70 Kiểm toán chu trình hàng tồn kho trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty Hợp danh kiểm toán Việt Nam (CPA VIETNAM) thực hiện - Pdf 21

MỤC LỤC
THỦ TỤC...............................................................................................................36
Ngày................................................................................................................36
I. Tổng quát....................................................................................................36
II. Quy trình kiểm toán.................................................................................36
Thành phẩm...........................................................................................................48
Thứ tư về vấn đề sử dụng các thủ tục phân tích.........................................78
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1. Kiểm toán theo chu trình.....................................................................4
THỦ TỤC...............................................................................................................36
Ngày................................................................................................................36
I. Tổng quát....................................................................................................36
II. Quy trình kiểm toán.................................................................................36
Thành phẩm...........................................................................................................48
Thứ tư về vấn đề sử dụng các thủ tục phân tích.........................................78
1
2
LỜI MỞ ĐẦU
Xuất phát từ lợi ích của hoạt động kiểm toán độc lập, trong 15 năm
qua, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến ngành kiểm toán độc lập, tạo
mọi điều kiện để kiểm toán độc lập Việt Nam phát triển. Ngành kiểm toán độc
lập Việt Nam tuy còn non trẻ song đã có những bước tiến bộ đáng kể. Năm
1991, Bộ Tài chính thành lập 2 công ty kiểm toán đầu tiên với 13 nhân viên,
đến nay đã có 105 công ty thuộc đủ các thành phần kinh tế. Một trong những
hoạt động nghiệp vụ cơ bản có tính chất truyền thống mà các công ty kiểm
toán độc lập chủ yếu cung cấp cho khách hàng đó là kiểm toán Báo cáo tài
chính, đó là sự xác minh và bầy tỏ ý kiến về Báo cáo tài chính của khách
hàng. Việc xác minh và bầy tỏ ý kiến một cách trung thực, hợp lý các báo cáo
tài chính luôn là mục đích của kiểm toán. Để đạt được mục đích đó, kiểm toán
cần phải kiểm tra, xem xét từng bộ phận cấu thành nên chúng trong đó có
khoản mục hàng tồn kho.

kiến nhận xét, góp ý của các thầy cô giáo để bài viết này hoàn thiện hơn.
Qua đây em xin gửi lời cám ơn trân trọng nhất đến thầy giáo-Thạc Sĩ
Phan Trung Kiên và toàn bộ Ban lãnh đạo cùng các nhân viên của công ty
CPA VIETNAM đã giúp đỡ em hoàn thành bài viết này.
2
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN KIỂM TOÁN CHU TRÌNH HÀNG TỒN KHO
TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
I. Tổng quan về kiểm toán hàng tồn kho trong kiểm toán báo cáo tài chính
1. Khái niệm về kiểm toán tài chính và cách thức tiếp cận kiểm toán
trong kiểm toán tài chính
1.1. Khái niệm kiểm toán tài chính
Thuật ngữ kiểm toán đầu tiên xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ III trước
Công nguyên, gắn liền với nền văn minh Ai cập và La mã cổ đại. Hình thức sơ
khai ban đầu của kiểm toán cổ điển là việc kiểm tra được thực hiện bằng cách
người soạn thảo các báo cáo và đọc cho một bên độc lập nghe. Ngày nay, kiểm
toán được hiểu là hoạt động “xác minh và bầy tỏ ý kiến về thực trạng được kiểm
toán bằng hệ thống phương pháp kỹ thuật của kiểm toán viên có trình độ nghiệp
vụ tương xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực”.
Kiểm toán tài chính là một trong các loại hình của kiểm toán, là hoạt
động đặc trưng nhất của kiểm toán nó biểu hiện cụ thể và sinh động nhất các
đặc trưng cơ bản của kiểm toán. Trong đó đối tượng của kiểm toán tài chính
là các Bảng khai tài chính. Bảng khai tài chính là các bảng tổng hợp chứa
đựng những thông tin tài chính được lập ra tại một thời điểm cụ thể trên cơ sở
những tài liệu kế toán tổng hợp và chi tiết theo các quy tắc, các chuẩn mực
hay các quy đinh pháp lý.
1.2. Cách thức tiếp cận kiểm toán trong kiểm toán tài chính
Việc xác minh và đưa ra các ý kiến nhận xét xác đáng về các Bảng khai
tài chính được kiểm toán luôn là cái đích mà kiểm toán viên và công ty kiểm
toán hướng tới. Để đạt được mục đích của mình, kiểm toán viên và công ty

tiền
4
Như vậy có thể thấy, hàng tồn kho có quan hệ tất cả các chu trình khác, ở
góc độ trực tiếp hay gián tiếp. Đặc biệt, chu trình hàng tồn kho có mối quan hệ
mật thiết đối với các chu trình mua hàng-thanh toán, tiền lương-nhân viên, bán
hàng-thu tiền. Đó là những chu trình quan trọng đối với cả khách hàng và công
tác kiểm toán. Cũng chính từ những mối liên hệ đó mà kết quả của chu trình
hàng tồn kho không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với kế toán và kiểm toán.
1.3. Kiểm toán chu trình hàng tồn kho
 Đặc điểm hàng tồn kho.
Hàng tồn kho là tài sản lưu động của doanh nghiệp biểu hiện dưới hình
thái vật chất cụ thể. Trong doanh nghiệp thương mại, hàng tồn kho bao gồm
những hàng hoá mua về chờ bán. Còn trong doanh nghiệp sản xuất, hàng tồn
kho có thể bao gồm nguyên nhiên, vật liệu, công cụ dụng cụ để sử dụng trong
quá trình sản xuất kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ; sản phẩm dở dang: sản
phẩm hoàm thànhg chờ bán.Ngoài ra còn một số vật tư hàng hoá thuộc quyền
sở hữu của doanh nghiệp nhưng vì những lý do khác nhau nên không nằm
trong kho như: hàng đang đi đường, hàng gửi bán…
Khác với các loại tài sản khác của doanh nghiệp như tiền mặt, tiền gửi,
tài sản cố định vô hình, hữu hình…. hàng tồn kho có những đặc điểm rất
riêng. Hàng tồn kho có thể có rất nhiều loại, có vai trò, công dụng cũng khác
nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó đòi hỏi
công tác tổ chức quản lý, hạch toán kế toán cũng như công tác kiểm toán đối
với khoản mục này cũng có những đặc thù riêng.Hàng tồn kho luôn là trung
tâm của sự chú ý trong cả lĩnh vực kế toán và kiểm toán, cũng như trong các
cuộc thảo luận của các chuyên gia kế toán. Các lý do khiến cho hàng tồn kho
trở nên đặc biệt quan trọng bao gồm:
- Hàng tồn kho thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản của
doanh nghiệp. Do đó dễ xảy ra gian lận và sai sót gây ảnh hưởng trọng yếu
trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp.

cho việc kiểm tra và nhận hàng.
 Chức năng lưu kho.
Vật tư, hàng hoá sau khi được bộ phận nhận hàng kiểm nhận sẽ được
chuyển đến kho, tại kho hàng sẽ được kiểm tra về chất lượng và số lượng sau
đó nhập kho. Thủ kho lập phiếu nhập kho và sau đó thông báo cho phòng kế
toán về số lượng hàng nhận và cho nhập kho.Vật tư, hàng hoá nhập kho lúc
này thuộc trách nhiệmquản lý của bộ phận kho, bộ phận này chỉ xuất kho khi
có phiếu yêu cầu sử dụng vật tư, hàng hoá được phê duyệt.
 Chức năng xuất kho vật tư hàng hoá
Bộ phận kho phải chịu trách nhiệm về số hàng màmình quản lý. Do vậy
trong bất cứ trường hợp xuất hàng nào thì bộ phận kho đều đòi hỏi phải có phiếu
yêu cầu sử dụng vật tư, hàng hoá đã được phê duyệt từ các đơn vị sử dụng.
Phiếu yêu cầu này thường được lập làm 3 liên. Đơn vị có yêu cầu sẽ
giữ một liên; một liên sẽ giao cho bộ phận kho làm căn cứ xuất và hạch toán
kho; và một liên còn lại sẽ chuyển cho phòng kế toán để ghi sổ kế toán
 Chức năng sản xuất.
Sản xuất là giai đoạn quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp, đòi hỏi doanh nghiệp phải kiểm soát chặt chẽ bằng lịch
trình và kế hoạch sản xuất để đảm bảo rằng doanh nghiệp sẽ sản xuất những
hàng hoá đáp ứng đúng và đủ nhu cầu của khách hàng, thị trường. Trong giai
đoạn này, trách nhiệm quản lý đối với hàng hoá thuộc về những người giám
sát quá trình sản xuất như đốc công, quản lý phân xưởng. Những người có
trách nhiệm giám sát quá trình sản xuất có trách nhiệm kiểm soát và nắm bắt
tất cả tình hình và quá trình sản xuất kể từ khi nguyên vật liệu, vật tư được
chuyển đến phân xưởng cho đến khi các sản phẩm sản xuất hoàn thành. Sản
phẩm hoàn thành sẽ được kiểm tra chất lượng sau đó sẽ được nhập kho hoặc
chuyển đi tiêu thụ.
7
 Chức năng lưu kho thành phẩm.
Thành phẩm hoàn thành sau khi được kiểm định chất lượng sẽ được

tác kiểm toán, các kiểm toán viên thường tốn nhiều thời gian và công sức và
chi phí cho việc kiểm toán khoản mục này.
- Hàng tồn kho trong doanh nghiệp thường được bảo quản, cất trữ ở
nhiều địa điểm khác nhau và thậm chí còn do nhiều người nhiều bộ phận quản
lý. Do vậy việc kiểm tra, kiểm soát nhằm thu thập các bằng chứng kiểm toán
tin cậy luôn luôn là vấn đề khó khăn đối với các kiểm toán viên.
- Việc đánh giá chất lượng cũng như giá trị của hàng tồn kho cũng là
vấn đề đặc biệt khó khăn đối với các kiểm toán viên nhất là việc đánh giá chất
lượng, giá trị của các loại hàng tồn kho đặc biệt như các loại hoá chất, kim
khí, các tác phẩm nghệ thuật, phần mềm vi tính…. Đôi khi việc đánh giá giá
trị, chất lượng của các loại hàng tồn kho phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của
khách hàng, do đó gây khó khăn cho kiểm toán viên trong việc đưa ra ý kiến
cho khoản mục này.
II. Quy trình kiểm toán chu trình hàng tồn kho trong kiểm toán báo cáo
tài chính
1. Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán
1.1. Xác định mục tiêu và phạm vi kiểm toán
Khi thực hiện công tác kiểm toán, kiểm toán viên thường hướng tới
những mục tiêu đặc thù trên cả hai phương diện nghiệp vụ và số dư hàng tồn
kho. Cụ thể:
+ Đối với mục tiêu hiện hữu và phát sinh: Kiểm toán viên quan tâm tới
các nghiệp vụ mua hàng đã ghi sổ có thể hiện số hàng hoá được mua trong kỳ
hay không, các nghiệp vụ kết chuyển hàng đã ghi sổ có thực sự biểu hiện cho
số hàng tồn kho được chuyển từ nơi này sang nơi khác hoặc từ loại này hay
9
loại khác hay không hoặc các nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá đã ghi có thực sự là
số hàng tồn kho đã sản xuất trong kỳ hay không. Trên phương diện số dư,
kiểm toán viên quan tâm đên sự tồn tại thực sự của khoản mục hàng tồn kho
được phản ánh trên Bảng cân đối kế toán.
+ Đối với mục tiêu về tính trọn vẹn: Kiểm toán viên quan tâm đến việc

cộng sổ, chuyển sổ phải chính xác, khớp đúng. Trên phương diện số dư thì số
liệu chi tiết về hàng tồn kho được tính toán chính xác, thống nhất giữa sổ chi
tiết với sổ cái và trên bảng cân đối kế toán.
 Phạm vi kiểm toán.
Đối với khoản mục hàng tồn kho, phạm vi kiểm được kiểm toán viên
xác định là các nghiệp vụ, số dư của khoản mục hàng tồn kho được trình bầy
trên Báo cáo tài chính. Tuy nhiên, do bản chất của việc kiểm tra và các hạn
chế vốn có của kiểm toán mà trong mọi cuộc kiểm toán phạm vi kiểm toán
thường bị giới hạn có thể do khách hàng hay do những điều kiện khách quan
hoặc chủ quan đối với công tác kiểm toán của các kiểm toán viên và công ty
kiểm toán. Do đó, phạm vi kiểm toán đối với chu trình hàng tồn kho còn được
kiểm toán viên giới hạn hẹp hơn, phạm vi mà kiểm toán viên thực hiện kiểm
toán đối với hàng tồn kho có thể chỉ là các nghiệp vụ trọng yếu, các nghiệp vụ
xảy ra trong một tháng, một quý hay một khoảng thời gian nhất định. Các thủ
tục kiểm toán cũng được thực hiện với số lượng thích hợp để kiểm toán chi
tiết số dư các khoản mục này: kiểm toán viên chỉ có thể thực hiện kiểm kê
hàng tồn kho tại một xí nghiệp, một hay một số kho của khách hàng, việc
kiểm tra chứng từ, sổ sách cũng chỉ được áp dụngnhững mẫu chọn cụ thể…
11
1.2. Thu thập thông tin ban đầu về hàng tồn kho
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA) 310 - Hiểu biết về tình
hình kinh doanh: “Để thực hiện kiểm toán Báo cáo tài chính, kiểm toán viên
phải có hiểu biết cần thiết, đầy đủ về tình hình kinh doanh nhằm đánh giá và
phân tích được các sự kiện, nghiệp vụ và thực tiễn hoạt động của đơn vị được
kiểm toán mà theo kiểm toán viên có ảnh hưởng trọng yếu đến Báo cáo tài
chính…”. Những thông tin ban đầu về hàng tồn kho sẽ cung cấp cho kiểm
toán viên sự nhìn nhận khái quát nhất để có những chuẩn bị tích cực cho công
tác kiểm toán.Thông thường khi tìm hiểu những thông tin ban đầu về hàng tồn
kho, kiểm toán viên thường quan tâm tới những vấn đề sau:
- Các đặc điểm quan trọng về sở hữu và quản lý :bao gồm loại hình

một khái niệm tuyệt đối, một sai phạm có quy mô nhất định có thể ảnh hưởng
trọng yếu đối với công ty này nhưng có thể không ảnh hưởng trọng yếu đối
với công ty khác. Khi tiến hành lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phải
tính toán được quy mô của trọng yếu.
- Về tính hệ trọng (mặt chất) khái niệm trọng yếu được xem xét với tính
hệ trọng của các nghiệp vụ. Trong quan hệ đó tất cả các khoản mục nghiệp vụ
được xem là trọng yếu bao gồm:
+ Các khoản mục nghiệp vụ có gian lận hoặc chứa đựng khả năng gian
lận như các nghiệp vụ đấu thầu, thanh lý tài sản, nghiệp vụ tiền mặt, các
nghiệp vụ bất thường, các nghiệp vụ phân chia quyền lợi…
+ Các nghiệp vụ, khoản mục có sai sót hệ trọng như: các khoản mục,
nghiệp vụ có sai sót ở qui mô lớn hoặc có chênh lệch lớn với các kỳ trước, các
nghiệp vụ vi phạm qui tắc kế toán và pháp lý nói chung, các khoản mục có sai
sót lặp lại nhiều lần, các nghiệp vụ là đầu mối hoặc gây hậu quả liên quan đến
nhiều khoản mục nghiệp vụ khác…
13
1.4. Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng đối với hàng
tồn kho
Theo Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC), hệ thống kiểm soát nội bộ là
một hệ thống chính sách và thủ tục được thiết lập nhằm đạt được bốn mục
tiêu sau: bảo vệ tài sản của đơn vị, bảo đảm độ tin cậy của các thông tin, bảo
đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý và bảo đảm hiệu quả của hoạt động.
Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng nói chung và cụ thể cho
từng đối tượng cụ thể như hàng tồn kho nói chung luôn là vấn đề quan tâm
của kiểm toán viên. Theo chuẩn mực kiểm toán được chấp nhận rộng rãi
(GASS): “Kiểm toán viên phải có một sự hiểu biết đầy đủ về hệ thống kiểm
soát nội bộ để lập kế hoạch kiểm toán và đề xuất bản chất, thời gian, phạm vi
cuộc khảo sát phải thực hiện”.Công việc tìm hiểu hệ thồng kiểm soát nội bộ
của khách hàng đối với hàng tồn kho giúp cho kiểm toán viên định ra hướng
kiểm toán thích hợp. Khi tìm hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng về

nhiệm, nguyên tắc uỷ quyền và phê chuẩn.
 Kiểm toán nội bộ.
Kiểm toán viên tiến hành xem xét đơn vị khách hàng có tổ chức bộ
phận kiểm toán nội bộ không, bộ phận này có nhiệm vụ như thế nào về kiểm
soát hàng tồn kho và đánh giá sự hoạt động của bộ phận này đối với hàng tồn
kho: kiểm toán nội bộ có thường xuyên tiến hành kiểm tra, kiểm soát đối với
hàng tồn kho không.
1.5. Thiết kế các thử nghiệm kiểm soát, thử nghiệm cơ bản đối với chu
trình hàng tồn kho
Sau khi đã tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng và dự
kiến rủi ro kiểm soát đối với hàng tồn kho, kiểm toán viên sẽ thiết kế các thử
nghiệm kiểm soát, thử nghiệm cơ bản và chuẩn bị các điều kiện cần thiết phục
15
vụ cho thực hiện kiểm toán. Hay nói cách khác kiểm toán viên sẽ thiết kế
chương trình kiểm toán cho chu trình hàng tồn kho.
Chương trình kiểm toán của hầu hết các cuộc kiểm toán nói chung và
riêng cho các chu trình hay khoản mục đề thiết kế thành 3 phần: trắc nghiệm
công việc, trắc nghiệm phân tích và trắc nghiệm trực tiếp số dư.
Thử nghiệm kiểm soát chính là các trắc nghiệm đạt yêu cầu công việc
trong trắc nghiệm công việc, được thiết kế nhằm thu thập các bằng chứng
kiểm toán về sự thiết kế phù hợp và hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ
đối với chu trình hàng tồn kho.
Thiết kế các thử nghiệm cơ bản trong kiểm toán báo cáo tài chính là
việc kiểm toán viên thiết kế các trắc nghiệm phân tích và trắc nghiệm trực
tiếp số dư. Trắc nghiệm phân tích được thiết kế để kiểm toán viên đánh giá
tính hợp lý chung của các số dư tài khoản hàng tồn kho sẽ thực hiện kiểm
toán. Kết quả thu được khi thực hiện các thủ tục phân tích sẽ là cơ sở để kiểm
toán viên mở rộng hay thu hẹp các trắc nghiệm trực tiếp số dư đối với các
khoản mục hàng tồn kho. Trắc nghiệm trực tiếp số dư được thực hiện nhằm
xác minh số dư của các tài khoản tồn kho thuộc chu trình.Việc thiết kế và

tra các chữ kí nhận trên phiếu xuất kho vật tư, hàng hoá hoặc kiểm tra các dấu
vết của công tác kiểm tra đối chiếu giữa các sổ sách kế toán của đơn vị.
• Nghiệp vụ sản xuất
Nghiệp vụ sản xuất, chi phí sản xuất bắt đầu từ khi vật tư được xuất
kho đến các phân xưởng. Khi thực hiện các thủ tục kiểm soát, kiểm toán viên
có thể tiến hành các thủ tục như:
+ Xem xét việc tổ chức quản lý ở các phân xưởng, tổ đội.
+ Xem xét việc ghi chép nhật ký sản xuất và việc lập báo cáo.
17
Kiểm toán viên thực hiện thủ tục quan sát thực tế quy trình làm việc
của bộ phận kiểm tra chất lượng ở phân xưởng và đánh giá tính độc lập của
bộ phận này với bộ phận kiểm nhận hàng nhập kho.
+ Kiểm toán viên xem xét quá trình kiểm soát công tác kế toán chi phí
và việc lập báo cáo sản xuất hàng của phân xưởng của doanh nghiệp có được
thực hiện thường xuyên hay không. Điều đó được thể hiện thông qua các dấu
hiệu kiểm tra sổ kế toán chi phí của những người có trách nhiệm và độc lập
với những người ghi sổ.
+ Xem xét phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang có tuân thủ đúng
nguyên tắc và tính nhất quán giữa kỳ này so với kỳ trước hay không, cũng
như sự giám sát của người có trách nhiệm trong công việc đánh giá sản phẩm
dở dang….
• Nghiệp vụ lưu kho hàng hoá,vật tư
Cũng giống nghiệp vụ sản xuất, nghiệp vụ lưu kho là nghiệp vụ trọng
tâm của chu trình hàng tồn kho do vậy việc đánh giá hệ thống kiểm soát đối
với các nghiệp vụ lưu kho phải thực hiện một cách cẩn trọng và thích đáng.
Các thủ tục kiểm soát thường được thực hiện là:
+Kiểm toán viên xem xét quan điểm của Ban giám đốc về việc quản lý
hàng tồn kho: hàng tồn kho của doanh nghiệp được quản lý theo mô hình nào
(tập trung hay không tập trung), ban giám đốc quan tâm như thế nào đến công
tác bảo quản, bảo vệ hàng tồn kho, những chính sách về hàng tồn kho mà ban

không. Tỷ suất này cho biết giá trị hàng tồn kho có trong tổng tài sản lưu
động. Trên cơ sở so sánh tỷ suất này qua các năm, kiểm toán viên có thể nhận
thấy biến động bất thường và tiến hành tìm hiểu nguyên nhân của sự bất
thường đó.
19
+ Tỷ lệ quay Tổng giá vốn hàng bán
vòng hàng =
tồn kho. Số dư hàng tồn kho bình quân
Trong đó:
Số dư Số dư hàng tồn kho đầu kỳ + Số dư hàng tồn kho cuối kỳ
hàng tồn kho =
bình quân 2
Tổng lãi gộp
+ Tỷ suất lãi gộp =
Tổng doanh thu
Tỷ lệ quay vòng hàng tồn kho và tỷ lệ lãi gộp cho phép kiểm toán viên
đánh giá tính hợp lý của giá vốn hàng bán. Nếu tỷ lệ lãi gộp quá thấp hoặc tỷ lệ
quay vòng hàng tồn kho quá cao so với dự kiến của kiểm toán viên có thể là do
đơn vị khách hàng đã khai tăng giá vốn hàng bán và khai giảm hàng tồn kho.
 Phân tích ngang (phân tích xu hướng)
- Kiểm toán xem xét số dư hàng tồn kho năm nay so sánh với số dư
hàng tồn kho năm trước, so sánh số dư hàng tồn kho thực tế với định mức dự
trữ (nếu có). Đồng thời so sánh số dư của các khoản mục hàng tồn kho như
nguyên vật liệu, thành phẩn, hàng hoá…giữa các thàng hoặc các quý với nhau
để phát hiện những biến động, chênh lệch bất thường.
- Kiểm toán viên đối chiếu, so sánh giá thành đơn vị của nguyên vật
liệu, thành phẩm, hàng hoá mua vào, sản xuất, mua vào hay bán ra của kỳ này
với kỳ trước hoặc đối chiếu giá thành đơn vị thực tế với giá thành kế hoạch.
Thủ tục này cho phép kiểm toán viên phát hiện sự tăng giảm giá thành đơn vị
sản phẩm sau khi đã loại bỏ sự ảnh hưởng của biến động giá cả.

của các tài khoản hàng tồn kho và các tài khoản chi phí liên quan như: xem
xét đối chiếu giữa số liệu trên TK 152 với các TK 621, TK 627, các tài khoản
chi phí khác. Đối chiếu số liệu tài khoản TK 621, 622, 627 với tài khoản 154,
số liệu tài khoản 154 với tài khoản 155, 632 số liệu tài khoản 155 với các tài
khoản 157, 632.
Để phát hiện những trường hợp có hiện tượng gian lận trong việc sử
dụng nguyên vật liệu như: xuất dùng nguyên vật liệu sử dụng không đùng
mục đích, nguyên vật liệu xuất dùng cho muc đích khác nhưng vẫn đưa vào
chi phí sản xuất hoặc dùng cho sản xuất nhưng không hạch toán vào… kiểm
toán viên thường đối chiếu trị giá nguyên vật liệu xuất kho trên TK 152 với
tổng chi phí nguyên vật liệu trên các TK 627, TK 641,TK 642 để xác định sự
phù hợp giữa nguyên vật liệu xuất kho sử dụng với các chi phí ở các bộ phận
sử dụng..
Kiểm toán viên đồng thời cũng xem xét việc ghi chép trên sổ theo dõi
vật tư sử dụng ở các phân xưởng sản xuất. Đối chiếu giữa số liệu vật tư xuất
dùng cho phân xưởng ở bộ phận kho, bộ phận kế toán với báo cáo sử dụng vật
tư của từng phân xưởng để phát hiện chênh lệch (nếu có).
Kiểm toán viên xem xét việc ghi chép sổ theo dõi sản phẩm dở dang
cuối kỳ ở phân xưởng sản xuất có đầy đủ, kịp thời không, phương pháp đánh
giá sản phẩm dở dang kỳ này với các kỳ trước có nhất quán không. Mọi sự
thay đổi đều đòi hỏi kiểm toán viên phải tìm hiểu nguyên nhân và sự ảnh
hưởng của chúng. Xem xét sự phù hợp giữa số lượng sản phẩm dở dang với
giá trị của chúng để phát hiện những biến động bất thường và các biểu hiện
không hợp lý.
Một thủ tục mà kiểm toàn viên cũng thực hiện trong việc kiểm tra chi
tiết nghiệp vụ hàng tồn kho đó là khảo sát sự thay đổi trong việc sử dụng
22
phương pháp tính toán giá thành của doanh nghiệp. Ngoài ra kiểm toán viên
còn thực hiện tính toán lại một số khoản mục chi phí và việc tổng hợp chi phí,
phân bổ chi phí vào tính giá thành nhằm phát hiện những sai sót trong quá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status