòi hỏi kiểm toán viên phải đánh giá khả
năng chấp nhận kiểm toán. Kiểm toán viên sẽ xem xét hệ thống kiểm soát chất
lượng, tính liêm chính của Ban Giám đốc khách hàng. Từ những thông tin thu
được, kiểm toán viên có thể cân nhắc khả năng chấp nhận hay tiếp tục kiểm toán
cho khách hàng. Tiếp theo, kiểm toán viên cần xác định đối tượng sử dụng và
25
Thu thập thông tin cơ sở
Thu thập thông tin về các nghĩa
vụ pháp lý của khách hàng
Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro