Học viện Tài chính 1 Luận văn tốt nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu, kết quả nêu
trong luận văn là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế tại đơn vị thực tập.
Tác giả luận văn tốt nghiệp
Nguyễn Quỳnh Trang
SV: Nguyễn Quỳnh Trang Lớp CQ 47/02.01
Học viện Tài chính 2 Luận văn tốt nghiệp
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
SV: Nguyễn Quỳnh Trang Lớp CQ 47/02.01
Học viện Tài chính 3 Luận văn tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNXH
CQT
CSKD
DN
ĐTNT
GTGT
KK&KTT
KBNN
KT
MST
NNT
NSNN
NQD
SXKD
TNHH
Chủ nghĩa xã hội
Cơ quan thuế
Cơ sở kinh doanh
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ Tên sơ đồ Trang
1.1 Sơ đồ khái quát quy trình kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế 13
2.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức Chi cục Thuế quận Thanh Xuân 24
SV: Nguyễn Quỳnh Trang Lớp CQ 47/02.01
Học viện Tài chính 6 Luận văn tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
1 – Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước, thuế không chỉ đáp ứng nhu cầu
chi tiêu của Nhà nước mà còn giúp đảm bảo công bằng xã hội, góp phần điều tiết vĩ mô
nền kinh tế, kiềm chế lạm phát, ổn định giá, thúc đẩy các ngành nghề kinh tế phát triển.
Đảm bảo nguồn thu thuế là một yêu cầu hết sức cần thiết, nhất là khi nền kinh tế thị
trường luôn tiềm ẩn nhiều khó khăn, phức tạp trong quản lý, tình trạng vi phạm pháp
luật thuế lại đang ngày một gia tăng.
Để đáp ứng được yêu cầu trên thì cần thiết phải thực hiện các biện pháp quản lý
thuế một cách có hiệu quả, đặc biệt là công tác kiểm tra phát hiện xử lý các vi phạm về
thuế, nhằm thu đúng, thu đủ, thu kịp thời cho ngân sách Nhà nước, cũng như đảm bảo
công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của các cá nhân, tổ chức có sản xuất
kinh doanh trên thị trường. Tuy nhiên, kiểm tra về thuế đôi lúc, đôi chỗ còn giảm nhẹ
chưa thực sự là tai mắt của lãnh đạo, chưa thực sự tham mưu giúp việc cho lãnh đạo,
cho công tác quản lý thu thuế nên hiệu quả chưa cao, tình trạng vi phạm các chính
sách, chế độ, luật thuế như khai man, trốn lậu thuế, chây ỳ, chậm nộp thuế vẫn diễn ra
thường xuyên và ngày càng tinh vi hơn ở các đối tượng nộp thuế dẫn đến chưa đáp ứng
được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Trong công tác kiểm tra thuế thì kiểm tra các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là
rất phức tạp và có nhiều khó khăn, bởi các doanh nghiệp này chiếm một số lượng khá
lớn, phạm vi hoạt động rộng, đa dạng về các ngành nghề kinh doanh, khó quản lý cũng
như nắm bắt về tình hình hoạt động, doanh thu, số thuế phải nộp
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, trong thời gian thực tập tại Đội kiểm tra thuế
số 1 - Chi cục Thuế Thanh Xuân, em đã lựa chọn đi sâu nghiên cứu đề tài “Tăng
SV: Nguyễn Quỳnh Trang Lớp CQ 47/02.01
Học viện Tài chính 8 Luận văn tốt nghiệp
Chương 1: Những vấn đề chung về kiểm tra thuế và sự cần thiết phải tăng
cường công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Chương 2: Thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc
doanh trên địa bàn Quận Thanh Xuân
Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác kiểm tra thuế đối với
doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Quận Thanh Xuân
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song do kiến thức, kinh nghiệm còn hạn chế nên
luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong có được sự đóng góp bổ sung,
sửa chữa của thầy cô giáo và các cô chú, anh chị trong Chi cục thuế cũng như các bạn
sinh viên để luận văn hoàn thiện hơn.
Em xin gửi lời cám ơn chân thành tới các cô chú, anh chị cán bộ đội kiểm tra số
1 – Chi cục thuế Thanh Xuân và TS. Nguyễn Thị Thanh Hoài, giảng viên khoa Thuế -
Hải quan đã nhiệt tình quan tâm giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện
đề tài này.
Hà nội, tháng 04 năm 2013
SV: Nguyễn Quỳnh Trang Lớp CQ 47/02.01
Học viện Tài chính 9 Luận văn tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM TRA THUẾ VÀ SỰ CẦN THIẾT
PHẢI TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH
1.1 Những vấn đề chung về kiểm tra thuế
1.1.1 Khái niệm kiểm tra thuế
Về khái niệm kiểm tra, theo đại từ điển Tiếng Việt do Trung tâm ngôn ngữ và
văn hóa Việt Nam biên soạn, kiểm tra là “Xem xét thực chất, thực tế” ” [3, tr.253]; theo
từ điển Tiếng Việt do Viện ngôn ngữ học biên soạn, kiểm tra là “Xem xét tình hình
thực tế để đánh giá, nhận xét” [4, tr.973]; theo từ điển Luật học, kiểm tra là “Xem xét
tình hình thực tế thi hành pháp luật, thực hiện nhiệm vụ quyền hạn nói chung hay một
trong việc quản lý đối tượng nộp thuế và ảnh hưởng đến hiệu quả thu thuế. Chính vì
thế, cần phát huy tăng cường công tác kiểm tra thuế, nhằm cung cấp kịp thời các căn
cứ, các bằng chứng cụ thể phản ánh một cách chân thực, sống động các hoạt động diễn
ra trong thực tế để phục vụ cho việc hoàn thiện, bổ sung các chính sách cho phù hợp.
Thứ hai, thuế là một công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước trong việc kiểm soát,
quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi thành phần kinh tế, giúp kiểm soát thu
nhập mọi tầng lớp dân cư trong xã hội, đảm bảo tăng thu cho ngân sách Nhà nước. Mặt
khác quá trình thực thi các luật thuế có nghiêm minh hay không sẽ ảnh hưởng quyết
định đến hiệu quả sử dụng công cụ thuế. Vì lẽ đó, kiểm tra thuế là hết sức cần thiết
nhằm đảm bảo phát huy tối đa chức năng của thuế, đảm bảo tính mục đích và tính hiệu
quả của thuế đối với các hoạt động kinh tế xã hội.
Thứ ba, kiểm tra thuế là phương tiện phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật và
tội phạm nảy sinh trong hoạt động quản lý thuế. Trốn lậu thuế là một tồn tại không thể
tránh trong bất kỳ một nền kinh tế nào. Với tư cách là công cụ thực hiện chức năng
quản lý Nhà nước, qua việc sử dụng các biện pháp chế tài bằng mệnh lệnh hoặc các
SV: Nguyễn Quỳnh Trang Lớp CQ 47/02.01
Học viện Tài chính 11 Luận văn tốt nghiệp
quyết định hành chính, hoạt động kiểm tra thuế đã góp phần phát hiện, ngăn chặn các
hành vi phạm pháp, trốn lậu thuế làm ảnh hưởng đến số thu của Nhà nước và tính bình
đẳng giữa đối tượng nộp thuế.
Thứ tư, xuất phát từ yêu cầu của công tác tổ chức cán bộ thuế. Thực tiễn cho
thấy, dù luôn được quan tâm chú trọng song một số cán bộ thuế vì trình độ chuyên môn
kém, vì lợi ích cá nhân và do môi trường làm việc luôn tồn tại cám dỗ về vật chất làm
cho phẩm chất đạo đức bị thoái hóa biến chất và có những biểu hiện vi phạm pháp luật
thuế làm ảnh hưởng đến hiệu quả công tác quản lý thuế và hiệu quả thu thuế. Do đó,
cần thiết phải có hoạt động kiểm tra để kịp thời phát hiện, ngăn chặn các hiện tượng
lạm dụng chức quyền tham ô, xâm tiêu tiền thuế của Nhà nước, góp phần giữ vững kỷ
cương phép nước và giữ vững sự trong sạch của đội ngũ cán bộ thuế.
Thứ năm, kiểm tra đối tượng nộp thuế góp phần hoàn thiện pháp luật thuế. Luật
pháp thể hiện ý chí nguyện vọng của nhân dân. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật thuế
cá nhân; phải tỉ mỉ, cẩn thận và phải có kiến thức chuyên môn vững vàng, hiểu biết sâu
rộng và sâu sát thực tiễn.
Nguyên tắc công khai, dân chủ
Tính công khai trong kiểm tra thuế tức là phải thực hiện phương châm “dân
biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” để thu hút sự tham gia, đồng tình ủng hộ của nhân
dân. Việc công khai bao gồm nhiều vấn đề cụ thể như công khai quyết định kiểm tra,
tiếp xúc công khai với các đối tượng có liên quan và công bố công khai kết luận kiểm
tra.
Dân chủ trong hoạt động kiểm tra là thể hiện sự tôn trọng khách quan, tôn trọng
quần chúng, lấy dân làm gốc. Dân chủ trong hoạt động thanh tra, kiểm tra nhằm lôi
cuốn sự tham gia đông đảo của quần chúng nhân dân, sử dụng quần chúng như là
những tai mắt của lực lượng kiểm tra.
SV: Nguyễn Quỳnh Trang Lớp CQ 47/02.01
Học viện Tài chính 13 Luận văn tốt nghiệp
Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi phải coi trọng việc tiếp nhận, thu thập ý kiến
của mọi đối tượng có liên quan, tạo điều kiện cho đối tượng thanh tra, kiểm tra được
trình bày ý kiến của mình, nhất là khi giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân.
Nguyên tắc bảo vệ bí mật
Cần quán triệt nguyên tắc này trong kiểm tra thuế là vì trong quá trình kiểm tra
người làm công tác này tiếp cận với nhiều vấn đề, nhiều tài liệu liên quan đến bí mật, bí
quyết kinh doanh của doanh nghiệp, bí mật quốc gia. Nếu để lộ cho những đối tượng
không được phép biết sẽ làm thiệt hại lợi ích quốc gia và các doanh nghiệp. Do vậy họ
chỉ được báo cáo cho những người có thẩm quyền được biết.
Nguyên tắc hiệu quả
Thực hiện nguyên tắc này mới đảm bảo cho kiểm tra thuế đạt được mục đích
của nó. Nguyên tắc này đòi hỏi kiểm tra thuế phải đảm bảo tính hiệu quả, nghĩa là phải
có tác dụng đề phòng, ngăn ngừa những thiếu sót, vi phạm; phải đảm bảo giúp các đối
tượng kiểm tra thực hiện đúng chính sách thuế.
1.1.3 Phương pháp kiểm tra thuế
Phương pháp vận dụng kỹ thuật quản lý rủi ro
sắp xếp thứ tự thời gian phát sinh. Phương pháp này mất nhiều thời gian và hiệu quả
thấp nên ít được sử dụng.
(2) Kiểm tra theo loại nghiệp vụ: Là kiểm tra chứng từ đã được phân loại, sắp xếp theo
một loại nghiệp vụ nhất định như: Chứng từ thu, chi tiền mặt; chứng từ nhập, xuất vật
tư;… Phương pháp này áp dụng khi cần kiểm tra để rút ra kết luận đầy đủ về một loại
nghiệp vụ nào đó theo yêu cầu kiểm tra.
(3) Kiểm tra điển hình: Là lựa chọn ngẫu nhiên một số chứng từ của một loại nghiệp vụ
nào đó để kiểm tra, xem xét và rút ra kết luận chung.
Các phương pháp kiểm tra bổ trợ
SV: Nguyễn Quỳnh Trang Lớp CQ 47/02.01
Học viện Tài chính 15 Luận văn tốt nghiệp
Các phương pháp kiểm tra bổ trợ bao gồm:
(1) Phương pháp quan sát: Quan sát trực tiếp những công việc có liên quan đến nội dung
kiểm tra tại hiện trường.
(2) Phương pháp phỏng vấn: Giúp cán bộ kiểm tra thu được tin tức có quan hệ trực tiếp
đến nội dung kiểm tra.
(3) Phương pháp thẩm tra và xác nhận từng phần: Phương pháp này nhằm đảm bảo kết
luận kiểm tra về từng nội dung được chuẩn xác, trung thực, khách quan. Khi kiểm tra
phải đối chiếu với nhiều nguồn số liệu, nhiều nguồn thông tin để đảm bảo tính khớp
đúng của sự việc.
(4) Các phương pháp toán học: Là các phương pháp số học, toán kinh tế,… giúp cho việc
tính toán, đối chiếu và tổng hợp số liệu.
1.1.4 Nội dung kiểm tra thuế
Hoạt động kiểm tra đối tượng nộp thuế có các nội dung chủ yếu sau đây:
Kiểm tra việc việc chấp hành những quy định về đăng ký thuế.
Đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế là quyền lợi và nghĩa vụ của đối tượng có
hoạt động sản xuất kinh doanh. Nội dung của kiểm tra đăng ký nộp thuế là xem xét trên
từng địa bàn, trong từng loại nghành nghề có bao nhiêu DN, hộ kinh doanh hoạt động
SXKD, số lượng đơn vị chưa kê khai đăng ký thuế và đơn vị đã đăng kí có làm đúng
những quy định về đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế không.
Thứ hai: kiểm tra việc lập và sử dụng các loại chứng từ, hoá đơn có liên quan
đến việc tính thuế.
Nội dung kiểm tra chứng từ hoá đơn là xác định tính pháp, hợp lý, tính trung
thực của từng loại hoá đơn chứng từ có liên quan như hoá đơn bán hàng, phiếu xuất
kho, phiếu thu, phiếu chi, giấy nộp tiền vào KBNN…Qua kiểm tra việc chấp hành chế
độ kế toán, sổ sách chứng từ hoá đơn bảo đảm chính xác các căn cứ tính thuế, ngăn
SV: Nguyễn Quỳnh Trang Lớp CQ 47/02.01
Học viện Tài chính 17 Luận văn tốt nghiệp
chặn kịp thời việc hạch toán sai để trốn lậu thuế. Do vậy,công tác kiểm tra cần được
tiến hành thường xuyên.
Kiểm tra việc kê khai, tính thuế và nộp thuế
Việc kê khai, tính thuế, nộp thuế là nghĩa vụ của các DN, tổ chức, cá nhân kinh
doanh đối với Nhà nước. Nội dung của công tác thanh tra, kiểm tra việc kê khai, tính
thuế và nộp thuế bao gồm:
Thứ nhất: Kiểm tra để xác định đúng đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế là
yêu cầu bắt buộc phải làm trước khi xác định mức thuế phải nộp. Trong thực tế, nhiều
hoạt động kinh doanh phức tạp phải kiểm tra để xác định đối tượng chịu thuế, đối
tượng nộp thuế đúng với quy định của từng sắc thuế tránh bỏ sót nguồn thu.
Thứ hai: Kiểm tra căn cứ tính thuế nhằm xác định đúng số thuế phải nộp, số
thuế đã nộp, số thuế được miễn giảm, số thuế được hoàn trong kỳ của CSKD. Việc
kiểm tra được thực hiện trên cơ sở kiểm tra sổ sách kế toán, chứng từ hoá đơn và các
tài liệu có liên quan. Thông qua việc kiểm tra, đối chiếu số liệu trên các tờ khai, bảng
kê, quyết toán thuế, báo cáo tài chính mà CSKD đã kê khai với cơ quan thuế với số liệu
trên sổ sách kế toán và tình hình thực tế của CSKD để phát hiện số thuế đơn vị kê khai
thiếu, số thuế ẩn lậu.
Thứ ba: Kiểm tra việc chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của CSKD
Yêu cầu của nội dung này là xác định xem cơ sở SXKD có thực hiện nghiêm
túc quy định về thời hạn nộp thuế của các luật thuế không, có dây dưa nộp chậm tiền
thuế để chiếm dụng NSNN làm vốn kinh doanh không, có nợ đọng thuế không? Để đạt
được yêu trên, cần đối chiếu thời hạn nộp thuế theo quy định của các luật thuế với thời
khái quát quy trình này qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1. Sơ đồ khái quát quy trình kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế
1.1.5.2 Quy trình kiểm tra tại trụ sở đối tượng nộp thuế
Bước 1: Chuẩn bị kiểm tra
(1.1) Soạn thảo quyết định kiểm tra: Quyết định kiểm tra tại trụ sở NNT do Thủ
trưởng cơ quan thuế ban hành
(1.2) Thu thập thêm thông tin về đối tượng nộp thuế phục vụ cho công tác kiểm
tra
(1.3)Chuẩn bị nhân sự và các tài liệu cần thiết để tiến hành kiểm tra
Bước 2: Tiến hành kiểm tra
(2.1) Thông báo quyết định kiểm tra
- Quyết định kiểm tra thuế tại trụ sở NNT phải được gửi cho NNT chậm nhất là 5 ngày
làm việc kể từ ngày ký quyết định.
SV: Nguyễn Quỳnh Trang Lớp CQ 47/02.01
Học viện Tài chính 19 Luận văn tốt nghiệp
- Trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định kiểm tra thuế mà
NNT chứng minh được số thuế đã kê khai là đúng thì CQT bãi bỏ quyết định kiểm tra.
(2.1) Tiến hành kiểm tra thực tế các tài liệu liên quan đến tính thuế
- Việc kiểm tra thuế tại trụ sở NNT phải được tiến hành chậm nhất là 10 ngày làm việc,
kể từ ngày ban hành quyết định kiểm tra.
- Thời hạn kiểm tra tại trụ sở NNT không quá 5 ngày làm việc. Có thể gia hạn kiểm tra
nếu xét thấy cần thiết, chỉ được gia hạn 1 lần và không quá 5 ngày làm việc.
Bước 3: Tổng hợp kết quả và kết thúc kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế
(3.1) Lập biên bản kiểm tra
Biên bản kiểm tra thuế phải được lập theo mẫu số 04/KTTT và được ký trong
thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc kiểm tra.
(3.2) Công bố kết luận kiểm tra.
Biên bản kiểm tra phải được công bố công khai trước đoàn kiểm tra và NNT;
phải được Trưởng đoàn kiểm tra và người nộp thuế (hoặc đại diện hợp pháp của người
nộp thuế) ký vào từng trang, đóng dấu của người nộp thuế (nếu có).
trên rất nhiều lĩnh vực, ngành nghề hoạt động đa dạng, phong phú, tồn tại dưới nhiều
hình thức và phát triển rộng khắp.
Thứ hai: Quy mô đầu tư vừa và nhỏ, cơ cấu quản lý linh hoạt, chi phí gián tiếp
thấp. Các đơn vị sản xuất kinh doanh ngoài quốc doanh là do tư nhân đứng ra thành
lập, đầu tư kinh doanh và tổ chức quản lý nên có thể nói các doanh nghiệp này thường
có quy mô vốn vừa và nhỏ. Mặt khác, trong DN NQD, chủ doanh nghiệp có tinh thần
trách nhiệm cao vì lợi ích của họ gắn liền với sự thành bại của doanh nghiệp. Cũng
SV: Nguyễn Quỳnh Trang Lớp CQ 47/02.01
Học viện Tài chính 21 Luận văn tốt nghiệp
chính vì vậy, họ đòi hỏi nhân viên làm việc nghiêm túc và hiệu quả, giảm thiểu sự lãng
phí nguồn lực vẫn thường gặp ở các doanh nghiệp khác.
Thứ ba: Chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh và dễ thích ứng. Người
quản lý thường là chủ sở hữu hoặc là người có vốn lớn nhất nên họ được quyền đưa ra
các quyết định. Cũng do quy mô hoạt động nhỏ nên họ được tự do hành động, họ có
khả năng tự quyết, nên họ có thể chớp lấy những cơ hội kinh doanh thuận lợi. Vì vậy,
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có sự thích ứng nhanh với sự thay đổi của thị
trường.
Thứ tư: Xuất phát từ hạn chế vốn kinh doanh thấp, nên các DN NQD thường
không có điều kiện để trang bị thiết bị sản xuất và công nghệ hiện đại dẫn đến năng
suất lao động thường không cao. Tuy nhiên, cũng có một số ít DN NQD có trình độ
công nghệ và trang thiết bị hiện đại. Mặt khác thị trường tiêu thụ của khu vực này còn
hạn chế, chủ yếu là ở trong nước, trình độ lao động còn thấp, nên thường xuyên phải
đối đầu với cạnh tranh trên thị trường.
1.2.2 Sự cần thiết phải tăng cường công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp
ngoài quốc doanh
Xuất phát từ điều kiện thực tế ở Việt Nam hiện nay và yêu cầu quản lý của Nhà
nước đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Trong chính sách phát triển kinh tế của nước ta, Đảng và Nhà nước chủ trương
phát triển nền kinh tế nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước, trong đó khu vực kinh tế ngoài quốc doanh giữ vị trí quan trọng đối với
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
NGOÀI QUỐC DOANH TRÊN QUẬN THANH XUÂN
2.1Khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội Quận Thanh Xuân và cơ cấu tổ chức bộ máy
Chi cục thuế Thanh Xuân
2.1.1 Khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội Quận Thanh Xuân
Quận Thanh Xuân ngày nay là khu vực ven Kinh đô Thăng Long xưa với các
làng xã kề cận thuộc các tổng, trấn và các tỉnh tiếp giáp Hà Nội. Ngày 22/11/1996 quận
Thanh Xuân được thành lập theo Nghị định 74/NĐ-CP của Chính phủ và chính thức đi
vào hoạt động từ ngày 01/01/1997.
Về vị trí đại lý , Quận Thanh Xuân nằm
ở cửa ngõ phía Tây Nam nội thành Hà Nội,
phía Đông giáp với quận Hai Bà Trưng, phía
Tây giáp với huyện Từ Liêm và quận Hà
Đông, phía Nam giáp huyện Thanh Trì, phía
Bắc giáp quận Đống Đa và quận Cầu Giấy.
Đây là nơi tập trung nhiều đầu mối giao thông
quan trọng như Ngã Tư Sở, Ngã Tư Vọng
thuận lợi cho quá trình phát triển đô thị, thu hút
đầu tư và mối giao lưu rộng rãi trên các lĩnh
vực kinh tế.
Về tình hình kinh tế - xã hội, Quận định
hướng phát triển theo cơ cấu công nghiệp – dịch vụ theo hướng tăng nhanh tỷ trọng
dịch vụ. Năm 1997 Khi bắt đầu hình thành quận có 97 doanh nghiệp nhưng đến
12/2010 đã phát triển lên 9.731 doanh nghiệp, và 12/2012 con số đã là 12.873 doanh
nghiệp, trong đó chiếm tỷ trọng nhiều nhất là công ty cổ phần với 6.376 DN (49,5%).
Tổng thu ngân sách Nhà nước đạt hơn 1.979 tỷ đồng, đạt 70% dự toán.
SV: Nguyễn Quỳnh Trang Lớp CQ 47/02.01
Địa lý
Vị trí
dõi thực trạng các DN NQD đang hoạt động trên địa bàn Quận Thanh Xuân qua bảng
số liệu sau:
Bảng 2.1. Số liệu số lượng DN NQD trên địa bàn Quận Thanh Xuân
Chỉ tiêu Năm 2012 Năm 2011 So sánh
Loại hình
doanh
nghiệp
Công ty Cổ phần 4.382 4.154 5,49%
Công ty TNHH 3.412 3.074 11,00%
DN tư nhân 42 53 -20,75%
Công ty hợp danh 3 3 0%
Hợp tác xã 14 14 0%
Tổng số 7.853 7.298 7,60%
[Nguồn: Chi cục Thuế Quận Thanh Xuân]
SV: Nguyễn Quỳnh Trang Lớp CQ 47/02.01
Học viện Tài chính 25 Luận văn tốt nghiệp
Qua số liệu trên cho thấy, tuy số lượng công ty hợp danh và hợp tác xã không
thay đổi, DN tư nhân giảm 20,75% nhưng số lượng các công ty cổ phần và công ty
TNHH đều tăng lần lượt là 5,39% và 11%. Nghĩa là, chỉ trong vòng 1 năm, số lượng
doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn quận Thanh Xuân từ 7.298 doanh nghiệp
lên 7.853 doanh nghiệp (tăng 7,6 %). Như vậy, có thể thấy quy mô các DN NQD đang
ngày một tăng, chứng tỏ khu vực kinh tế này đang rất được quan tâm đầu tư phát triển,
xuất phát từ nhiều lý do như đây là khu vực có khả năng tiếp cận thị trường rất tốt, thu
hút được lực lượng lao động lớn ở nhiều lứa tuổi, quy mô vốn nhỏ dễ huy động.
Năm 2012, tổng thu ngân sách của toàn Chi cục là hơn 1,979 tỷ đồng, trong đó
số thu từ khu vực ngoài quốc doanh đạt hơn 607 tỷ đồng, tăng 96% so với năm 2011.
Có thể thấy, không chỉ tăng về quy mô số lượng mà khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
trên địa bàn quận Thanh Xuân cũng đang khẳng định vị trí là một trong những khu vực
kinh tế năng động, đóng góp số thu không nhỏ cho ngân sách.
2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và bộ máy kiểm tra thuế tại Chi cục Thuế