Chuyên đề thực tập
LỜI NÓI ĐẦU
Giai đoạn hai của quá trình thực tập là quãng thời gian sinh viên thực tập có
điều kiện được tiếp xúc sâu sát hơn và được tham gia nhiều hơn vào công việc kiểm
toán, từ đó được tìm hiểu, xem xét giấy tờ làm việc của kiểm toán. Hơn nữa, như đã
nêu trong báo cáo thực tập tổng hợp, công việc kiểm toán được chia nhỏ ra thành
nhiều phần hành, mỗi phần hành có thể bao gồm một hoặc nhiều tài khoản, trong đó
các tài khoản này thông thường có sự liên đới với nhau, việc kiểm toán theo từng
phần hành này trước nhất là giúp cho việc kiểm toán được phân công hợp lý cho từng
thành viên trong đoàn kiểm toán, đồng thời cũng dễ dàng trong việc chia tách công
việc, cũng như tiếp cận kế toán của kiểm toán viên.
Chính vì thế, mục đích của giai đoạn này đó là giúp sinh viên có định hướng
cụ thể và có cái nhìn sâu sắc hơn về một phần việc trong tiến hành một cuộc kiểm
toán. Đây chính là những tiền đề giúp em lựa chọn đề tài cho chuyên đề thực tập tốt
nghiệp là: Quy trình kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên trong kiểm toán
BCTC do công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam thực hiện
Kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên là công việc soát xét tính trung
thực, hợp lý về khoản mục liên quan đến chi phí tiền lương và nhân viên của công ty,
như thế phần hành này liên quan mật thiết đến khoản mục chi phí nhân công, chi phí
sản xuất chung, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp của đơn vị, như thế
đồng thời cũng liên quan đến khoản mục giá vốn hàng bán. Chính vì tính chất quan
trọng đó, khoản mục liên quan đến bảng lương được coi là một khoản mục khó, đòi
hỏi sự cẩn thận và tỉ mỉ không chỉ đứng riêng ở góc độ về tính trung thực số liệu mà
còn xem xét đến tính logic khi đối chiếu với các phần hành khác có liên quan. Nhận
thấy được tính phức tạp của phần hành này, em đã cố gắng tham khảo các tài liệu
kiểm toán của công ty, cũng như tham vấn từ các anh chị đã từng tham gia thực hiện
phần hành này để có thêm được những hiểu biết về các công việc cụ thể cũng như
trình tự thực hiện và nội dung của các công việc để đi đến mục đích cuối cùng là xác
minh của kiểm toán về tính trung thực, hợp lý của BCTC, và có thể từ đặc điểm của
Phạm Thùy Trang Lớp: Kiểm toán 48A
1
vụ liên quan đến tiền lương và nhân viên, phù hợp với nguyên tắc và chế độ kế toán
hiện hành, để có đủ bằng chứng kết luận về con số của các khoản mục phải trả liên
quan đến tiền lương trên BCTC của đơn vị.
Tính trọn vẹn: Những khoản phải trả công nhân viên phát sinh trong kỳ đã
được hạch toán đầy đủ trên sổ sách kế toán của đơn vị.
Tính hiện hữu: Số dư phải trả công nhân viên, tức con số được trình bày trên
BCTC là có thực, là kết quả của các nghiệp vụ thực tế đã phát sinh trong niên độ tài
chính.
Tính phân loại và trình bày: Việc hạch toán chi phí vào khoản phải trả công
nhân viên (TK 334), và các khoản trích theo lương (TK 3382, 3383, 3384, TK
BHTN) là đúng đắn, phù hợp với tính chất hạch toán của tài khoản.
Tính chính xác cơ học: Việc đặt công thức tính lương (kế toán trên excel) và
các khoản trích theo lương là đúng đắn, các công thức cộng tổng là đầy đủ và không
bỏ sót để đảm bảo con số tổng hợp cuối cùng được tính toán chính xác.
Phạm Thùy Trang Lớp: Kiểm toán 48A
3
Chuyên đề thực tập
Tính định giá: Việc tính toán lương theo quy định đã đúng hay chưa, mức
lương cơ bản áp dụng như thế nào, có đúng như trong hợp đồng lao động hay không
(chọn mẫu để xem xét việc thực hiện này, chủ yếu được thực hiện trong thử nghiệm
kiểm soát).
Tính quyền và nghĩa vụ: Số dư của TK 334 và 338 thể hiện nghĩa vụ của đơn
vị về chi trả tiền lương và thực hiện việc quản lý các khoản trích theo lương. Đặc biệt
trong phần hành này, kiểm toán viên phải hết sức chú ý đến việc trích thuế thu nhập
cá nhân của nhân viên có ký hợp đồng với công ty theo văn bản pháp luật, thông tư
mới nhất ban hành và được áp dụng hiện hành. Đặc biệt, phần lương còn có liên hệ
đến phần thuế và các khoản phải nộp Nhà nước, cụ thể là thuế thu nhập cá nhân (TK
3335), trong phần kiểm toán này sẽ đề cập đến việc kiểm toán tính thuế thu nhập cá
nhân, để thể hiện tính gắn kết của các khoản mục.
Như vậy, việc xác định mục tiêu kiểm toán trong chu trình tiền lương và nhân
thể xảy ra từ tính chất kế toán này.
Đi sâu hơn vào công tác tổ chức thực hiện, kiểm toán viên có thể xem xét hình
thức kiểm soát hồ sơ nhân viên để chi trả lương, việc cập nhật danh sách và quản lý
về cấp bậc lương, lương cơ bản để trích lập bảo hiểm, các yếu tố liên quan đến thuế
thu nhập cá nhân bằng cách phỏng vấn khách hàng và cập nhật những quyết định có
liên quan đến vấn đề chi trả lương từ Ban giám đốc của đơn vị để đối chiếu việc thực
hiện và hiểu biết thêm về quy chế thực hiện.
Tiếp theo, kiểm toán viên có thể tìm hiểu hệ thống thông tư, văn bản tính và
trích lập lương được đơn vị sử dụng và tính cập nhật của các văn bản này (mức trợ
cấp thất nghiệp…), ví dụ như trong thời gian gần đây, việc doanh nghiệp cũng như cá
nhân phải đóng thêm bảo hiểm trợ cấp thất nghiệp cho người lao động cũng như họ
phải trích thêm từ lương của mình để chi trả cho loại bảo hiểm bảo vệ quyền lợi
người lao động này.
Sau khi đạt những thông tin về tổng quan, kiểm toán viên có thể tiến hành tìm
hiểu những đặc điểm về số lượng nhân viên của đơn vị, việc phân chia thành tổ đội,
phòng ban và việc phân bổ hạch toán chi phí của đơn vị cũng như chia đầu mục hạch
toán tài khoản tương ứng đối với cách phân chia này, từ đó xem xét đến tính hợp lý
của hệ thống tài khoản này của đơn vị.
Thông thường, tiền lương chỉ được ghi nhận là chi phí khi đã có lao động sống
phát sinh của người lao động trong kỳ, như vậy kế toán phải ghi nhận khoản phải trả
đối với những lao động sống phát sinh mà chưa được chi trả, chính vì lẽ đó, đối với
phần hành này, kiểm toán viên cần đặc biệt chú ý tới việc ghi nhận phải trả để phản
Phạm Thùy Trang Lớp: Kiểm toán 48A
5
Chuyên đề thực tập
ánh đúng chi phí phát sinh trong kỳ, dẫn tới việc tính toán đúng đắn giá vốn hàng
bán, chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp để có được con số phản ánh trung
thực tình hình hoạt động kinh doanh của đơn vị (lãi, lỗ).
Từ đó, kiểm toán viên phải xác định được tính trung thực, hợp lý của các
khoản mục tương ứng trích theo lương (BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ) cũng như
đảm bảo tính bí mật về thông tin cho khách hàng, tên của Công ty được kiểm toán sẽ
không được công bố, thay vào đó, tên ABC sẽ được dùng đại diện cho tất cả tài liệu
kiểm toán được sử dụng trong bài chuyên đề thực tập tốt nghiệp này.
Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán là một công đoạn hết sức quan trọng trong một
cuộc kiểm toán. Có thể coi đây là tiền đề cho việc thực hiện kiểm toán, bởi những
công việc mang tính nền tảng được thực hiện trong giai đoạn này. Chuẩn bị kiểm
toán cho một cuộc kiểm toán nói chung là việc tìm hiểu hệ thống và xác lập các mức
trọng yếu cho toàn bộ BCTC, còn đối với cá thể phần hành tiền lương và nhân viên,
công việc cụ thể được thực hiện để đạt được mục đích tìm hiểu về:
Đặc điểm về quy mô nhân sự của khách hàng
Tìm hiểu quy mô nhân sự của khách hàng là bước đầu tiên để xác định tính
trọng yếu của khoản mục phải trả công nhân viên trên bảng cân đối kế toán, cũng như
khả năng sai phạm khi hạch toán của kế toán. Nắm được số nhân viên của công ty có
nghĩa là kiểm toán viên có thể thực hiện thủ tục ước lượng từ một tháng lương đến cả
năm và xác định mức thu nhập trung bình để xem xét về tính hợp lý của con số. Tìm
hiểu đặc điểm quy mô nhân sự cho phép kiểm toán viên biết được mức độ phức tạp
của các nghiệp vụ liên quan, tính trọng yếu của khoản mục, từ đó có những quyết
định trong phân công nhiệm vụ cho thành viên thuộc đoàn kiểm toán.
Tìm hiểu về tổ chức phòng ban, tổ chức sản xuất, bố trí nhân sự
Sau khi tìm hiểu về quy mô nhân sự, kiểm toán viên có cái nhìn tổng thể về
đơn vị, ngay sau đó, kiểm toán viên cần tìm hiểu chi tiết hơn về việc tổ chức phòng
ban, bố trí tổ chức sản xuất, phân chia nhân sự theo những chỉ tiêu nào, ví dụ nhân
viên văn phòng và công nhân sản xuất, việc sản xuất được bố trí theo nhà máy, theo
tổ đội, theo khu vực, hay theo tính chất công việc,v.v…
Tìm hiểu về công tác kế toán tiền lương tại đơn vị
Công tác kế toán tiền lương nói chung đó là việc thực hiện ghi sổ, chi trả tiền
lương ở đươn vị. Bắt đầu từ người tiến hành, những người có liên quan, thủ tục cần
thiết thực hiện ghi sổ, chi trả. Hình thức hạch toán ghi sổ, hình thức chi trả, định kỳ
chi trả. Việc tìm hiểu này bao gồm cả phương pháp tính lương được áp dụng tại đơn
vị được kiểm toán.
thực hiện công việc đối chiếu và tính toán lại của kế toán. Tùy theo mức độ lớn của
phần hành, kiểm toán viên có thể xem xét để giao nhiệm vụ cho người có đủ khả
năng và kinh nghiệm để thực hiện phần hành này.
Lập kế hoạch và thiết kế các thủ tục kiểm toán
Cuối cùng, song song với việc đưa ra kế hoạch kiểm toán tổng quát, kế hoạch
kiểm toán chi tiết cho từng phần hành cũng được thiết lập ra.
Phạm Thùy Trang Lớp: Kiểm toán 48A
8
Chuyên đề thực tập
STT Miêu tả những thay đổi trọng yếu đối với chu trình
Miêu tả ứng dụng
Công nghệ thông tin vào
những bước trọng yếu thuộc
chu trình
1 Tuyển dụng hoặc cho thôi việc được phê duyệt
Giám đốc hoạt động
2 Mức lương được kiểm tra và phê duyệt
Giám đốc hoạt động
3 Thẻ hoặc báo cáo chấm công được chuẩn bị và thông tin
được nhập vào hệ thống bảng lương
Chương trình ghi nhận số
lượng sản phẩm hoàn thành
của nhân viên
4 Thẻ thời gian được kiểm tra và phê duyệt
Bộ phận nhân sự
5 Tính toán bảng lương sử dụng mức lương được lưu
trong hồ sơ nhân viên
Kế toán lương
6
đúng kỳ.
c. Chúng tôi đã lưu ý những ngoại lệ đối với thủ tục cũng như
hệ thống kiểm soát của Công ty.
d. Nếu chúng tôi xác định mức rủi ro kiểm soát theo kế hoạch
ít hơn mức tối đa hoặc chúng tôi tiến hành kiểm toán liên kết, thì
chúng rôi đã xác định chất lượng của bằng chứng thu được trong quá
trình thực hiện thủ tục “từ đầu đến cuối” phù hợp với việc xác định
tính hiệu lực của thiết kế hệ thủ tục kiểm soát và xác định thủ tục kiểm
soát có được tiến hành hay không.
e. Chúng tôi sử dụng cùng một nguồn tài liệu và công nghệ
thông tin mà nhân viên của khách hàng sử dụng trong việc xử lý các
nghiệp vụ.
f. Những câu hỏi của chúng tôi đối với nhân viên của Công
ty bao gồm những câu hỏi mang tính chất hướng theo để xác định
được những lỗ hổng trong kiểm soát hoặc dấu vết của gian lận.
g. Khi chúng tôi xác định những thay đổi lớn trong việc thực
hiện xử lý nghiệp vụ, chúng tôi xác định bản chất của thay đổi để xem
xét việc thực hiện thủ tục “từ đầu đến cuối” đối với cả nghiệp vụ được
xử lý trước và sau thay đổi này.
Bảng 1.2 Thủ tục kiểm toán tiến hành để tìm hiểu về thực hiện phần hành lương ở
khách hàng
Phạm Thùy Trang Lớp: Kiểm toán 48A
10
Chuyên đề thực tập
Xác định rủi ro kiểm toán kết hợp
Công ty ABC
GAMx- Xác định rủi ro kết hợp
Tài khoản quan trọng
VB- Bảng lương
Tên IR CR CRA Phạm vi Nhận xét
truy xuất các tài liệu đi từ hợp đồng lao động, bảng chấm công, bảng tính lương, giấy
tờ nghỉ (nghỉ thai sản, nghỉ phép, nghỉ ốm, nghỉ hết nguyên vật liệu,…) đến giấy tờ
thanh toán lương.
Nếu có ngoại lệ khác với đánh giá ban đầu, phải tăng cương thử nghiệm cơ
bản.
Thử nghiệm kiểm soát thường được tiến hành trong giai đoạn kiểm toán giữa
kỳ, công việc cụ thể trong giai đoạn này, kiểm toán viên có thể sử dụng đến những
phương thức hữu dụng kiểm toán như:
Điều tra
Quan sát
Phỏng vấn
Thực hiện lại
Phạm Thùy Trang Lớp: Kiểm toán 48A
11
Chuyên đề thực tập
Tiến hành thủ tục phân tích
Đối với những doanh nghiệp sử dụng phần mềm kế toán để thực hiện công tác
kế toán, kiểm toán viên có thể sử dụng CAAT (Computer-Assisted Audit
Techniques) để kiểm tra hệ thống của đơn vị bằng cách cài vào hệ thống một phần
mềm kiểm toán để xme xét tính chính xác trong việc xử lý số liệu. Việc xem xét hệ
thống công nghệ thông tin của đơn vị là việc cực kỳ quan trọng, sự trung thực của số
liệu chỉ là một phần bảo đảm tính trung thực của BCTC, vấn đề xử lý số liệu của
phần mềm là phần còn lại để đảm bảo điều đó, và với khối lượng tính toán khổng lồ,
kiểm toán viên không thể tiến hành tự xử lý toàn bộ để đảm bảo con số cuối cùng
trên BCTC, khi đó phần mềm được cài vào hệ thống để phát hiện và báo lỗi những
bất thường xảy ra trong hệ thống sẽ giúp việc kiểm tra vấn đề kiểm soát của doanh
nghiệp và ước đoán mức rủi ro kiểm soát của doanh nghiệp.
Bảng các câu hỏi là sản phẩm thường thấy của giai đoạn này, kiểm toán viên
thông qua quá trình quan sát, phỏng vấn, thực hiện lại để có thể tổng hợp thực tiễn
kiểm soát của doanh nghiệp. Đối với phần hành lương, việc tiến hành thủ tục kiểm
* Hoạt động kiểm soát, thông tin và liên
* Giám sát
Phần 2 – Xác định khả năng rủi ro của sai phạm trọng yếu do cố tình gian lận
* Thảo luận trong đoàn kiểm toán
* Nhân tố rủi ro liên quan đến gian lận trong BCTC
* Nhân tố rủi ro liên quan đến khả năng biển thủ tài sản
* Kết quả của thủ tục phân tích trong giai đoạn lập kế hoạch
* Phỏng vấn các nhà quản trị cấp cao, Ủy ban kiểm toán (hoặc cơ quan có thẩm
quyền), Kiểm toán nội bộ và các thành phần khác
* Các thông tin khác.
13
Chuyên đề thực tập
kiểm soát sẽ giúp cho kiểm toán viên kết luận về tính hiệu quả trong việc thực hiện
tính toán và chi trả lương cho nhân viên. Có thể nói, thủ tục kiểm soát mang tính hệ
thống, mọi thủ tục cũng như kết luận tương ứng đều phục vụ cho việc đưa ra phương
án về thủ tục kiểm toán cần áp dụng, đối với công ty TNHH Ernst & Young Việt
Nam, thể hiện tính thận trọng nghề nghiệp cao, vì thế khi tiến hành thủ tục kiểm soát,
kết luận về hệ thống kiểm soát nội bộ chỉ ở mức đánh giá tối đa là khá. Khi thực hiện
thủ tục kiểm soát, phân tích ảnh hưởng của từng nội dung của thủ tục đến việc kiểm
toán chu trình tiền lương và nhân viên nói riêng
Thứ nhất, là về môi trường kiểm soát, cụ thể từ tính liêm khiết của bản
thân nhà quản trị cho đến trách nhiệm, sự tham gia vào việc xây dựng doanh
nghiệp, vào hoạt động điều hành, giám sát của doanh nghiệp.
Kiểm toán viên có thể sử dụng các mẫu câu hỏi để quyết định tính hiệu lực
của hệ thống kiểm soát.
• Doanh nghiệp có quy định bằng văn bản về nguyên tắc đạo đức nghề
nghiệp đối với toàn bộ nhân viên hay không?
• Môi trường doanh nghiệp có nhấn mạnh tầm quan trọng của tính
liêm chính và hành xử đạo đức hay không? Ví dụ, những người có hành động
bạo lực có ngay lập tức bị sa thải hay không?
• Thành viên ban giám đốc (và ủy ban kiểm soát) có độc lập với nhà
quản lý hay không?
• Liệu ủy ban kiểm soát (và/hoặc ban giám đốc) có dành sự quan tâm
phù hợp đến việc giám sát rủi ro kinh doanh ảnh hưởng đến doanh nghiệp và
quy trình xác định rủi ro của nhà quản lý (bao gồm cả rủi ro gian lận) hay
không?
• Thành viên ban giám đốc có sự thay đổi thường xuyên hay không?
• Có cơ cấu phù hợp trong phân công việc quản lý dữ liệu, bao gồm
những người có thẩm quyền bắt đầu và/ hoặc thay đổi nghiệp vụ hay không?
• Doanh nghiệp có tiêu chuẩn và thủ tục phù hợp để thuê mướn, đào
tạo, khuyến khích, đánh giá, đề đạt, bồi thường, chuyển giao hay cho thôi việc
đối với nhân viên (đặc biệt là trong hệ thống kế toán, tài chính, và công nghệ
thông tin)?
• Doanh nghiệp có những hướng dẫn chi tiết về công việc hoặc sổ tay
hướng dẫn để thông báo cho nhân viên trách nhiệm của họ (hoặc, trong
trường hợp không có tài liệu hướng dẫn, thì có những trao đổi về nhiệm vụ và
kỳ vọng trong công việc) hay không?
Phạm Thùy Trang Lớp: Kiểm toán 48A
15
Chuyên đề thực tập
• Chính sách và thủ tục có rõ ràng và được cập nhật, thay đổi phù hợp
hay không?
• Doanh nghiệp có chính sách và thủ tục để kiểm soát hoạt động của
nhân viên hợp đồng và bảo vệ tài sản về thông tin của công ty bằng chức
năng công nghệ thông tin hay không?
Dựa vào mẫu câu hỏi dùng để tiến hành thủ tục kiểm soát như
trên, một doanh nghiệp có hệ thống kiểm soát tốt nghĩa là:
• Doanh nghiệp đã có quy định về nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp
đối với nhân viên công ty, và quy định này được theo dõi thường xuyên đối
với nhân viên của doanh nghiệp.
hiểu tác động của doanh nghiệp có được thực hiện trên cơ sở xem xét ảnh
hưởng của thất bại hệ thống trong việc lập BCTC) hay không?
• Bộ phận công nghệ thông tin có quy trình xác định người sử dụng hệ
thống cuối cùng (ví dụ: đối với phần mềm kế toán) khi có thay đổi lớn trong
cài đặt hệ thống ảnh hưởng đến phương pháp hoặc quy trình ghi nhận nghiệp
vụ hay không?
• Bộ phận kế toán có thiết lập quy trình xác định những thay đổi quan
trọng trong khung BCTC được công bố bởi cơ quan có thẩm quyền tương ứng
hay không?
• Kênh thông tin có được thiết lập để thông báo cho bộ phận công
nghệ thông tin và bộ phận kế toán về những thay đổi trong môi trường hoạt
động của doanh nghiệp mà có thể gây ảnh hưởng đến phương pháp hoặc quy
trình ghi chép nghiệp vụ hay không?
• Bộ phận kế toán có quy trình để xác định thay đổi lớn đối với môi
trường hoạt động, bao gồm cả môi trường pháp luật hay không?
Điển hình về một môi trường kiểm sáot rủi ro tốt trong doanh nghiệp
• Doanh nghiệp có cơ chế thích hợp để xác định rủi ro doanh nghiệp
như: Tham gia vào thị trường mới, đưa ra sản phẩm hoặc dịch vụ mới, quy
chế bảo mật tài liệu, và những thay đổi khác trong công việc kinh doanh, môi
trường chính trị, kinh tế.
• Nhà quản lý ước đoán được rủi ro BCTC trong đơn vị.
• Bộ phận kiểm toán nội bộ (hoặc một nhóm trong doanh nghiệp) thực
hiện việc xác định rủi ro (ít nhất là hàng năm), bao gồm cả khảo sát hệ thống
công nghệ thông tin.
• Ban giám đốc và/ hoặc Ủy ban kiểm soát giám sát và theo dõi quá
trình nhận biết rủi ro và hành động của nhà quản lý để đảm bảo những rủi ro
quan trọng được xác định.
Phạm Thùy Trang Lớp: Kiểm toán 48A
17
Chuyên đề thực tập
Phạm Thùy Trang Lớp: Kiểm toán 48A
18
Chuyên đề thực tập
Kiểm toán viên có thể sử dụng tỷ lệ giữa chi phí nhân viên với doanh thu các
tháng trong năm so sánh với tỷ lệ này của năm trước, từ đó khảo sát sự biến động
trong tỷ lệ này.
So sánh mức chi trả trung bình mỗi nhân viên hoặc theo giờ của năm trước
bao gồm cả các khoản thưởng của nhân viên, nếu là trọng yếu. Xem xét việc phân
loại chi phí, chia phòng ban, tổ sản xuất.
Dùng đồ thị để thể hiện chi phí tiền lương qua các tháng và so sánh với năm
trước, đồng thời xem xét sự biến động và mức tiền lương trung bình so với năm
trước.
Sử dụng phương pháp ước tính từ một tháng để xem xét tính hợp lý của chi
phí tiền lương trong năm. Ta có thể sử dụng số liệu từ 3 tháng lương, lấy số liệu
trung bình và từ đó ước tính ra con số của cả năm. Sự chênh lệch nếu ở dưới mức
trọng yếu thiết lập cho khoản mục thì kiểm toán viên không cần phải thực hiện thêm
thủ tục xác minh ở phần thủ tục ước tính này. Tuy nhiên mọi sự khác biệt ở trên
ngưỡng trọng yếu đều phải được điều tra, xác minh để tìm hiểu nguyên nhân.
Thủ tục so sánh mức chi lương các tháng của năm nay với các tháng của năm
trước để phân tích nguyên nhân của những đột biến về số liệu (nếu có)
Kiểm toán viên còn có thể tiến hành thủ tục phân tích bằng cách chia nhỏ chi
phí tiền lương theo như cách hạch toán trong doanh nghiệp như: Chi phí tiền lương
nhân viên hành chính (phần hạch toán đối ứng TK334 với TK 642) và chi phí tiền
lương công nhân (phần hạch toán đối ứng TK 334 với TK 621, 627). Đối với một số
doanh nghiệp, TK 334 có thể được chia nhỏ để dễ dàng phân biệt khi hạch toán. Sau
đó, kiểm toán viên sẽ xem xét tính biến động giữa hai dãy giá trị chi phí, hoặc có thể
sử dụng tỷ lệ để tiến hành phân tích.
Trong phần này, biểu đồ sẽ được sử dụng.
Biểu đồ 1. So sánh tiền lương nhân viên hành chính với tiền lương công nhân
Phạm Thùy Trang Lớp: Kiểm toán 48A
bằng chứng hiệu lực cho những sai phạm (nếu có) của công tác kế toán đơn vị. Nếu
như thủ tục phân tích giúp cho kiểm toán viên có cái nhìn tổng thể về sự biến động và
thông qua việc phỏng vấn khách hàng và rà soát sổ chi tiết, có thể khoanh vùng được
phần có rủi ro sai phạm khi biến động là bất thường và không có giải thích hợp lý.
Như vậy, sau khi tiến hành thủ tục phân tích, bằng thủ tục kiểm tra chi tiết, bao gồm
việc xác định chi tiết số dư tại thời điểm 31/12 của các TK 334, 338; tính toán lại đối
với những khoản chi phí phát sinh, như chi phí tiền lương, chi phí bảo hiểm trích theo
lương, chi phí công đoàn, tính toán việc khấu trừ các khoản bảo hiểm, chi phí công
đoàn và thuế thu nhập cá nhân từ lương và tiền công của nhân viên; và kiểm tra thông
tin cũng như thủ tục từ những tài liệu bổ sung như hợp đồng, chứng từ chi trả lương,
Phạm Thùy Trang Lớp: Kiểm toán 48A
21
Chuyên đề thực tập
thủ tục chấm công, bảng tính toán lương, giấy tờ giảm trừ gia cảnh, tờ kê khai thuế
thu nhập cá nhân đối với một số đối tượng chọn mẫu.
Để hiểu rõ thêm về tính xâu chuỗi trong việc kiểm toán chu trình tiền lương và
nhân viên, ta có thể khái quát dòng tiền chu chuyển trong chu trình thông qua sơ đồ
sau:
Phạm Thùy Trang Lớp: Kiểm toán 48A
22
Chuyên đề thực tập
Sơ đồ 1.1 Sự cấu thành và chu chuyển của tiền lương nhân viên
Dựa theo đó, cụ thể các thủ tục được thực hiện như sau:
Thủ tục xác minh số dư thông qua phân tích biến động của TK 334, 338
trong năm của doanh nghiệp
Để thực hiện thủ tục này, kiểm toán viên phải yêu cầu khách hàng cung cấp sổ
chi tiết của TK 334 và 338. Như thế, số dư đầu kỳ của TK 334 sẽ bao gồm tổng
lương tháng 13 của năm trước đó và số dư cuối kỳ của TK 334 sẽ bao gồm tổng
lương tháng 13 của năm nay. Quy định về lương tháng thứ 13 được đề cập trong luật
Việt Nam, thủ tục chỉ đơn giản là số đầu kỳ của năm nay phải bằng với số kiểm toán
(sau điều chỉnh) của BCTC đã được kiểm toán của năm trước. Thứ hai là BCTC năm
trước chưa được kiểm toán hoặc kiểm toán bởi công ty kiểm toán khác, trong trường
hợp này, kiểm toán phải làm thêm một số thủ tục, nhằm phân tích chi tiết thành phần
của số dư đầu kỳ của TK 334 và 338, bằng việc kiểm tra các khoản chi trả của đầu
năm đang kiểm toán hiện hành, kiểm toán viên sẽ xác định được tính có thực của các
khoản phải trả công nhân viên đầu kỳ theo logic: Khi có phát sinh Có để ghi nhận
khoản phải trả, nghĩa là sẽ có bút toán Nợ để ghi giảm khoản phải trả này, bởi quyền
cũng như xu hướng hành động vì lợi ích kinh tế của người lao động, đặc biệt trong
phần hành lương, tính thời gian là một điểm thể hiện rất rõ ràng. Sau đó, kiểm toán
viên sẽ đối chiếu khoản thanh toán này với chứng từ thanh toán, (chứng từ ngân hàng
hoặc chứng từ chi tiền mặt với chữ ký của nhân viên nhận tiền), chứng từ nộp tiền
vào Cơ quan Bảo hiểm. Thủ tục xác minh chi tiết đối với số dư đầu kỳ trong trường
hợp thứ hai nói trên cũng là phương pháp để kiểm toán số dư cuối kỳ của đơn vị.
Điều này hoàn toàn có thể thực hiện được, bởi thời điểm đoàn kiểm toán viên có mặt
tại đơn vị là thời điểm đầu của năm tài chính tiếp theo, khi đó hầu hết các khoản phải
trả đều đã được chi trả cho nhân viên. Đối với những khoản không tìm thấy được chi
trả trong giai đoạn này, kiểm toán viên phải xác định bản chất từ việc phỏng vấn
khách hàng.
Một lưu ý quan trọng trong thủ tục xác minh số dư này, đó là đối với việc tiến
hành kiểm toán cho những doanh nghiệp phải chi trả lương theo ngoại tệ, nhưng hạch
toán bằng Việt Nam đồng. Kiểm toán viên còn phải tiến hành đánh giá lại các khoản
phải trả này, trước khi thực hiện, kiểm toán viên phải tìm hiểu về phương pháp ghi
nhận ngoại tệ của doanh nghiệp, về tính hợp lệ và về tính nhất quán của phương pháp
đó. Ví dụ, có những doanh nghiệp xác định số dư cuối kỳ theo tỷ giá bình quân liên
Phạm Thùy Trang Lớp: Kiểm toán 48A
24
Chuyên đề thực tập
ngân hàng, có doanh nghiệp lại đánh giá theo tỷ giá của một ngân hàng thường xuyên
giao dịch, hoặc của một ngân hàng và cộng thêm phần trăm biên (do tỷ giá giao dịch