MỤC LỤC
Danh mục bảng, sơ đồ
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒPhần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Nền Kinh tế Việt Nam đang trên con đường hội nhập và phát triển cùng với sự phát
triển của nền kinh tế thế giới .Trong những năm gần đây, phát triển kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa đã đem lại cho đất nước ta những biến đổi sâu sắc về kinh
tế - xã hội. Kinh tế tăng trưởng nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ,
thu nhập bình quân của người lao động ngày càng cao, đời sống kinh tế và xã hội của
nhân dân có sự cải thiện rõ rệt.
Song, cũng do tác động của kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, nhiều
vấn đề xã hội mới nảy sinh và ngày càng phức tạp. Tình trạng phân hóa giàu nghèo, sự
bất bình đẳng trong thu nhập ngày càng rõ rệt, tạo ra khoảng cách thu nhập ngày càng
lớn, là mầm mống cho những bất ổn định xã hội. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
dẫn đến hàng triệu lao động nông nghiệp mất đất, di chuyển từ nông thôn ra thành thị
tìm kiếm việc làm và phải chấp nhận cuộc sống bấp bênh đầy rủi ro. Nguy cơ thất
nghiệp, bệnh tật, ốm đau đang đe dọa một bộ phận người lao động, nhất là lao động
phổ thông, trong hoàn cảnh khủng hoảng kinh tế đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu.
Đúi nghốo được thu hẹp nhưng tỏi nghốo vẫn đang là nguy cơ đối với hàng chục triệu
người. Hậu quả của tình trạng xã hội trờn đó và đang cản trở sự phát triển kinh tế - xã
hội đất nước, ngăn trở mục tiêu xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh.
Trước tình hình đó, những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ
trương, chính sách nhằm giải quyết vấn đề xã hội nói chung, vấn đề an sinh xã hội nói
riêng. Cùng với sự phát triển kinh tế là sự lớn mạnh không ngừng của hệ thống an sinh
xã hội, đặc biệt là chính sách BHXH đã phát huy vai trò trụ cột trong hệ thống an sinh
1
trong thời gian tới
3. Phương pháp nghiên cứu
. Nghiên cứu tư liệu, tài liệu về quản lý, quản lý thu BHXH .
. Các văn bản quy phạm pháp luật về BHXH.
. Phương pháp phân tích thống kê số liệu.
. Phương pháp so sánh, tổng kết thực tiễn trên cơ sở các báo cáo tổng kết của bảo
hiểm xã hội TP.Hà Nội từ năm 2007-2010 .
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu : Quản lý thu bảo hiểm xã hội tại BHXH TP.Hà Nội
- Phạm vi nghiên cứu : Đề tài chỉ nghiên cứu về Quản lý Thu BHXH trên địa bàn
TP.Hà Nội từ khi Luật BHXH có hiệu lực đến nay ( 2007 – 2010 ) . Nội dung nghiên
cứu chỉ đi sâu về quản lý thu BHXH bắt buộc .
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu và phần kết luận ,luận văn bao gồm 3 chương . Chương 1 đề cập đến
cơ sở lý luận về quản lý thu Bảo hiểm xã hội , chương 2 đi sâu vào phân tích thực trạng
thu BHXH và quản lý thu BHXH tại TP.HN .Chương 3 đưa ra các phương hướng Thu
BHXH và các giải pháp cụ thể để hoàn thiện công tác quản lý thu BHXH tại TP.Hà
3
Nội ,các điều kiện thực hiện giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu BHXH và một
số hạn chế của Luận văn .
Phần nội dung
Chương I : Cơ sở lý luận về quản lý thu Bảo hiểm xã hội
1.1 Bảo hiểm xã hội
1.1.1 Khái niệm về Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội (BHXH)là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và
ngày nay đã được phổ biến ở tất cả các nước trên thế giới ,đây là một loại hình bảo
hiểm đặc biệt ,nú ớt mang tính chất kinh doanh thương mại mà chủ yếu là tính nhân
đạo và nhân văn cao cả.
Trong hoạt động của đời sống xã hội cũng như trong hoạt động sản xuất kinh
doanh, ngoài những biến cố đã được con người tính toán khoa học và được dự báo
Trong nền kinh tế thị trường luôn tồn tại hai lực lượng đó là những người lao
động và giới chủ (những người thuê lao động)
Lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động, nhưng về sau họ đã phải cam
kết cả việc đảm bảo cho người làm thuê có một số thu nhập nhất định để họ trang trải
những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi ốm đau, tai nạn, thai sản, tuổi già Trong thực
tế, nhiều khi các trường hợp trên không xảy ra nên người chủ không phải chi một đồng tiền
nào. Nhưng có khi lại xảy ra dồn dập, buộc người chủ phải bỏ ra một khoản tiền lớn mà
họ không muốn. Vì thế giới chủ đã dần dần không thực hiện những cam kết ban đầu,
dẫn đến việc tranh chấp giữa giới chủ và người lao động.
Để giải quyết mâu thuẫn này, đã xuất hiện "bên thứ ba" đóng vai trò trung gian
nhằm điều hòa lợi ích giữa giới chủ và thợ. Điều này có ý nghĩa là, thay vì phải chi trực
tiếp những khoản tiền lớn đột xuất cho người lao động khi họ gặp bất trắc, giới chủ có
5
thể trích ra thường xuyên hàng tháng một khoản tiền nhỏ dựa trên cơ sở xác xuất
những biến cố của tập hợp những người lao động làm thuê. Số tiền này được giao cho
bên thứ ba quản lý được tồn tích dần thành một quỹ. Khi người lao động bị ốm đau,
tai nạn "bên thứ ba" sẽ chi trả theo cam kết không phụ thuộc vào giới chủ có muốn
hay không muốn. Như vậy, một mặt giới chủ đỡ bị thiệt hại về kinh tế, mặt khác người lao
động làm thuê được đảm bảo chắc chắn bù đắp một phần thu nhập khi bị ốm đau, tai
nạn và khi về già. Tuy nhiên, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, năng suất lao động
đòi hỏi cần được tăng lên, dẫn đến "rủi ro" lao động càng lớn. Lúc này giới thợ luôn
mong muốn được bảo đảm nhiều hơn, còn ngược lại giới chủ lại mong muốn phải chi ít
hơn, tức là phải đảm bảo cho giới thợ ít hơn, do đó việc tranh chấp về lợi ích lại xảy ra.
Trước tình hình đó Nhà nước đã phải can thiệp và điều chỉnh. Sự can thiệp này một
mặt làm tăng vai trò của Nhà nước, giới chủ buộc phải đúng thờm, đồng thời giới thợ
cũng phải đóng góp một phần vào sự bảo đảm cho chính mình. Cả giới chủ và giới thợ
đều cảm thấy mình được bảo vệ. Các nguồn đóng góp của giới chủ, thợ và sự hỗ trợ
của Nhà nước đã hình thành nên Quỹ bảo hiểm xã hội. Do tập trung nên quỹ có khả
năng giải quyết các phát sinh của rủi ro cho tập hợp người lao động trong toàn xã hội.
Như vậy sự ra đời của bảo hiểm xã hội là một tất yếu khách quan, không phụ
Bảo hiểm xã hội đã đúng góp vai trò to lớn trong việc bảo đảm an sinh xã hội,
ổn định và phát triển kinh tế, được thể hiện thông qua cỏc tỏc động chủ yếu cụ thể sau:
- Bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị giảm thu nhập hoặc bị
mất thu nhập do bị suy giảm sức khỏe hoặc mất khả năng lao động bị mất việc làm.
Đõy là sự đảm bảo chắc chắn sẽ xảy ra vì mọi người sẽ mất khả năng lao động khi họ
7
hết tuổi lao động, theo các điều kiện quy định của BHXH. Đõy là chức năng cơ bản
của BHXH nó quyết định tính chất, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của hệ thống
BHXH.
- Thực hiện phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia
đúng góp quỹ BHXH. Tham gia BHXH có người sử dụng lao động, người lao động
và nhà nước hỗ trợ đóng gúp hỡnh thành xây dựng lên quỹ BHXH . Quỹ BHXH này
được sử dụng để chi trả trợ cấp BHXH cho những người tham gia BHXH không may
gặp tai nạn, rủi ro. Thực tế chỉ ra rằng số tiền trợ cấp được hưởng thường nhỏ hơn rất
nhiều so với số số tiền mình tham gia, do áp dụng theo quy luật số đông bự ớt, quỹ
BHXH đã thực hiện phân phối lại thu nhập theo cả chiều ngang lẫn chiều dọc. Sự phân
phối này thể hiện phân phối thu nhập giữa những người có thu nhập cao với những
người có thu nhập thấp, giữa những người đang làm việc khoẻ mạnh với những người
tuổi cao sức yếu, già cả, ốm đau đang nghỉ việc. chức năng này của BHXH đã góp
phần tạo nên sự công bằng trong xã hội mang tính nhân văn sâu sắc.
- Gúp phần thúc đẩy, kích thích tinh thần lao động, khuyến khích người lao
động hăng hái sản suất nâng cao chất lợng, năng xuất lao động tạo ra nhiều của cải cho
xã hội. Quỹ BHXH thực hiện chức năng này là do họ không may gặp phải các tai nạn
rủi ro, phần thu nhập của họ bị giảm sút hoặc không còn nhưng sự suy giảm này đã
được bù đắp một phần, hay toàn bộ từ quỹ BHXH. Vì vậy mà đời sống sinh hoạt hàng
ngày của người lao động và gia đình họ không còn bị sáo trộn. Hay nói một cách khác
là họ luôn luôn được bảo đảm ổn định cuộc sống và có chỗ dựa về mặt võt chất, tinh
thần. Chính vì vậy họ luôn yên tâm để sản xuất nâng cao chất lượng, năng xuất lao
động và đạt hiệu quả kinh tế cao.
- Gắn bó lợi ích giữa người sử dụng lao động và người lao động giữa người sử
tuổi già vì vậy đối tượng của BHXH chính là phần thu nhập bị mất đi hay giảm đi do
sự rủi ro mà người lao động gặp phải trong cuộc sống làm giảm hoặc mất khả năng lao
động, mất việc làm.
Đối tượng của BHXH không chỉ là các khoản thu nhập theo lương mà bao gồm
các khoản thu nhập khác ngoài lương như: thưởng, phụ cấp… cho NLĐ có nhu cầu
đóng góp thêm để được hưởng mức trợ cấp BHXH.
Đối tượng tham gia của BHXH là NLĐ và NSDLĐ. Họ là những người trực tiếp
tham gia đóng góp tạo nên quỹ BHXH với một khoản % nhất định so với tiền lương
của NLĐ theo quy định của luật BHXH. Tuỳ theo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội
của mỗi nước mà đối tượng này có thể là tất cả hoặc một bộ phận những NLĐ nào đó
trong xã hội.
Trong thời kì đầu khi triển khai BHXH ở hầu hết các nước chỉ áp dụng đối với
những người làm công ăn lương để đảm bảo mức đóng góp ổn định, đảm bảo an toàn
quỹ BHXH.
Hiện nay khi nền kinh tế phát triển nhu cầu sử dụng NLĐ trong và ngoài doanh
nghiệp nhà nước tăng lên rất nhiều thì đối tượng tham gia BHXH và đối tượng của
BHXH cũng được mở rộng ra. Vì vậy đối tượng tham gia của BHXH bao gồm:
- Đối tượng bắt buộc tham gia BHXH: là NLĐ và NSDLĐ phải tham gia
BHXH một cách bắt buộc với mức đóng và mức hưởng BHXH theo quy định của luật
BHXH.
10
- Đối tượng tự nguyện tham gia BHXH: áp dụng cả với người làm công ăn
lương và NLĐ không làm công ăn lương. Thường là do sự đóng góp của NLĐ cùng
với sự giúp đỡ của ngân sách Nhà nước.
1.2 Thu BHXH
1.2.1 Khái niệm
“Thu BHXH là việc nhà nước dùng nước dùng quyền lực của mình bắt buộc các
đối tượng phải đóng BHXH theo mức phí qui định hoặc cho phép một số đối tượng tự
nguyện tham gia, lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của
mỡnh. Trờn cơ sở đó hình thành một quỹ tiền tệ tập trung nhằm mục đích đảm bảo cho
trên nhằm hoàn thiện hơn nữa các văn bản quy định về thu BHXH .Hiện nay thu
BHXH ngoài việc thực hiện theo Luật BHXH (ra đời ngày 15/06/2000 ) cũn cú cỏc
thông tư ,nghị định sửa đổi bổ sung như :
- Nghị định 152/2006/ NĐ-CP ngày 22/6/2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều
của Luật BHXH
- Quyết định 51/2007/QĐ-BTC ngày 22/6/2007 của Bộ tài chính và các văn bản hướng
dẫn của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, từ 1/7/2007, việc thu bảo hiểm xã hội, chỉ các chế
độ ngắn hạn thực hiện theo hướng dẫn và biểu mẫu mới.
- Quyết định số 902/QĐ-BHXH ngày 26/6/2007 về quản lý thu bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế bắt buộc.
1.2.2.2 Thu đúng đối tượng , thu đủ số lượng và đảm bảo đúng
thời gian quy định
12
Muốn thực hiện được nguyên tắc này cần phải :
- Nắm chắc được các nguồn thu BHXH
Nguồn thu của quỹ BHXH quy định tại Luật BHXH bao gồm :
+ Nguồn đóng BHXH của người lao động tham gia BHXH
+ Nguồn đóng BHXH của chủ sử dụng lao động
+ Tiến sinh lời từ hoạt động đầu tư tăng trưởng
+ Nguồn hỗ trợ của nhà nước
+ Các nguồn khác : viện trợ, biếu tặng
Để nắm chắc được các nguồn thu trên phải tăng cường công tác quản lý chặt chẽ các
nguồn thu , đối với các nguồn thu khác nhau phải có phương pháp quản lý thích hợp .
- Các cơ quan , các doanh nghiệp đóng BHXH thì phần đóng góp phải dựa trên quỹ
lương , quỹ lương này bao gồm toàn bộ là lương cứng và các khoản phụ cấp vào
lương , đồng thời quỹ lương này phải chi trả cho tất cả các đối tượng tham gia đóng
BHXH.
- Thu BHXH phải mang tính trực tiếp, hạn chế tối đa hiện tượng khoán thu để được
hưởng hoa hồng.
- Về nguyên tắc cơ quan BHXH phải quyết toán từng tháng ,phải đảm bảo tất cả các số
bất kì một hệ thống BHXH nào , của một quốc gia nào cũng mong muốn đạt được
.Hoạt động thu BHXH đóng vai trò là xương sống của toàn ngành BHXH ,vì vậy đảm
bảo hoạt động thu BHXH luôn được ổn định , bền vững , hiệu quả cũng chính là giúp
14
ngành BHXH phát triển ổn định , bền vững , hiệu quả .Song, để đạt được những mục
tiêu này phải đảm bảo các điều kiện :
- Hoạt động thu BHXH được định hướng đúng đắn , phù hợp với điều kiện kinh
tế - xã hội của mỗi quốc gia trong mỗi thời kì .Định hướng công tác thu đó là :
thu đúng ,thu đủ , thu đúng thời gian quy định , không để thất thu , từ đó
hướng mọi nỗ lực của cá nhân , tổ chức vào mục tiêu đó .
- Hoạt động thu BHXH được điều hòa , phối hợp nhịp nhàng , từ đó giúp tăng
cường ổn định trong hệ thống nhằm đảm bảo đạt được mục tiêu quản lý thu
BHXH.
- Tạo động lực cho mọi cá nhân trong tổ chức .Thông qua công tác đánh giá ,
khen thưởng những cá nhân , tổ chức thu BHXH tốt , kịp thời uốn nắn những
sai lệch , thiếu sót của cá nhân trong tổ chức có biểu hiện làm thất thoát số thu
hoặc số thu đạt hiệu quả thấp .
1.2.3 . Các yếu tố ảnh hưởng đến Thu BHXH
1.2.3.1 Các văn bản pháp luật của Nhà nước
* Về chính sách tiền lương :
Giữa chính sách tiền lương và chính sách bảo hiểm xã hội nói chung và công tác
thu bảo hiểm xã hội nói riêng có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau, chính sách tiền
lương là tiền đề và cơ sở cho việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bởi vì cơ sở để
tính toán mức đóng và mức hưởng bảo hiểm xã hội của chúng ta hiện nay là phụ thuộc
vào mức lương tối thiểu do nhà nước quy định, như vậy khi nhà nước nâng mức lương
tối thiểu lên đồng nghĩa với việc mức đóng bảo hiểm xã hội cũng phải tăng lên.
Theo kết quả một điều tra mới đây của Bộ LĐTBXH: DN nhà nước có tốc độ tăng
tiền lương quá nhanh so với tốc độ tăng năng suất lao động, còn DN ngoài quốc doanh
tiền lương tăng chưa tương xứng với tốc độ tăng lợi nhuận và tốc độ tăng năng suất lao
động. Hiện nay mức thu nhập thực tế mà các DN trả cho người lao động đã cao hơn
nguồn chi các chế độ BHXH sẽ làm cho nguồn quỹ BHXH bị thâm hụt ,dẫn tới sự đổ
vỡ của cả hệ thống ngành BHXH .
Như ta đã biết , cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 bắt đầu từ Hoa kỡ đó
diễn ra tương đối phức tạp ,sự đổ vỡ hàng loạt hệ thống ngõn hàng,tỡnh trạng đói tín
dụng, sụt giá chứng khoán và mất giá tiền tệ quy mô lớn ở nhiều nước… dẫn tới suy
thoái kinh tế toàn cầu .Việt Nam cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng đú,tỡnh hỡnh
kinh tế diễn biến tiêu cực,sự đổ vỡ nhiều doanh nghiệp lớn nhỏ , một số doanh nghiệp
khác phải thu hẹp quy mô hoạt động, người lao động thiếu việc làm và thu nhập
giảm,doanh nghiệp thì không có vốn để kinh doanh ,tình trạng nợ đọng diễn ra theo
chiều hướng xấu , dẫn tới việc đóng góp vào quỹ BHXH cũng bị giảm sút nghiêm
trọng ảnh hưởng không nhỏ tới việc phát triển và duy trì quỹ BHXH ,nguồn quỹ
BHXH bị ảnh hưởng làm cho mọi hoạt động của ngành BHXH bị ảnh hưởng .
1.2.3.3 Công tác tuyên truyền về hệ thống pháp Luật và quy định
về Luật BHXH
Đóng vai trò quan trọng trong việc Thu BHXH,hiện nay còn nhiều doanh nghiệp và
người lao động còn chưa hiểu biết về quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia BHXH dẫn
đến các doanh nghiệp và người lao động chưa có ý thức tự giác tham gia BHXH mà
chỉ coi đó là một điều kiện bắt buộc để có thể sản xuất kinh doanh theo các quy định
của Nhà nước.
Người lao động chưa ý thức được những quyền lợi mà mình được hưởng khi tham
gia BHXH, trong khi đó người sử dụng lao động lại muốn tiết kiệm một phần chi phí
sản xuất kinh doanh đáng lẽ ra phải đóng góp BHXH cho người lao động của mình.
17
Cú lỳc, cú nơi người lao động và người sử dụng lao động đã đồng tình với nhau để
không tham gia BHXH, họ mong có được thêm một khoản thu nhập từ nguồn tiền
đóng vào BHXH, họ sử dụng tiền đóng BHXH để chia nhau. Cũng có tình trạng một số
doanh nghiệp (trong đó có cả những doanh nghiệp Nhà nước) đã cố tình chiếm dụng số
tiền đóng BHXH cho người lao động để sử dụng làm vốn hoạt động sản xuất kinh
doanh, từ đó gây ra tình trạng né tránh, nợ đọng tiền đóng BHXH. Đây là nguyên nhân
chủ yếu làm cho công tác thu BHXH không đạt được hiệu quả cao.
1.3.2.1 Phát triển quỹ BHXH
Theo quy định của Luật BHXH : “ Quỹ bảo hiểm xã hội là một quỹ tài chính độc lập,
tập trung nằm ngoài ngân sách nhà nước dùng để chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội
cho người lao động “
Có thể nói Quỹ BHXH là bộ phận quan trọng nhất của ngành BHXH ,nó gắn liền với
sự tồn tại và phát triển của ngành BHXH, ở nước ta hiện nay thì quỹ BHXH được hình
thành từ 3 nguồn chủ yếu :
Đóng góp của người lao động , chủ sử dụng lao động và phần hỗ trợ từ Ngân sách
nhà nước
Ngoài sự tham gia đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động và Nhà nước.
Quỹ BHXH còn được hình thành từ các nguồn khác như: tiền sử phạt đối với các đơn
vị vi phạm theo điều lệ BHXH, các khoản hỗ trợ, viện trợ của các tổ chức trong và
ngoài nước, các khoản lãi từ hoạt động đầu tư tài chính từ phần quỹ BHXH nhàn rỗi…
19
Trong cơ cấu chi từ quỹ BHXH thì chi trả cho các chế độ BHXH là rất lớn,
chiếm phần lớn nguồn quỹ BHXH vì đây là mục tiêu cơ bản nhất của BHXH: bảo đảm
ổn định cuộc sống cho người lao động, cho các hoạt động của các đơn vị, tổ chức.
Trong thực tế việc chi trả cho các chế độ BHXH diễn ra thường xuyên, liên tục với số
lượng chi phí lớn trên phạm vi rộng lớn. Một trong những khoản chi thường xuyên
hàng tháng đó là chi lương hưu cho những người lao động đã nghỉ công tác và chi trả
trợ cấp BHXH hàng tháng cho thân nhân của người lao động, người đang nghỉ hưu khi
họ không may qua đời .
Nguồn chi thứ hai trong quỹ BHXH đó là chi phí dự trữ, thực chất đây là quá
trình tích luỹ lâu dài trong qỳa trỡnh sử dụng quỹ BHXH. định kỳ hàng tháng, quý,
năm cơ quan BHXH giữi hay trích lại một phần quỹ BHXH của mình để thành lập nên
quỹ dự phòng, dự trữ BHXH. Quỹ này chỉ được sử dụng trong những trường hợp khi
nhu cầu chi trả quá lớn dẫn đến thâm hụt quỹ BHXH như trong lúc đồng tiền mất giá
và do hội đồng quản lý quyết định.
Do sự ảnh hưởng và tầm quan trọng của quỹ BHXH , nên mục tiêu đầu tiên của
quản lý thu BHXH là phải luôn phát triển quỹ BHXH, đảm bảo quỹ BHXH luôn dương
ngành thuế , ủy ban nhân dân các cấp…. tăng cường giám sát , điều tra nắm bắt tình
hình thực tế của các doanh nghiệp trên địa bàn để tìm ra biện pháp quản lý hiệu quả .
1.3.2.3 Đảm bảo An sinh – xã hội
21
Đây là mục tiêu quan trọng nhất của quản lý thu BHXH , vì đảm bảo an sinh xã hội
cũng là mục tiêu và nhiệm vụ của toàn ngành BHXH , ngành BHXH được ra đời và
phát triển nhằm thực hiện mục tiêu này , ta đều biết : đảm bảo an sinh xã hội là tiền đề
cơ bản để ổn định chính trị và sự phát triển ,tồn tại của mỗi quốc gia .Mọi quốc gia
phát triển luôn gắn liền với sự phát triển của các chính sách an sinh xã hội .
1.3.3 Nội dung quản lý Thu BHXH
Theo Quyết định số 902/QĐ-BHXH ngày 26/6/2007 của Tổng giám đốc BHXH Việt
Nam . Nội dung quản lý Thu BHXH bao gồm :
1.3.3.1 Lập kế hoạch thu BHXH
A . Xác định đối tượng Thu BHXH
Căn cứ Luật bảo hiểm xã hội số 71/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006. Căn cứ Nghị
định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ hướng dẫn một
số điều của Luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc; Nghị định số
68/2007/NĐ-CP ngày 19 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ qui định chi tiết và hướng
dẫn một số điều của Luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc ,Quyết định số
902/QĐ-BHXH ngày 26/06/2007 của Tổng giám đốc BHXH VN
Quy định đối tượng thu BHXH bao gồm :
a. Với người lao động:
-Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công
chức;
- Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở
lên và hợp đồng lao động không xác định thời hạn theo quy định của pháp luật về lao
động, bao gồm cả xã viên, cán bộ quản lý làm việc và hưởng tiền công theo hợp đồng
lao động từ đủ 3 tháng trở lên trong các hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã thành lập, hoạt
động theo Luật hợp tác xã; người quản lý doanh nghiệp thuộc các chức danh quy định
22