Tài liệu ôn thi đại học môn văn
1.Hoàn cảnh sáng tác của “ Tiếng hát con tàu ” :
1. Tiếng hát con tàu (in trong tập Ánh sáng và phù sa , xuất bản năm 1960) được gợi cảm
hứng từ một chủ trương lớn của Nhà nước vận động nhân dân miền xuôi lên xây dựng kinh tế
miền núi vào những năm 1958 - 1960 ở miền Bắc. Nhưng xét sâu hơn, bài thơ ra đời chủ yếu
vì nhu cầu giãi bày tình cảm ân nghĩa của tác giả đối với nhân dân, đối với cuộc đời và cách
mạng.
2. Bài thơ ra đời khi chưa có đường tàu lên Tây Bắc. Hình ảnh con tàu thực chất là hình ảnh
biểu tượng, thể hiện khát vọng lên đường và niềm mong ước của nhà thơ được đến với mọi
miền đất nước. Tiếng hát con tàu , như vậy, là tiếng hát của tâm hồn nhà thơ - một tâm hồn
tràn ngập niềm tin vào lý tưởng, vào cuộc đời. Tâm hồn nhà thơ đã hóa thân thành con tàu,
hăm hở làm cuộc hành trình đến với Tây Bắc, đến với cuộc sống lớn của nhân dân. Đến với
đất nước, nhân dân cũng là đến với cội nguồn của cảm hứng sáng tạo nghệ thuật, trong đó có
thơ ca.
2.Hoàn cảnh sáng tác của Tây Tiến (Quang Dũng)
1. Khoảng cuối mùa xuân năm 1947, Quang Dũng gia nhập đoàn quân Tây Tiến. Đây là
một đơn vị thành lập năm 1947 có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào, bảo vệ biên giới
Lào - Việt, đồng thời đánh tiêu hao địch và tuyên truyền đồng bào kháng chiến.
2. Địa bàn hoạt động của đoàn khá rộng: từ Châu Mai, Châu Mộc sang Sầm Nứa rồi vòng
về qua miền tây Thanh Hóa. Lính Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội thuộc
nhiều tầng lớp khác nhau, trong đó có nhiều học sinh, trí thức (như Quang Dũng). Sinh
hoạt của họ vô cùng thiếu thốn, gian khổ: trèo đèo, luồn rừng, lội suối, ăn uống kham
khổ, ốm đau không có thuốc men (đánh trận tử vong ít, sốt rét tử vong nhiều). Tuy vậy,
họ sống rất vui và chiến đấu rất dũng cảm. Lòng yêu nước khiến họ có thể hy sinh tất
cả - "Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh ". Vì thế đoàn quân sốt rét vẫn khiến kẻ địch
phải khiếp sợ " Quân xanh màu lá dữ oai hùm"
3. Đoàn quân Tây Tiến, sau một thời gian hoạt động ở Lào, trở về thành lập trung đoàn
52. Cuối 1948, Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác. Rời xa đơn vị ít lâu, ngồi ở Phù
Lưu Chanh (một làng thuộc tỉnh Hà Đông cũ), ông viết bài thơ Nhớ Tây Tiến . (Năm
1957, khi in lại Quang Dũng bỏ chữ "nhớ", có lẽ vì cho là thừa). Bài Tây Tiến rút trong
tập Mây đầu ô (NXB Tác phẩm mới, 1986).
đường vừa kể chuyện, T.Lan lại cho biết hoàn cảnh cảm hứng của bài thơ như sau: "Khi được
thả ra, mắt Bác nhìn kém, chân bước không được, Bác quyết tâm tập đi, mỗi ngày 10 bước,
dù đau mà phải bò, phải lết cũng phải được 10 bước mới thôi. Cuối cùng Bác chẳng những đi
vững mà còn trèo được núi. Lần đầu tiên lên đỉnh núi, Bác cao hứng làm một bài thơ chữ
Hán ".
5. Hoàn cảnh sáng tác bài thơ Tâm tư trong tù
Đầu năm 1939, tình hình thế giới trở nên căng thẳng, cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai
có nguy cơ bùng nổ, thực dân Pháp trở lại đàn áp phong trào cách mạng ở Đông Dương. Cuối
tháng Tư năm ấy, Tố Hữu bị chính quyền thực dân bắt ở Huế trong một đợt khủng bố Đảng
Cộng sản. Tâm tư trong tù được viết tại xà lim số 1 nhà lao Thừa Thiên (Huế) trong những
ngày đầu tiên nhà thơ bị bắt giam. Bài thơ này mở đầu cho phần "Xiềng xích" của tập thơ Từ
ấy (1946).
6.Hoàn cảnh sáng tác của Việt Bắc
1. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp nghị Giơnevơ về Đông Dương được ký kết (tháng
7 năm 1945), hòa bình trở lại, miền Bắc nớc ta được giải phóng. Một trang sử mới của đất
nước và một giai đoạn mới của cách mạng được mở ra.
2. Tháng 10 năm 1954, các cơ quan Trung ương của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt
Bắc trở về Hà Nội. Nhân sự kiện thời sự có tính chất lịch sử ấy, Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt
Bắc. Phần đầu bài thơ tái hiện một giai đoạn khổ, vẻ vang của cách mạng và kháng chiến ở
chiến khu Việt Bắc nay đã trở thành những kỷ niệm sâu nặng trong lòng người. Phần sau nói
lên sự gắn bó giữa miền ngược và miền xuôi trong một viễn cảnh hòa bình tươi sáng của đất
nước và kết thúc bằng lời ngợi ca công ơn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng với dân tộc.
Việt Bắc là một đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là một tác phẩm xuất sắc của văn học
Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.
7. Hoàn cảnh sáng tác của Vi hành
1. Giữa năm 1922, thực dân pháp đưa Vua bù nhìn Khải Định sang Pháp dự cuộc triển lãm
thuộc địa Vecxây. Đây là một âm mưu của chúng nhằm lừa gạt nhân dân Pháp: Vị quốc
vương An Nam này đại diện cho 1 dân tộc lớn nhất ở Đông Dương, sang Pháp để tỏ thái độ
hoàn toàn quy phục "mẫu quốc" và để cảm tạ công ơn "khai hóa" của mẫu quốc. Như vậy
tình hình Đông Dương là ổn định và tốt đẹp, nhân dân Pháp nên nhiệt tình ủng hộ cuộc đầu
tâm với vầng trăng lạnh. Tất cả bắt nguồn từ bản chất của một tâm hồn yêu nước lớn, một
tấm lòng nhân đạo lớn, một cốt cách nghệ sĩ lớn.
9.Hoàn cảnh sáng tác của Tuyên ngôn độc lập
1. Ngày 19 tháng 8 năm 1945, chính quyền ở Hà Nội về tay nhân dân, Ngày 26 tháng 8
năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu cách mạng Việt Bắc về tới Hà Nội. Tại căn
nhà số 48, phố Hàng Ngang, Người soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập. Ngày 2.9.1945, tại
quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Người thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa, đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trước hàng chục vạn đồng bào.
2. Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện có giá trị lịch sử to lớn: tuyên bố chấm dứt chế độ
thực dân, phong kiến ở nước ta và mở ra một kỷ nguyên độc lập, tự do của dân tộc. Tuyên
ngôn Độc lập là một bài văn chính luận ngắn gọn, lập luận chặt chẽ đanh thép, lời lẽ hùng
hồn và đầy sức thuyết phục.
10. Tác giả Nam Cao:
1. Tiểu sử và con người
Tiểu sử: Nam Cao tên khai sinh là Trần Hữu Tri. Ông sinh năm 1915 tại làng Đại Hoàng,
tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam (nay thuộc xã Hòa Hậu, huyện
Lý Nhân, tỉnh Hà Nam).
Học xong bậc thành chung ông ước mơ đi xa nhưng không thành vì sức khỏe, trở lại quê
hương sau đó ông lên Hà Nội dạy học giữa lúc tình hình có nhiều biến động: quân Nhật đảo
chính Pháp ở Đông Dương
Năm 1943, Nam Cao tham gia hội văn hóa cứu quốc do Đảng cộng sản tổ chức và lãnh
đạo, tham gia cướp chính quyền ở địa phương. Sau cách mạng tháng Tám, ông tham gia
nhiều công tác khác nhau: công tác ở Hội văn hóa cứu quốc, Nam tiến, làm tuyên truyền,
tham gia chiến dịch biên giới
Tháng 11 năm 1951, Nam Cao đã bị địch phục kích và bắt được trên đường vào công tác
vùng sau lưng địch thuộc Liên khu III và bị chúng bắn chết ở gần Hoàng Đan (thuộc tỉnh
Ninh Bình).
3
Tài liệu ôn thi đại học môn văn
Con người: Trớc cách mạng, Nam Cao mang nặng tâm sự u uất của một người trí thức
ược coi là một nhà văn lớn, một nhà văn có vị trí hàng đầu của nền văn học Việt Nam thế kỷ
XX.
3. Quan điểm nghệ thuật
Nam Cao thường không phát biểu một cách trực tiếp quan điểm về nghệ thuật mà ông thể
hiện nó rải rác trong các sáng tác của mình: Trăng sáng (1943); Đời thừa (1943); Đôi mắt
(1948).
Trước cách mạng, quan điểm nghệ thuật của Nam Cao thể hiện ở mấy nét lớn như sau:
- Nam Cao phủ nhận nghệ thuật lãng mạn thoát li, khẳng định nghệ thuật chân chính phải
là nghệ thuật hiện thực gắn bó với đời sống, phản ánh chân thực đời sống. Người cầm bút
không được trốn tránh sự thực, dù cho sự thực ấy chẳng nên thơ chút nào.
- Quan điểm hiện thực và nhân đạo: tác phẩm văn học có giá trị không chỉ phản ánh sự
thực đời sống mà còn phải có giá trị nhân đạo sâu sắc.
- Nam Cao coi lao động nghệ thuật là một hoạt động nghiêm túc, công phu; người viết văn
phải là người có trách nhiệm, có lương tâm; ông lên án gay gắt sự cẩu thả trong nghề văn.
- Văn chương đồng nghĩa với sáng tạo tìm tòi không ngừng cả về hình thức nghệ thuật và
nội dung.
4
Tài liệu ôn thi đại học môn văn
Sau cách mạng tháng Tám, trong truyện ngắn Đôi mắt, Nam Cao đặt ra vấn đề cách nhìn
của nhà văn đối với hiện thực đời sống và con người để viết ra những tác phẩm có ích cho
cuộc đời.
4. Đặc điểm nghệ thuật viết truyện của Nam Cao
- Cách viết rất chân thực, có tầm khái quát cao, người đọc có cảm tưởng nhà văn không hề
hư cấu. Tất cả đều thật, nhưng từ những chuyện xoàng xĩnh đời thường tưởng như không có
ý đáng nói đó, nhà văn làm nổi bật những vấn đề có ý nghĩa to lớn về xã hội, nhân sinh -
nhiều truyện của Nam Cao có màu sắc triết lí sâu xa.
- Xây dựng nhân vật sống động, chân thực, trong đó có những điển hình bất hủ như Chí
Phèo, Bá Kiến, lão Hạc Sở trường miêu tả, phân tích tâm lí, có khả năng đi sâu vào những
ngõ ngách tâm tư sâu kín cùng những diễn biến phức tạp trong nội tâm con người (Đời thừa,
Chí Phèo, Một đám cưới).
những cái thật ra chỉ tầm thường xấu xí, phê phán tính chất thoát li, quay lưng lại với đời
sống nhân dân của thứ "nghệ thuật vị nghệ thuật”, Nam Cao đòi hỏi văn học phải bắt rễ từ
hiện thực, phải trở về với cuộc sống của hàng triệu con người đau khổ, phải vị nhân sinh,
5
Tài liệu ôn thi đại học môn văn
phải là "tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than" và vị trí của nhà văn phải là
“đứng trong lao khổ mà mở hồn ra đón lấy tất cả những vang vọng của đời ”
+ Với "Trăng sáng", Nam Cao đã thể hiện một quan điểm nghệ thuật sâu sắc và tiến bộ.
Nhưng Nam Cao không dừng lại ở đấy. Đến "Đời thừa", ông lại gửi gắm những suy tư và
những quan niệm sâu sắc của mình về nghề văn và sứ mệnh chân chính của người cầm bút
qua nhân vật Hộ. Qua nhân vật Hộ, Nam Cao cho rằng: "Văn chương không cần đến những
người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đã cho. Văn chương chỉ dung nạp được những
người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa
có". Câu nói ngắn gọn nhưng nó đã thâu tóm những yêu cầu thật gắt gao, nghiêm túc đối với
người sáng tác văn chương. Nghệ thuật đồng nghĩa với sự sáng tạo, nhưng đó cũng không
phải là đi tìm cái lạ một cách màu mè, hình thức mà phải là khám phá cho được sự thật. Cũng
trong tác phẩm này, qua những quan niệm hết sức đúng đắn và nghiêm túc của Hộ về nghề
văn, Nam Cao cho rằng: Nghề văn là một thứ lao động xã hội nghiêm túc đòi hỏi cao về trách
nhiệm và lương tâm: "Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương rồi. Nhưng sự
cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện" và mục đích của văn chương là nhân đạo: "Một
tác phẩm thật giá trị, phải vượt lên trên tất cả các bờ cõi Nó phải chứa đựng một cái gì lớn
lao, mạnh mẽ, bác ái, sự công bình Nó làm cho người gần người hơn".
+ Truyện ngắn "Đôi mắt" được viết trong thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp (1948),
là thời điểm "tìm đường" và "nhận đường" của lớp văn nghệ sĩ thuộc thế hệ trước Cách
mạng tháng Tám . Qua cách nhìn người và nhìn đời của hai nhà văn Hoàng - con người có cái
nhìn phiến diện, sai lệch và Độ - con người có cách nhìn đúng đắn, toàn diện, độ lượng và
thông cảm với người lao động; Nam Cao đã đặt ra trong tác phẩm của mình một vấn đề hết
sức quan trọng đối với hoạt động sáng tạo nghệ thuật: Đó là cách nhìn của nhà văn đối với
hiện thực đời sống, con người để viết ra những tác phẩm có ích cho đời.
Đề 3: Trình bày quan điểm nghệ thuật của Nam Cao. Chứng minh rằng Nam Cao đã
học vào dạy học ở tỉnh Bình Định lấy bà hai sinh ra Xuân Diệu - Xuân Diệu học được ở cha
đức tính cần cù, kiên nhẫn trong rèn luyện tài năng và lao động nghệ thuật.
Sinh ra và lớn lên ở quê mẹ: Biển Qui Nhơn với những cơn "gió nồm thổi lên tươi mát" và
những con sóng biển muôn đời dào dạt đã tác động không nhỏ đối với hồn thơ nồng nàn sôi
nổi của ông.
Là con vợ lẽ, phải xa mẹ từ nhỏ và thường bị hắt hủi thiệt thòi lúc còn ấu thơ, cùng với
những nỗi niềm khuất kín của một người cả đời một mình với thơ Hoàn cảnh ấy khiến
Xuân Diệu luôn khao khát tình thương và sự cảm thông của người đời.
2. Sự nghiệp
Xuân Diệu là một tài năng nhiều mặt, nhưng trước hết ông là một nhà thơ lớn của nền văn
học Việt Nam: "người đã đem đến cho thơ ca nhiều cái mới nhất" (Vũ Ngọc Phan - Nhà văn
hiện đại). Như số đông các nhà thơ Mới đi theo cách mạng, Xuân Diệu có 2 giai đoạn sáng
tác chủ yếu trước và sau cách mạng.
a) Trước cách mạng: Với các tập : "Thơ thơ" 1938, "Gửi hương cho gió" (1945) Xuân
Diệu trở thành nhà thơ "mới nhất trong những nhà thơ mới", thơ ông luôn rạo rực tình yêu,
vội vàng, giục giã mọi người hưởng thụ vẻ đẹp thiên nhiên, tình yêu, cuộc sống. Say đắm
nồng nàn vồ vập nhưng vẫn đơn côi bơ vơ. Đó là 2 mặt đối lập mà thống nhất trong tiếng thơ
Xuân Diệu thời kỳ này.
Thơ Xuân Diệu đổi mới nhiều trong cảm nhận và diễn đạt. Chịu ảnh hưởng sâu sắc của thơ
lãng mạn phương Tây từ cảm hứng đề tài, đến tứ thơ, nhịp điệu cú pháp cùng ý thức cái tôi cá
nhân. Đồng thời Xuân Diệu vẫn học hỏi ở thơ Phương Đông cổ xưa. Nhờ vậy thơ ông thể
hiện được những nét tinh vi tế nhị của lòng người, của cảnh sắc thiên nhiên, được đông đảo
độc giả say mê ngưỡng mộ.
b) Sau cách mạng: Nhiều tập thơ ra đời tiếp tục khẳng định năng lực và bút lực của Xuân
Diệu: Riêng chung (1960), Mũi Cà Mau - Cầm tay (1962) Một khối hồng (1964) Tôi giàu đôi
mắt (1970).
Khắc phục tâm trạng buồn bã cô đơn thời trước, thơ Xuân Diệu giờ ca ngợi cuộc sống mới
xây dựng và chiến đấu, thể hiện sự gắn bó hòa hợp giữa cái riêng và cái chung, giữa cá thể thi
sĩ và tập thể nhân dân. Nhà thơ khẳng định:
Tôi cùng xương cùng thịt với nhân dân tôi
Thơ Xuân Diệu bộc lộ niềm ham muốn vô biên tuổi trẻ và tình yêu. Ông luôn hối hả giục
giã kêu gọi mọi người hưởng thụ tình yêu và tuổi trẻ.
+ Biểu hiện qua những cách tân về nghệ thuật:
Nguồn sống rạt rào chưa từng thấy của thơ Xuân Diệu còn xuất phát từ giọng điệu thơ mới
mẻ, cuốn hút, từ lối xây dựng hình ảnh, sử dụng ngôn từ độc đáo hấp dẫn.
+ Lý giải : Nguồn sống rào rạt của thơ Xuân Diệu nằm trong không khí chung của trào lưu
thơ mới đương thời.
+ Ý nghĩa: Thơ lãng mạn Xuân Diệu là một trong những luồng gió mới lạ nhất thời trên thi
đàn dân tộc thời kỳ này. Nó mang đến cho bạn đọc niềm vui sống, một triết lý sống mới mẻ,
tích cực cho đến hôm nay vẫn chưa hề xưa cũ.
c) Kết luận: Khẳng định sức sống trường tồn của thơ Xuân Diệu
TỐNG BIỆT HÀNH
Thâm Tâm
A.Yêu cầu
- Thấy được vẻ đẹp nhân tính, bi hùng của hình tượng li khách
- Nắm được những đặc sắc nghệ thuật: Đề tài, thể loại, ngôn ngữ.
- Bình giảng được một số đoạn thơ
B.Kiến thức cơ bản
I. Về tác giả - tác phẩm
1. Tác giả:
Thâm Tâm (1917 - 1950) tên thật là Nguyễn Tuấn Trình, sinh tại thị xã Hải Dương (thuộc
tỉnh Hải Dương ngày nay) trong một gia đình nhà giáo nghèo. Từ năm 1938, Thâm Tâm cùng
gia đình lên sống ở Hà Nội và bắt đầu sáng tác thơ văn. Giá trị nhất trong sự nghiệp của
Thâm Tâm vẫn là thơ. Thơ Thâm Tâm có chất giọng riêng - nhất là ở những bài hành, giọng
thơ thường phảng phất hơi thơ cổ. Một số bài thơ của Thâm Tâm cho thấy tâm sự u uất, lòng
yêu nước kín đáo và khát vọng lên đường vì lí tưởng. Kháng chiến bùng nổ, Thâm Tâm làm
công tác văn nghệ trong quân đội, ốm và qua đời năm 1950.
2. Tác phẩm :
8
Tài liệu ôn thi đại học môn văn
Ba năm mẹ già cũng đừng mong"
Người ra đi nói bằng một giọng điệu khảng khái, quyết tâm cao độ, thể hiện tinh thần hăng
hái, quyết chí ra đi vì nghĩa lớn. Các từ phủ định: "chưa về", "không bao giờ", "đừng mong"
thể hiện một ý chí sắt đá, một quyết tâm không gì lay chuyển nổi. Quyết thực hiện đến cùng
chí lớn, nếu chí lớn chưa thành thì không trở về. Tư thế một đi không trở lại của ly khách có
thể so sánh với hình ảnh Kinh Kha sang Tần; hình ảnh người chiến sĩ trong bài thơ Tây Tiến
(Quang Dũng):
Tây Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.
Hoặc hình ảnh người ra đi trong bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi:
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy
- Trong cách nói của người ra đi thể hiện hùng khí của những người tráng sĩ xưa, những
con người sẵn sàng ra đi xả thân vì nước, không vướng bận một chút riêng tư, kiên quyết gạt
bỏ những tình riêng nhỏ nhặt. Nhưng đây không phải là con người thời xưa, Thâm Tâm là
một nhà thơ lãng mạn thế kỷ XX, ông tất phải thể hiện trong thơ mình tư tưởng, tình cảm của
9
Tài liệu ôn thi đại học môn văn
con người thời đại. Chính vì vậy, người ra đi hôm nay vừa có điểm giống với người xưa (ý
chí sắt đá, quyết tâm cao) vừa có những điểm khác so với người tráng sĩ ngày xưa: Ra đi
trong muôn vàn nhớ thương của người thân, người ly khách mang một nỗi niềm bâng khuâng
thương nhớ.
- Hoàn cảnh người ra đi: Mẹ già bóng ngả về chiều, hai chị gái như sen cuối mùa, em còn
bé thơ Bổn phận của người con trai lớn phải là phụng dưỡng, chăm sóc mẹ già; chăm sóc
chị, bảo ban em nhỏ thơ ngây. Người ra đi trong muôn vàn nhớ thương của mẹ của chị, của
em. Tình cảm những ngời thân thật quyến luyến, nhất là chị và em:
- Một chị hai chị cũng như sen
Khuôn nốt em trai dòng lệ sót
Người đi ? Ừ nhỉ, cùng đi thực !
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say
Cách diễn tả trùng điệp, có nhiều cách hiểu khác nhau:
+ Những người ở lại (Mẹ, chị, em) coi người ra đi là chiều lá bay, là hạt bụi, là hơi rượu
say như một chị, em là chiếc lá bay, là hạt bụi, là hơi rượu say Những cách hiểu này có
phần không phù hợp với tình cảm kẻ ở người đi.
10
Tài liệu ôn thi đại học môn văn
+ Người ra đi xin người ở lại (mẹ, chị, em ) hãy coi mình như chiếc lá, như hạt bụi, như
hơi rượu say Cách hiểu này có phần hợp lý, nó phù hợp với tâm trạng và hoàn cảnh người
ra đi vì một nghĩa lớn, một chí lớn nhưng trong cõi lòng người đi vẫn chan chứa những đớn
đau dằn vặt và cào xé
3. Những đặc sắc về nghệ thuật
- Bài thơ có những nét trang trọng cổ kính: Sử dụng đề tài, thể loại quen thuộc của thơ cổ,
sử dụng từ Hán Việt nhưng vẫn mang dấu ấn của thơ mới: Tâm trạng đa dạng, phong phú
phức tạp với những giằng xé nội tâm
- Giọng thơ vừa rắn rỏi gân guốc, vừa tha thiết bâng khuâng. Ví dụ trong 4 câu thơ đầu có
sự đan xen giữa các câu thơ nhiều thanh bằng và câu thơ nhiều thanh trắc vừa góp phần diễn
tả vẻ ngoài bình thản, dửng dưng của người ra đi và người ở lại vừa diễn tả những tâm trạng
xao xuyến rối bời của người ở, người đi.
C.Định h ướng đề, gợi ý giải
Đề 1. Phân tích bài thơ "Tống biệt hành" của Thâm Tâm để thấy được vẻ đẹp của
hình tượng ly khách.
Gợi ý: Sử dụng nội dung kiến thức mục 2 phần kiến thức cơ bản, chú ý làm rõ 2 nét chính
trong hình tượng ly khách.
- Dứt khoát kiên quyết lên đường theo tiếng gọi của lý tưởng.
- Nỗi niềm bâng khuâng thương nhớ.
Qua việc phân tích mâu thuẫn trong tâm trạng người đi làm nổi rõ vẻ đẹp bi hùng của hình
+ Hàng loạt từ "không" được sử dụng không làm át được cái "có" hiển hiện trong lòng
người: nhớ thương, bồi hồi xao xuyến, buồn.
- Đoạn thơ trên và cả bài thơ "Tống biệt hành" có một giọng điệu riêng: bâng khuâng, rắn
rỏi, quyết liệt. Nghệ thuật sử dụng từ ngữ, hình ảnh ở đây rất tài hoa, tác giả dùng vần bằng,
phụ âm vang tạo nên sự lan toả, các câu hỏi tu từ, những điệp từ làm tăng thêm chất nhạc và
độ sâu cảm xúc làm "sống lại cái không khí của nhiều bài thơ cổ. Nhưng vẫn đượm chất bâng
khuâng, khó hiểu của thời đại" (Hoài Thanh).
ĐÂY MùA THU TớI
Xuân Diệu
A.Yêu cầu
Nắm được những kiến thức cơ bản:
1. Đặc sắc mùa thu Việt Nam trong cảm nhận của Xuân Diệu
2. Đặc sắc trong cách thể hiện của Xuân Diệu
B.Kiến thức cơ bản
I. Tìm hiểu về tác giả và bài thơ
a) Xuân Diệu (1916 - 1985) là một trong những nhà thơ xuất sắc của thơ ca lãng mạn Việt
Nam 30 - 45. Thơ ông là tiếng nói của một tâm hồn thiết tha yêu đời, khát khao giao cảm với
đời mãnh liệt. Hồn thơ Xuân Diệu luôn nhạy cảm với mọi biến thái của tạo vật và lòng người.
b) "Đây mùa thu tới" trích trong tập thơ "Thơ thơ" (1938) cả bài thơ là niềm cảm xúc dạt
dào của thi nhân trước cảnh đất trời mới chớm vào thu. Đây là bức tranh thu buồn nhưng rất
đẹp, rất nên thơ. Bức tranh thu được tác giả miêu tả ở nhiều khung cảnh, nhiều thời điểm
khác nhau và được cảm nhận từ gần đến xa, từ thấp đến cao, từ cụ thể đến mơ hồ, bằng mọi
giác quan bén nhạy, tinh tế cùng toàn bộ linh hồn của cái tôi cô đơn. Bởi vậy cảnh thu hiện ra
vừa đa dạng về đường nét vừa phong phú về màu sắc.
c) Về cảm hứng cũng như về ý tứ, bài thơ dường như không có gì mới lạ. Mùa thu hiện
diện trong văn chương xưa và trong thơ mới khá nhiều. Trong chương trình văn học bậc
THPT đã có chùm thơ về mùa thu của Nguyễn Khuyến. Trong văn thơ trước phong trào thơ
mới đã có bài "Giọt lệ thu" của nữ sĩ Tương Phố và bài "Cảm thu, tiễn thu" của thi sĩ Tản Đà,
"Tiếng thu" của Lưu Trọng Lư Những hình ảnh liễu rủ, hoa rụng, cành khô, trăng, mây,
chim cũng đã thường được sử dụng nhiều.
thể hiện được vẻ đẹp của cây lá, lại vừa thể hiện được chiều sâu của tâm trạng. Liễu chẳng
khác nào thiếu nữ buồn xóa tóc đẫm lệ:
"Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng:"
Vẫn là lá liễu đấy khi nhìn qua con mắt của niềm vui sẽ trở thành "liễu buông tơ" khi nhìn
qua con mắt của nỗi buồn sẽ trở thành "tóc buồn" buông xuống khi nhìn qua con mắt của nỗi
sầu trở thành "lệ ngàn hàng" tuôn chảy. Đây là ẩn dụ kép diễn tả nỗi buồn ngày càng tăng.
Như vậy cảnh đã được khúc xạ qua tâm trạng. Nỗi buồn không chỉ thể hiện ở hình ảnh mà
toát ra trong từng âm thanh âm "iu" (đìu, hiu, chịu) âm "ang (tang, ngân, hàng) phụ âm "b"
(buồn, buông) tạo nhạc điệu buồn, du dương, mơ màng. Vì vậy buồn mà vẫn đẹp, vẫn yểu
điệu, tha thướt một vẻ đẹp quí phái trang nhã. Như ban đầu ta đã xác định thu đang ở trạng
thái khởi sự nghĩa là đây là cảnh giao mùa nên sự tàn tạ của mùa hè cha đi hết còn để lại
trong dáng hình của liễu. Cái vui của mùa sau chưa đến nên cảnh lộ rõ vẻ đìu hiu hoang vắng.
Bởi vậy liễu ở trong trạng thái nửa chia li, nửa đợi chờ.
"Đây mùa thu tới ! Mùa thu tới
Với áo mơ phai dệt lá vàng"
Ở hai câu trên Xuân Diệu đã khéo chọn một khoảnh khắc thời gian đặc biệt để qua đó thể
hiện một tâm trạng cố hữu: Nỗi buồn mang tính u hoài. Câu thơ thứ 3 có sự chuyển đổi: Liễu
đang buồn bã như mong đợi điều gì bỗng cất lên:
"Đây mùa thu tới ! Mùa thu tới"
Câu thơ 2 vế: Vế một điệp lại toàn bộ tiêu đề bài thơ. Vế 2 điệp lại nhưng bỏ đại từ chỉ thị
"Đây". Sự điệp lại ấy nhấn mạnh sự chào đón. Dấu hai chấm ở cuối dòng thơ trên cùng từ chỉ
định "Đây" khiến lời giới thiệu thêm trang trọng. Sự điệp này diễn đạt một cách tinh tế bớc đi
của thời gian. Điệp ngữ "mùa thu tới" khiến cho giọng thơ gấp gáp hơn, vội vã hơn thể hiện
tâm trạng náo nức có chút gì thảng thốt bâng khuâng:
"Với áo mơ phai dệt lá vàng"
Chữ "dệt" thần diệu đặt giữa câu thơ xôn xao một màu vàng, cái màu vàng của lá vừa tách
khỏi cành lặng lẽ trong hành trình về với đất mẹ. Trước khi tan rữa vào bùn đất, đã giải tỏa
tất cả năng lượng tích lũy trong suốt đời lá dệt vào đất trời tấm áo thu lộng lẫy kiêu xa.
Cảm nhận về màu sắc của Xuân Diệu thật tinh tế. Bằng hình thức so sánh thi nhân đã cảm
nhận được cái kỳ diệu của đất trời trong giây phút đổi thay. Đây đúng là mùa thu trong thơ
lệ tượng trưng còn Xuân Diệu thiên về diễn đạt thật chính xác cái mơ hồ mong manh "Hơn
một" nghĩa là không còn một hoặc không biết bao nhiêu. Nếu viết mấy loài hoa thì ít quá.
Câu thơ này được Thế Lữ chữa lại là "Đã mấy loài hoa rụng dưới cành". Nếu là "rụng dưới
cành" diễn tả một cái gì đó ổn định tĩnh lặng. Dụng ý của tác giả là diễn tả thu trong trạng
thái vận động, bởi vậy sau này Xuân Diệu phục hồi lại khi in bài thơ để xuất bản.
Động từ "rủa" ở câu sau cho ta thấy một sự quan sát tinh vi của thi sĩ. Có người cho rằng
đây là màu đỏ "rủa" màu xanh nghĩa là màu đỏ và màu xanh không hòa hợp. Xuân Diệu
không tán đồng ý kiến này mà xem "rủa" là lấn dần, ăn mòn dần. Sắc đỏ cứ lấn dần sắc xanh
từng tý một khó nhận thấy đến một sáng nào đấy nhìn ra cả vườn thu đã đỏ rực. Xuân Diệu
diễn tả tinh vi thanh nhã sự phôi pha trên màu lá, sự phôi pha trên từng hạt diệp lục. Ta không
chỉ thấy thu đến trên từng vòm lá, những dòng sông, những chân trời, những tầng nắng ta còn
thấy thu đến trong từng hạt diệp lục tàn phai màu. Nếu màu xanh thuộc về mùa hạ, thì màu
đỏ là mùa thu. Trên từng chiếc lá, người ta thấy thu về và đang tranh chấp với mùa hạ. Màu
đỏ lấn tới đâu, màu xanh phôi pha tới đó. Mùa thu lan đến đâu mùa hạ lùi bước đến đó.
"Trong vườn sắc đỏ rủa màu xanh" câu thơ khác nào như đã thu nhỏ cả cuộc đổi mùa lớn lao
vào một góc vườn, một chiếc lá đang phai. Màu lá đỏ chỉ ứng với một vài cây như cây bàng
nhưng có lẽ cần một sự tương phản nên Xuân Diệu chọn đỏ đối với xanh. Hai câu dưới của
khổ thơ đợc xem là tuyệt bút.
"Những luồng run rẩy rung rinh lá
Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh"
Mùa thu tới những cơn gió lạnh đầu mùa làm cho cỏ cây run rẩy. Trong thơ cổ điển cũng
đã có những câu thơ sử dụng nghệ thuật láy âm láy ý đầy hấp dẫn:
"Đầu tường lửa lựu lập lập lòe đơm bông" (Nguyễn Du)
"Làn ao lóng lánh bóng trăng loe" (Nguyễn Khuyến)
14
Tài liệu ôn thi đại học môn văn
Ở đây Xuân Diệu sử dụng kỹ thuật láy phụ âm rung "r" rất tài tình làm cho câu thơ gợi
cảm giác rất mạnh và tạo nên một nhạc điệu riêng. Câu thơ không chỉ cho ta thấy một sự
quan sát lắng nghe tinh tế những biến thái tinh vi của thiên nhiên mà còn là sự giao cảm bên
trong, những rung động mong manh của tâm hồn thi sĩ. Đó là cái run rẩy của lá hay cái run
Khổ 3.
Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ
Non xa khởi sự nhạt sương mờ
Đã nghe rét mướt luồn trong gió
Đã vắng người sang những chuyến đò
Thu đã định hình. Khổ 3 tả trăng, sương, gió.
Những câu thơ của khổ thứ 3 này mang đậm phong cách cổ điển, cổ điển trong từng hình
ảnh. Thơ xưa khi miêu tả mùa thu thường lấy trăng và non làm nét cảnh quan đặc thù. Với
Xuân Diệu cổ điển mà hiện đại bởi "nàng trăng" thì tự ngẩn ngơ, "non xa" thì khởi sự. Khổ
thơ cảm nhận mùa thu tới trong nỗi cô đơn. Gớt đã từng nói "Cô đơn là điểm xuất phát của
nghệ thuật". Có lẽ khi nói điều này thi sĩ danh tiếng ngời Đức đã trở về đúng cội nguồn tâm
hồn người nghệ sĩ và đấy cũng là cội nguồn nghệ thuật. Nỗi buồn trước sự chuyển đổi của đất
trời ở Xuân Diệu dẫn đến cảm giác cô đơn trong tâm hồn thi sĩ, đó là điều tất yếu. Cảm giác
cô đơn được khơi gợi từ cảm nhận giữa thiên nhiên bao la. Một nét ngẩn ngơ tư lự mà thăm
15
Tài liệu ôn thi đại học môn văn
thẳm nỗi niềm của nàng trăng. Một dãy núi nhạt nhòa sương giăng như nỗi buồn xa vắng,
một bến đò lạnh lẽo vắng khách sang sông.
Bằng lối quan sát và cảm nhận tinh tế của hồn thơ nhạy cảm Xuân Diệu đã mở rộng bức
tranh thu tới cảnh vật ở nơi cao, nơi xa. Vầng trăng thu mang vẻ đẹp riêng: có khi lung linh
huyền ảo, có khi mơ màng trong sương khói. Với Xuân Diệu là "tự ngẩn ngơ". Mùa thu đến
tạo nên những đổi thay trong đêm thu nên vầng trăng cũng mờ ảo tự ngẩn ngơ. "Tự ngẩn
ngơ" chứ không phải bị ngẩn ngơ. Nhà thơ đã hóa thân vào đối tượng để cảm nhận cái trạng
thái ngẩn ngơ từ bên trong. Cái khác biệt giữa Xuân Diệu (nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ
mới) với thi sĩ xưa chính là ở điểm này. Thu đến cái lạnh thấm vào mây trời làm cho hình ảnh
của núi non trở nên nhạt nhòa trong sương mờ "Non xa khởi sự nhạt sương mờ". Hai chữ
"khởi sự" là nói lên sự bắt đầu.
Ta cũng bắt gặp ở khổ thơ này một cảm giác đầy ấn tượng bởi lối diễn đạt hết sức mới:
"Đã nghe rét mướt luồn trong gió". Động từ "luồn" là do Xuân Diêu gán cho thiên nhiên.
Thiên nhiên ở đây chỉ có gió và rét, cố nhiên đó là gió đông bắc. Chữ "luồn" tách gió và rét ra
Hai câu đầu tả bầu trời và đám mây vần vũ, cánh chim bay đi chia lìa. Hai câu sau thu xâm
lấn lòng ngời cụ thể ở đây là thiếu nữ. Thu đã chiếm trọn đợc nơi sâu nhất của cõi này.
16
Tài liệu ôn thi đại học môn văn
Mở đầu bài thơ là hình ảnh rặng liễu. Liễu đợc đặt ứng đối với dáng hình thiếu nữ. Giữa
bài thơ là hình ảnh trăng tự ngẩn ngơ. Trăng cũng đợc đặt trong sự ứng đối với thiếu nữ (nàng
trăng) và kết thúc bài thơ là hình ảnh con ngời (ít nhiều thiếu nữ). Ngời thiếu nữ cũng là một
nét cảnh quan nhng là nét cao nhất, là cảnh quan biết cảm thụ, nghe đợc tất cả cái vắng lạnh
cô đơn từ các cảnh quan khác dồn tới mà buồn. Thiếu nữ ở đây mới là con ngời cụ thể đang
tồn tại.
Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói
Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì.
Trạng thái buồn không xác định lý do, t thế nghĩ ngợi không xác định duyên cớ. Bài thơ
dừng lại ở một trạng thái một t thế. Nó không khép lại trong một kết luận mà để ngỏ dành cho
sự liên tởng, sự cảm nhận riêng của từng ngời đọc. Khuynh hớng thể hiện ở thơ mới là gợi
mở. Ngời thiếu nữ lặng im, một t thế, một ánh mắt, một khoảng không xa vời. "Tựa cửa nhìn
xa nghĩ ngợi gì". Đúng là tâm trạng của lứa tuổi mới lớn, vui đấy mà lại buồn ngay đấy.
Bài thơ kết thúc ở chỗ ngời đọc bắt đầu cảm giác đợc cái điều thiếu nữ không nói và bài
thơ cũng không nói. Cái điều mà bài thơ không nói, thiếu nữ không nói phải chăng chính là
điệu hồn Xuân Diệu. Khi hồn ta rung lên hòa nhập với Xuân Diệu thì cũng chính là lúc mùa
thu hoàn tất hành trình của mình.
Định h ớng đề - Gợi ý giải
Đề 1. Bình giảng khổ thơ 1
Đề 2. Bình giảng khổ thơ 2
Đề 3. Bình giảng khổ thơ 3
Đề 4. Bức tranh thu và điệu hồn Xuân Diệu trong "Đây mùa thu tới".
Bài giảng đã thực hiện trọn vẹn 4 đề nên không làm đáp án.
Gợi ý đề 1:
1. Giới thiệu vài nét về nhà thơ Xuân Diệu và đoạn trích cần bình giảng trong mối quan hệ
với toàn bài thơ "Đây mùa thu tới" (kiến thức phần tác giả - tác phẩm).
bài thơ thu trác tuyệt. Tản Đà, Nguyễn Khắc Hiếu con ngời thuộc về 2 thế kỷ cũng mợn "cảm
thu, tiễn thu" để bấc nhịp cầu nối về hai nẻo thi ca. Với các thi nhân cùng thời Xuân Diệu,
mùa thu là cả nỗi niềm riêng của mỗi ngời. Trớc cách mạng thu bao giờ cũng đẹp mà buồn:
khi thì man mác bâng khuâng (Thu rừng - Huy Cận) khi thì huyện diệu mờ ảo (Tiếng trúc
tuyệt vời - Thế Lữ) khi thì lạnh lùng chán chờng (Thu - Chế Lan Viên). Khi thì ngỡ ngàng
ngơ ngác (Tiếng Thu - Lu Trọng L).
Trong âm hởng của tiếng đàn thu muôn điệu ấy, Đây mùa thu tới của Xuân Diệu vẫn có
nét riêng. Xuân Diệu lấy chất liệu mùa xuân "liễu" để miêu tả mùa thu, khiến mùa thu hiện
lên với vẻ thanh tân quyến rũ. Nhà thơ còn tấu lên trong lòng ngời giai điệu dịu dàng mà tha
thiết, êm ái mà xôn xao trong bớc chân lặng lẽ mà mau lẹ của thời gian, khuyến dụ ngời thêm
yêu cuộc sống, tận hởng cuộc đời. Cái tài của thi nhân chính là với một đề tài quen thuộc mà
không trùng lặp, sáo mòn. Chắc chắn màu mơ phai của thơ Xuân Diệu đã để lại những ấn t-
ợng không thể mờ phai trong tâm hồn nhiều thế hệ độc giả.
THƠ DUYÊN
Xuân Diệu
A.Yêu cầu
Học sinh phải nắm đợc những đơn vị kiến thức
1. Một bài thơ thu trong sáng, hòa hợp tơi tắn
2. Cái nhìn của Xuân Diệu trớc mùa thu
3. Đặc sắc của từng khổ thơ
B. Kiến thức cơ bản
I. Tìm hiểu chung về bài thơ
- Bài thơ viết về đề tài tình yêu trong trạng thái khởi điểm bén duyên của tình ngời đợc thể
hiện qua không gian nghệ thuật đẹp huyền diệu mộng mơ. Trong đó cảnh giao hòa với cảnh,
tình giao hòa với tình, tình giao hòa với cảnh. Từ đó thể hiện sự tự ý thức về bản thân một cái
tôi cô đơn buồn sầu.
- Bài thơ ngoài cảm hứng trạng thái tâm lý yêu đơng rung động đầy đắm đuối lại đan xen
những suy ngẫm mang màu sắc triết lý.
- Bài thơ có hai nhân vật trữ tình: anh và em. Hai nhân vật này nằm trong mối quan hệ
giao hòa của tình ngời nhng lại là đối tợng cảm nhận của thi sĩ. Do đó, đối tợng trữ tình xuất
trong thơ Xuân Diệu, là không gian của cảm xúc, của nỗi niềm rung động, là bối cảnh của sự
tác hợp cơ trời (không gian tâm lý hóa). Một sự giao hòa linh diệu giữa cảnh và cảnh đang
diễn ra. "Chiều mộng hòa thơ", hòa thơ ở đâu ? trên nhánh duyên. Trên cây me cặp chim
chuyền đang giao hòa. Âm thanh của sự giao hòa ấy: "ríu rít" âm thanh vừa ấm áp vừa khêu
gợi đầy ấn tợng. Cặp chim chuyền chứ không phải là hai hay đôi. Hai hay đôi mới chỉ là số l-
ợng, còn "cặp" có ý gắn bó thân mật, hòa quyện trong mối tơng giao khăng khít. Một sự hòa
hợp tăng cấp. Cặp chim ấy đang hót, đang trò chuyện rất vui vẻ, rất tình cảm, tiếng xen tiếng,
giọng xen giọng lời nối lời, tởng chừng bất tận. Cú pháp của câu thơ khiến đọc lên, ta tởng
nh cây me cũng theo cặp chim mà ríu rít lên: "cây me ríu rít"
Bao quát cả chiều thu là bầu trời xanh, xanh nh ngọc, xanh ngọc. Thật sự trời thu không
xanh nh thế, trời "xanh ngọc" bởi vì bầu trời đợc nhìn qua muôn lá cây lổ đổ, cây vì trời mà
xanh thêm, trời nhờ lá cây mà có màu xanh ngọc.
"Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá"
Hình ảnh thơ ở câu thứ ba này cũng thật gợi cảm, ta cảm nhận theo cái màu xanh ngọc qua
muôn lá kia vạn vật đang giao hòa với nhau.
Dấu ấn nhạc cảm ở câu thơ thứ 4 đợc biểu hiện qua một cấu trúc giải thích: "Thu đến nơi
nơi động tiếng huyền". Thu đến là hiện tợng của thiên nhiên, còn động tiếng huyền là cảm
nhận của con ngời. Sự tinh tế mẫn cảm của con ngời đã chuyển kênh cảm giác: Từ thị giác
sang thính giác đến xúc giác để lột tả đợc cái h ảo huyền diệu của không gian thu, tiếng của
h vô cảm xúc, âm thanh của lòng ngời rung động khi vào thu. Qua hiện tợng âm thanh này,
tác giả tô đậm ấn tợng không gian giăng mắc giao hòa, con ngời cảm nhận nó chứ không phải
phủ vào cảnh cái tình của mình. Tiếng huyền theo lời của Xuân Diệu, ta nhận ra tiếng ấy là
một âm thanh trải rộng khắp cả không gian mùa thu, một tiếng nói, một âm thanh, một thứ
âm nhạc riêng của mùa thu có thể nghe đợc, một thứ tiếng thì thầm, rất lạ lùng, ẩn chứa phép
màu, ẩn chứa sự huyền bí. Xuân Diệu, trong một bài thơ khác có viết :
19
Tài liệu ôn thi đại học môn văn
"Những lời huyền bí bốc lên trăng"
Trong "Thơ duyên" không phải lời mà là tiếng, bởi vì đây không phải là lời nói của ngời,
mà là tiếng của thiên nhiên, của muôn lời, của cả tạo vật, của vũ trụ. Nhng tại sao là tiếng
những tình ý vấn vơng hòa nhập với những rung động của lòng mình:
Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn
Lần đầu rung động nỗi thơng yêu
Đây là những rung động ban đầu khẽ khàng, tinh tế. Nếu gọi rõ tên của rung động ấy thì đó
chính là sự xuất hiện của tình yêu. Nhng đây là những rung động lần đầu của đời ngời nên
ngời ta thờng không biết nên gọi nó là gì. Vả lại trong trờng hợp này những rung động ấy lại
là do duyên cơ trời tác hợp. Xuân Diệu xác định đó là nỗi thơng yêu. Trong tiếng Việt hai từ
"thơng" và "yêu" dùng để chỉ hai sắc thái tình cảm khác nhau, nhng thơng và yêu ghép lại thì
lại có nghĩa khác, vừa đậm hơn vừa nhạt hơn ý nghĩa của mỗi từ riêng lẻ. Vả lại nỗi thơng
yêu cha phải lòng, hay tình chỉ mới là một tâm trạng, một sự bắt đầu. Sự xuất hiện của trạng
thái tâm hồn này cũng lạ. Nguyên do là: Nghe ý bạn, không phải lời hay tiếng bạn, bởi vì bạn
có nói gì đâu nhng đã tỏ ý, tỏ bằng cách nào ta không biết. Chỉ có ngời trong cuộc mới biết.
Xuân Diệu nói "nghe ý" ngôn từ xem chừng khó hiểu nhng quả là đúng thể. Nghe lại không
nghe bằng tai mà lại nghe bằng lòng, bằng tâm hồn, lòng ta nghe. Đây là một tình cảm diễn
20
Tài liệu ôn thi đại học môn văn
đạt ngầm, là sự cảm thông giữa hai tâm hồn tự nhiên mà có, hồn nhiên mà đến. Sự xuất hiện
của tình đầu đợc Xuân Diệu diễn tả thật tinh tế.
Nh vậy cảm giác giao hòa với cảnh ở cả hình ảnh và âm thanh đã xui lòng ngời hòa hợp,
gợi ở lòng ngời rung động. Tình giao hòa với tình diễn ra trong một cảm xúc đầy biến động
choán ngợp ngây ngất giữa lòng ta và ý bạn. Lòng ta và ý bạn đợc thiết lập quan hệ bởi sự
rung động thơng yêu. Tác giả sử dụng hai trạng ngữ chỉ thời gian đứng đầu câu thơ: "Buổi
ấy", "lần đầu" là dấu hiệu khởi điểm của sự giao hòa, của sự bén duyên. Ta cảm nhận đợc
tâm hồn nhà thơ đang dâng lên nỗi khát khao giao cảm và những rung động của tình yêu buổi
ban đầu.
Khổ 3:
Em bớc điềm nhiên không vớng chân
Anh đi lững đững chẳng theo gần
Vô tâm nhng giữa bài thơ dịu
Anh với em nh một cặp vần
Trong chiều thu bây giờ đã có tình yêu xuất hiện và lòng ngời đã nhìn chiều thu qua đôi
mắt của lần đầu rung động nỗi thơng yêu. Trong cảnh trời chiều có nỗi xôn xao của hạnh
phúc và cả nỗi lo âu. Có sự hăm hở và cả nỗi e ngại.
21
Tài liệu ôn thi đại học môn văn
Cảnh chiều thu chuyển dần theo thời gian đi vào thời khắc hoàng hôn: Một làn mây biếc,
một cánh cò trên ruộng lúa, một đàn chim sải cánh bay và sơng đã thấm lạnh những bông hoa
trong cái nắng nhạt tha của buổi chiều muộn. Khổ thơ có đủ những hình ảnh quen thuộc đặc
trng cho cảnh hoàng hôn trong thơ cổ điển phơng Đông. Bốn câu thơ gợi âm hởng Đờng thi.
Hình ảnh làn mây, cánh chim, con cò, hoa lạnh là những hình ảnh ẩn dụ có ý nghĩa tợng trng
cho thân phận con ngời. Hai câu đầu là ý thức về sự cô đơn lạc loài, hai câu sau là nỗi buồn
hoang vắng của lòng ngời. Nhà thơ sử dụng triệt để phép đối. Cặp đối thứ nhất là câu 1 và
câu 2, cặp đối 2 là câu 3 và câu 4. Khổ thơ giàu chất cổ điển đợc kết cấu bằng quan hệ đối để
hội nghĩa: không gian của con ngời, không gian của vũ trụ, thời gian của con ngời, vũ trụ,
con ngời khắc khoải trong không gian và cô độc trong thời gian tạo nên ấn tợng chạnh lòng
tủi hờn của con ngời. Đây chính là cái tình chân thực của Xuân Diệu. Chất cổ điển hằn in dấu
ấn trong vay mợn hình ảnh thơ Vơng Bột. Chỉ có điều con cò của Vơng Bột: lặng lẽ bay
trong ráng chiều:
"Lạc hà dữ cô lộ tề phi
Thu thuỷ công trờng thiên nhất sắc"
Còn của Xuân Diệu không bay mà cánh phân vân không biết nên bay theo làn mây hay ở
lại nơi đồng ruộng. Nếu con cò và làn mây của Vơng Bột thể hiện một cái nhìn hòa nhập
mang tính "nhất thể hóa" thiên nhiên vũ trụ. Còn con cò và làn mây của Xuân Diệu tuy có
mối tơng quan nhng mỗi thứ vẫn là nó, không bị hòa tan vào nhau làm một. Ý thức về bản
ngã đã chi phối cả cái nhìn thiên nhiên vũ trụ.
Trạng thái phân vân của cánh cò cũng nh cái gấp gáp của làn mây biếc là một nét tâm trạng
rất riêng biệt, điển hình của thơ mới mà chúng ta cha gặp trong thơ cổ. Trong thơ cổ, dù buồn
hay vui thì con ngời trữ tình vẫn có cách biểu hiện trầm tĩnh, ung dung và thờng lặng lẽ,
những tâm trạng mang tính phi thời gian của con ngời đã hòa nhập với cái vô tận của vũ trụ
và vĩnh hằng của thời gian. Đến "Thơ mới" mới có tâm trạng bâng khuâng nh trong thơ Huy
vẫn bình thản không tỏ ra vồ vập, vồn vã gì hơn. Tuy thế, theo Xuân Diệu tình yêu đã thực sự
tồn tại rồi. Khẳng định tình yêu, Xuân Diệu dùng một từ rất mạnh, trớc và sau Xuân Diệu có
lẽ cha ai dùng: "cới", mà "lòng anh" cới "lòng em" giữa nó là "thôi đã", nhất định thế rồi,
chắc chắn nh thế, đó là sự thật hiển nhiên không cỡng lại đợc, không chối bỏ đợc. Nhng điều
gì khiến cho giữa hai ngời, giữa "anh" và "em" đi đến một sự dứt khoát ấy ? Lý do là:
Trông thấy chiều hôm ngơ ngẩn vậy.
Tất cả là do chiều thu này. Nó chính là tác nhân tất cả - nếu không có cái buổi chiều nh
buổi chiều thu hôm nay, giữa hai ngời đâu đã diễn ra cái sự cảm thông sâu sắc ấy, cái sự tìm
đến và gặp gỡ giữa "lòng ta" và "ý bạn" ấy.
"Thơ duyên" thật ra cha hẳn là một bài thơ tình thuần tuý. Đúng hơn, nó là bài thơ về mùa
thu, ca ngợi mùa thu, êm ái, thơ mộng, trữ tình đặc biệt là cái duyên của mùa thu. Cái duyên
ấy chỉ khả năng tạo ra sự hòa hợp tuyệt vời: trời với đất, vạn vật với vạn vật, vạn vật với con
ngời, con ngời với con ngời. Tiếng huyền của mùa thu chính là tiếng gọi hòa hợp ấy.
Tâm trạng bao trùm toàn bài thơ là những rung động xôn xao, những cảm xúc tinh tế đón
nhận những biến thái tinh vi mơ hồ của sự sống trong thiên nhiên tạo vật và lòng ngời lúc vào
thu. "Thơ duyên" thể hiện sự độc đáo và tinh diệu của nhà thơ về mùa thu. Với Xuân Diệu sự
sống trong mùa xuân tng bừng ra ngoài thì giữa mùa thu sự sống lại tiềm tàng lặn vào bên
trong sắp sẵn lò lửa ở ngực.
IV. Kết luận
Trong thơ Xuân Diệu, những bài thơ nh "Thơ duyên" thật hiếm. Nếu nói về mùa thu thì
"Thơ duyên" là một mùa thu vừa đẹp vừa tơi, ấm và sáng, khác hẳn các mùa thu trong các bài
thơ khác đẹp nhng lạnh (Đây mùa thu tới), buồn, cô đơn. Xét về tình yêu thì khác với chữ
tình khiến ngời ta "yêu là chết trong lòng một ít", thứ tình "hai ngời nhng chẳng bớt cô đơn",
trong "Thơ duyên" là một tình yêu không rạo rực nhng đẹp, hồn nhiên, êm dịu, một thứ tình
yêu làm ngời ta thấy cuộc đời đẹp hơn, đáng yêu hơn rất nhiều, đem đến hy vọng rất nhiều.
C. Định hớng đề, gợi ý giải
Đề 1. Bình giảng một khổ thơ trong "Thơ duyên" của Xuân Diệu
(Xem phần kiến thức cơ bản)
Đề 2. Bình giảng bài thơ Thơ duyên của Xuân Diệu
Gợi ý:
lòng ngời ẩn kín dới cái vẻ ngoài êm ả, lặng lẽ, dịu dàng của buổi chiều thu - "Ai hay tuy lặng
bớc thu êm"
Đó là bản hòa âm của mùa thu vang vọng tiếng chim ríu rít, là muôn lá xôn xao khi trời
xanh đổ ngọc. Đó là cái tình tứ e ấp của con đờng nhỏ nhỏ với gió xiêu xiêu, của cành hoang
lả lả với ánh nắng trở chiều, của cánh cò muốn bay theo làn mây biếc tuy còn ngập ngừng
phân vân. Đó là cái cảm ứng của loài chim với trời rộng lặng lẽ "giang thêm cánh", là cái cảm
giác thấm lạnh của hoa đồng cỏ nội dới sơng chiều Và đó là cái rung động thầm kín giữa
lòng anh với lòng em, tuy chỉ ngẫu nhiên cùng đi một đờng và cha hề có băng nhân mối lái
3. Cảnh thu trong Thơ duyên không buồn nh trong thơ truyền thống hay nhiều bài thơ khác
nhau của Xuân Diệu. Nhng vẫn đúng là cảnh thu. Ở đây tâm hồn trong sáng của chàng trai
mới biết yêu đã gặp gỡ cái sáng trong của trời thu, sắc thu, tiếng thu. Và niềm khao khát lứa
đôi chỉ mới chớm nở, náo nức đấy nhng còn e ấp trong lòng, cũng phù hợp với không khí êm
dịu của mùa thu. Bớc đi của thu là "bớc thu êm". Bài thơ mùa thu là "bài thơ dịu" vì thế anh
với em không đợc ồn ào, phải bớc êm, bớc nhẹ, để lắng nghe cuộc giao duyên thầm kín của
lòng mình và vũ trụ khi mùa thu tới.
III. Kết thúc vấn đề
Thơ duyên là một bài thơ rất tiêu biểu của Xuân Diệu, nhà thơ của tuổi trẻ và tình yêu, và
rộng hơn, nhà thơ của niềm khát khao giao cảm với đời.
Nhng không phải một Xuân Diệu mà sự bồng bột, sôi nổi bộc lộ ra bên ngoài, mà một
Xuân Diệu lắng vào bên trong để cảm nhận cái xôn xao náo nức của niềm giao cảm thầm kín
và êm ái của vũ trụ và lòng ngời.
Ông đã dệt nên một "bài thơ dịu" bằng những sợi tơ giăng mắc giữa lòng mình với lòng
ngời, giữa lòng mình với vũ trụ.
VỘI VÀNG
Xuân Diệu
A.Yêu cầu
Nắm đợc những vấn đề sau:
- Một Xuân Diệu sôi nổi, táo bạo, tinh tế, yêu cuộc sống đến đam mê
- Khám phá phát hiện một thiên đờng đang lồ lộ bày ra trên mặt đất.
- Bút pháp nghệ thuật độc đáo
lần bộc lộ ham muốn của nhà thơ muốn vĩnh cửu hoá thời gian ở thì hiện tại. Khổ thơ bộc lộ -
ớc muốn lạ kỳ của thi sĩ ấy là ớc muốn quay ngợc quy luật tự nhiên. Một ớc muốn không thể:
ớc muốn tắt nắng, buộc gió, thật là những ham muốn kỳ dị chỉ có ở thi sĩ. Nhng làm sao cỡng
đợc quy luật tự nhiên? làm sao có thể vĩnh cửu hoá những thứ vốn ngắn ngủi mong manh ấy.
Cái ham muốn lạ lùng kia đã hé mở cho chúng ta thấy đợc một lòng yêu bồng bột vô bờ đối
với cái thế giới thắm sắc đợm hơng này. Bốn câu thơ nh một mệnh lệnh muốn đoạt quyền tạo
hoá, nhà thơ đã đặt mình ngang tầm vũ trụ để từ đó ý thức về sự có mặt của cái tôi cá nhân tr-
ớc cuộc đời.
Thế giới này đợc Xuân Diệu cảm nhận theo một cách riêng. Nó bày ra nh một thiên đờng
nơi mặt đất, nh một bữa tiệc lớn của trần gian. Tất cả thế giới ấy đợc cảm nhận bằng cả sự
tinh vi nhất của một hồn yêu đầy nhục cảm nên sự sống cũng hiện ra nh một thế giới đầy sắc
dục. Xuân tình - cái thiên đờng sắc hơng đó hiện ra trong "Vội vàng" nh một mảnh vờn tình
ái, vạn vật đơng lúc dậy tình, vừa nh một mâm tiệc với thực đơn đầy quyến rũ, lại vừa nh một
ngời tình đầy khêu gợi ái ân. Nhà thơ cất lên một chuỗi tiếng reo vui khi bớc chân vào mảnh
vờn với những cảnh sắc mê li.
Của ong bớm này đây tuần tháng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây khúc tình si
Và này đây ánh chớp hàng mi
Mỗi buổi sớm thần vui hằng gõ cửa
Tháng giêng ngon nh một cặp môi gần
25