Bài làm
Trong sự vận động không ngừng của xã hội, văn học Việt Nam cũng có
những bước tiến đáng kể, trong đó phải kể đến sự phát triển vượt bậc của tiểu
thuyết đương đại. Hàng loạt cây bút thử sức mình trong lối viết tiểu thuyết mới,
nhiều tiểu thuyết ra đời với những bút pháp mới lạ, hấp dẫn, thu hút người đọc
đem lại những cách tân cho nền văn học đương đại Việt Nam. Nhiều tác phẩm
ra đời được độc giả đón nhận đánh giá cao nhưng cũng không ít tác phẩm phải
trải qua thăng trầm của dư luận mới khẳng định được giá trị và vị trí của mình.
Có những tác phẩm được viết bởi những cây bút già dặn nhưng cũng không ít
tác phẩm là sự thử sức của những tài năng mới nhưng cũng không kém phần
thành công. “Và khi tro bụi” là một tác phẩm đầu tay của Đoàn Minh Phượng
nhưng đã khẳng định được vị trí của mình. Tác phẩm vừa có tính chất ma lỵ, ly
kì như một cuốn truyện trinh thám nhưng cũng mang đầy chất thơ, chất triết luận
Đông-Tây. Tác giả đã sử dụng khá nhiều biểu tượng trong tác phẩm của mình
tạo nên một sự hấp dẫn đặc biệt cho người đọc.
“Và khi tro bụi” là tác phẩm đầu tay của đạo diễn tài ba Đoàn Minh
Phượng, đây là tác phẩm văn xuôi duy nhất đoạt giải của Hội nhà văn năm 2007.
Đây là tác phẩm có lối viết khá lạ, bên cạnh lối viết gần như theo dòng ý thức
triền miên thì trong tác phẩm sử dụng nhiều biểu tượng độc đáo như: sương mù,
tro bụi, cái chết, màu trắng, màu đen, Những biểu tượng này có vẻ tách rời
nhau nhưng giữa chúng có mối liên hệ đặc biệt, tuy ba đấy nhưng lại là một, tất
cả dù là sương, là tro bụi, là cái chết thì tất cả cũng chỉ là hư vô trong cuộc đời
này cái còn lại duy nhất là cảm thức của con người về cuộc sống, về kiếp người.
Cái chết là điều con người ta không thể tranh khỏi trong cuộc đời “sinh, lão,
bệnh, tử”, khi chết đi con người trở về với tro bụi trở về với bản nguyên hư vô
khi con người xuất hiện trên cuộc đời này nhưng có một điều mà mãi mãi là bí
ẩn đó là cái chết như thế nào cũng chưa ai cảm nhận được, không ai khám phá
ra, tất cả đều mờ mịt như sương vậy. Bao trùm tác phẩm là cảm thức về cái chết,
1
là hành trình con người đi tìm bí ẩn của cái chết nhưng đó lại là hành trình đi tìm
Một người từ bỏ, cội nguồn của mình sẽ không thực sự bám rễ được vào đâu
hết. Người ấy cần phải sống những ngày những đêm những tháng của mình chứ
không phải bằng thời gian và trí nhớ của người khác. Cũng giống như tro bụi
cũng có quê hương và một lúc nào đó rơi về. Phải chăng đây chính là những
điều trăn trở của Đoàn Minh Phượng-một Việt kiều luôn ý thức sâu sắc về cuộc
sống xa quê hương, xa cội nguồn dân tộc. Có lẽ vì vậy mà tác phẩm thu hút
được tình cảm của người đọc, sự cảm thông chia sẻ với một tấm lòng luôn đau
đáu hướng về quê hương.
Và khi tro bụi”- ngay nhan đề tác phẩm cũng đã gợi lên cho người đọc
cảm thức về sự nhỏ bé, hư vô, sự ra đi và sự trở về. Trong Kinh thánh đã nói
“ngươi là tro bụi sẽ trở về với tro bụi” có nghĩa khởi nguyên của mọi sự cũng là
tro bụi và khi mất đi tất cả lại trở về với tro bụi, đó là quy luật tái sinh và huỷ
diệt-quy luật sáng thế. Tro bụi – ý nghĩa biểu trưng ban đầu của nó toát ra từ cái
hiện thực của nó: về bản chất tro là cái vết tích còn lại sau khi ngọn lửa thiêu đốt
đã tắt, nếu xét từ quan điểm lấy con người làm trung tâm thì đó là cái chết, cái di
hài còn lại sau khi lửa sống đã tắt trong cơ thể. Về phương diện tinh thần, giá trị
còn lại ấy bằng không và như thế tro tượng trưng cho tính vô giá trị, gắn liền với
cuộc sống con người là tính mỏng manh phù du của nó. Bụi là biểu tượng của
sức mạnh sáng thế được ví như hạt giống, như phấn hoa nhưng cát bụi cũng là
dấu hiệu của sự chết, của sự khóc thương (Theo Từ điển biểu tượng văn hoá thế
giới). Như vậy, tro bụi tượng trưng cho thân phận con người, cho cái chết, cho
sự sám hối sự ăn năn hối cải và nó thể hiện niềm tin tôn giáo niềm tin tìm lại sự
bình yên trong tâm hồn con người. Tác phẩm mở đầu bằng một cái chết, đó là
cái chết của chồng Ami “chồng tôi mất vì xe rơi xuống núi, ở một đoạn đèo,
trong một đám sương mù, khoảng 5h một buổi chiều tháng 11. Anh ấy đi đâu
qua đoạn đèo ấy, giờ ấy, không một ai biết. Anh không có công việc gì cần làm
hoặc người quen ở vùng con đường ấy dẫn tới. Tôi hoàn toàn không hiểu cái
chết của anh”. Ami không biết vì sao chồng đi đến đấy, vì sao anh lại chết, cái
3
còn lại với cô chỉ là một chiếc bình đựng tro của anh, tất cả còn lại chỉ là tro bụi.
của tính không xác định, là biểu tượng của một hỗn hợp không khí, nước, lửa
như là trạng thái hỗn mang sơ khai trước cuộc sáng thế. Theo đạo nhà Phật, thế
giới sương là thế giới của các hiện tượng bề ngoài là dấu hiệu của tính phù du
của mọi và cuộc đời. Trong tranh hội hoạ Nhật Bản, thường thể hiện những đám
sương mù nằm ngang hay thẳng đứng( kasumi), chúng biểu thị một sự rối loạn
trong diễn biến câu chuyện, một sự chuyển giai đoạn, một sự chuyển bước quái
dị hoặc huyền diệu hơn trước. Như vậy, sương là biểu tượng cho một thê giới
huyền diệu, bí ẩn, cho những điều còn mông lung. Không gian sương bao phủ
toàn bộ không khí của tác phẩm, nó tạo nên một màu sắc đặc biệt cho câu
chuyện tăng thêm tính hấp dẫn thu hút người đọc từ trang đầu tiên cho đến
những dòng cuối cùng. Chính vì vậy, tuy “Và khi tro bụi” như một câu chuyện
được kể theo dòng ý thức nhưng nó cũng mang dáng dấp của một truyện trinh
thám li kì hấp dẫn. Ngay đầu tác phẩm tác giả đã tạo nên một không gian trong
sương đầy bí ẩn :“Chồng tôi mất vì xe rơi xuống núi, ở một đoạn đèo, trong một
đám sương mù”. Ami luôn tự hỏi anh ấy đi vào đấy để làm gì, gặp ai và tại sao
lại chết, tất cả đều là những bí ẩn được bao phủ trong đám sương mù ấy. Không
chỉ mở đầu bằng không gian sương mù mà ám ảnh sương mù bao trùm toàn bộ
câu chuyện, nó dẫn nhân vật và người đọc vào một mê cung, trong đó con người
cứ luẩn quẩn để tìm lối ra, tìm bí ẩn bên trong đám sương mù nhưng tất cả đều
vô nghĩa, tất cả vẫn là bí ẩn trong sương. Trong tác phẩm biểu tượng sương mù
được nhắc lại mười chín lần, đó là đám sương mù mà chồng Ami đi vào và để
rồi mãi mãi không bao giờ quay về với cô “chồng tôi mất vì xe rơi xuống núi, ở
một đoạn đèo trong một ngày sương mù”, hay đó là đám sương mù luôn ám ảnh
luẩn quẩn trong đầu cô khi cô đi tìm bí ẩn về cái chết của chồng, nhưng càng đi
lại càng lạc vào trong mê cung sương mù “Tôi sẽ đi vào đám sương mù của
tôi,sẽ tan ra trong đó. Như chồng tôi đã đi vào đám sương mù của anh ấy một
buổi chiều tháng mười, trên con đường ngang qua núi”. Nhưng hơn cả đó là đám
5
sương mù luôn bao phủ sự thật, đi mãi nhưng chúng ta không tìm ra sự thật, phải
chăng trong cuộc đời này không có sự thật nào cả, sự thật là sự lựa chọn của mỗi
sắc thái đi từ mờ đục tới bóng láng, màu này có khi có nghĩa là không có màu
gì, có khi là tổng hoà các màu. Như vậy, có khi màu trắng là điểm xuất phát, có
khi ở điểm chung cục của thế giới ban ngày và thế giới hiển lộ, do đó nó có giá
trị lí tưởng và tiệm cận. Một bên là từ dạng bóng láng đi xuống mờ đục, một bên
là mờ đục đi lên bóng láng. Trong hai thời điểm này màu trắng đều rỗng không
lơ lửng giữa cái có và cái không. Theo quan niệm của phương Đông, màu trắng
người ta thường coi là vô sắc, giống như một biểu tượng về thế giới trong đó
mọi màu sắc là thuộc tính của những thực thể đều tan biến ra hết. Màu trắng
không phải là màu của mặt trời, đó cũng không phải là màu của ánh bình minh
mà là màu lúc tang tảng sáng, ở thời điểm hoàn toàn trống rỗng giữa đêm và
ngày, khi mà thế giới giấc mơ còn bao phủ hết mọi thực tại, con người bị ức chế
trong đó, lơ lửng giữa một màu trắng rỗng không và bị động. Vì vậy, phương
Đông vẫn quan niệm màu trắng là màu của cái chết, của tang tóc đau thương.
Nhưng theo quan niệm phương Tây, màu đen mới là màu của tang thương chết
chóc. Màu đen là màu tương phản với màu trắng, đen ngang bằng với trắng về
giá trị tuyệt đối, ở hai đầu của định dạng bảng màu nó sẽ trở thành không màu
hay tổng thể các màu, một sự phủ đ nh hoặc tổng hợp màu sắc. Cũng là màu của
tang tóc nhưng phương Tây quan niệm màu đen là màu của tang tóc nặng nề
hơn, cái tang vô vọng. Màu đen biểu thị trạng thái thụ động tuyệt đối, trạng thái
chết hoàn toàn và bất di bất dịch như cái hư không bất khả, cái hư không đã chết
sau cái chết của mặt trời, như một sự tĩnh lặng vĩnh viễn, không có tương lai,
thậm chí không chút hi vọng về tương lai. Tang tóc màu đen là sự mất mát vĩnh
viễn, là sự rơi hẳn vào hư vô. Không phải ngẫu nhiên trong đầu câu chuyện của
mình nhà văn lại để cho Ami mặc tang phục chồng là áo tang màu trắng, trong
khi bên nước đó người ta mặc đồ tang là đồ đen. Không phải là Ami không biết
nét phong tục này mà cô được đưa sang từ năm bảy tuổi nhưng cô mong “đừng
bắt tôi làm khác, tôi chỉ có một lần này trong đời để mặc chiếc áo trắng dành cho
7
anh”. Ami chọn cho mình một cái áo tang trắng không hẳn là không có lí do, cô
là một kẻ tha hương, đã lâu rồi cô không còn nhắc đến quá khứ xuất thân của
nước có chiến tranh”, hai câu ngắn gọn nhưng đó là nỗi đau của một số phận bất
hạnh, một cuộc đời trắng không quá khứ, không hiện tại, không tương lai, không
nguồn cội, không quê hương, không dám sống với cái tôi của mình.
Lối kể chuyện của Đoàn Minh Phượng có gì đó lạnh lùng, hờ hững nhưng
ẩn sâu trong đó là một tình cảm đau đáu về thân phận, về cuộc đời. Và cái thể
hiện sâu sắc những tình cảm này, gợi lên cho người đọc những ấn tượng sâu sắc
đó chính là những biểu tượng. Chính những biểu tượng đã cuốn hút người đọc từ
những trang đầu tiên cho đến những trang cuối cùng. Những biểu tượng: tro bụi,
sương mù, màu sắc(màu đen, màu trắng) đã tạo nên những trang văn đầy sức
gợi, nhìn bề ngoài có vẻ chúng là những biểu tượng riêng lẻ nhưng thực chất
giữa chúng lại có mối quan hệ sâu sắc, tất cả đều hướng đến biểu tượng trung
tâm của tác phẩm là cái chết: tro bụi chính là sự huỷ diệt và tái sinh, là cái chết
nhưng cũng là sự sống, màu đen và màu trắng chính là màu của cái chết của
tang tóc, sương mù chính là lớp màn bí ẩn của cái chết. Như vậy, hệ thống biểu
tượng trong tác phẩm đều hướng đến một biểu tượng trung tâm đó là biểu tượng
cái chết. Ban đầu nhân vật muốn tìm đến cái chết để chối bỏ quá khứ, chạy chốn
hiện tại cô đơn và để tìm ra bí ẩn của cái chết, cắt nghĩa được sự tồn tại của con
người trong cuộc sống này nhưng cuối cùng hành trình đi tìm cái chết lại là hành
trình con người dấn thân đi tìm lại bản thể của chính mình, tìm lại cuộc sống với
ý nghĩa đích thực của nó. Theo Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới, chết là mặt
có thể mất đi có thể bị huỷ hoại của sự sống, nó là cái sẽ mất đi trong tiến hoá tất
yếu của sự sống nhưng nó cũng sẽ là kẻ dẫn đường người ta vào thế giới chưa
biết của Thiên Đường hay Địa Ngục, nó là sự Khải Huyền hoặc Nhập Môn, là
quá trình huỷ diệt và tái sinh. Cái chết giúp con người giải thoát khỏi những
buồn đau, chán nản, bi quan của cuộc đời, thoát khỏi “tham, sân, si”-nguyên
nhân gây đau khổ cho con người. Cái chết vẫn được xem là nỗi kinh hoàng
khiếp đảm nhưng nó cũng đưa con người ta vào cuộc đời đích thực, biểu tượng
9
cho sự đổi thay sâu sắc mà con người phải trải qua do được khai tâm. Trong tác
phẩm, biểu tượng cái chết được lặp đi lặp lại nhiều lần, là biểu tượng trung tâm
gì vương vấn với cuộc đời này “tôi không còn người quen, không còn việc gì
trên đời để làm, nơi chốn nào để đến” và cho mình ba tháng để thu dọn tất cả
những gì còn lại của cuộc đời này: “Ba tháng nữa tôi sẽ mua chiếc vé cuối cùng
và trên đó nơi đến sẽ không còn là một thành phố. Nó là một nơi nào khác.”Một
cái chết chủ động, tưởng chừng có mụch đích nhưng cuối cùng người chết cũng
không biết mình chết bằng cách nào, khi nào chết, tất cả đều trong vô thức: “Tôi
vẫn mơ hồ cảm thấy mình không thể chấm dứt một thứ mà mình không biết nó
là gì. Người ta chỉ có thể giết được người chứ không thể giết được ma. Như một
loài ma trơi, tôi đã sống bên ngoài cuộc đời, vừa sống vừa xóa đi ngày tháng kí
ức. Tôi bập bềnh trong không khí, lo sợ sức hút của trái đất làm cho tôi đau đớn.
Đến khi chọn lựa cái chết, tôi vẫn không hiểu nó, không tìm cho nó được một ý
nghĩa dù là rất nhỏ”. Những ngày tháng vừa qua Ami sống mà như không sống,
cô chạy trốn tất cả, ngay cả bản thân mình cô cũng không còn cảm giác tồn tại,
gắn bó với cuộc đời. Và cô muốn mình phải tồn tại trên đời này mới có thể chết
được, cô đã tìm cho mình một cuốn sổ để ghi lại cuộc đời mình, để chứng tỏ
mình tồn tại, để biết được cái chết là gì. Nhưng cũng chính từ quyển sổ của một
nhân viên khách sạn đã làm hành trình của cô thay đổi từ hành trình đi tìm bí ẩn
của cái chết cô đã chuyển sang hành trình đi tìm sự thật, đi tìm bí ẩn của một câu
chuyện bắt đầu từ một cái chết. Biểu tượng cái chết lặp lại nhiều lần với những ý
nghĩa biểu trưng gắn với số phận nhân vật, từ đầu nhân vật đi tìm cái chết để
giải thoát nhưng càng đi lại càng rơi vào những tình huống phức tạp bí ẩn hơn,
càng vén bức màn sương mù con người lại càng thấy âm u, tăm tối hơn. Nhưng
cũng có lúc nhân vật trên hành trình của mình dường như đã chạm tay đến bí
mật của cái chết hay ít ra cũng là một chút cảm thức về cái chết, về những gì đã
xảy ra với chồng mình trong đám sương mù bí ẩn và mường tượng sẽ sắp xảy ra
với mình: “Tôi nhớ lại cảm giác thanh bình ngắn ngủi lúc đi trong đám sương
mù bất chợt sa xuống thành phố. Cảm giác đó chỉ có vài phút nhưng khó quên.
11
Hay là chồng tôi cũng đi vào một đám sương mù trên núi, cũng được bao bọc
trong một sự thanh bình mênh mông như vậy, và không muốn ra nữa.”…
có sự thật cuối cùng, sự thật là do lựa chọn của mỗi người. Trên hành trình của
mình đi tìm sự thật nhà Kemf, cô đã nhớ lại cái chết của người cha nuôi, đó là
cái chết mà người ta bảo cô là nguyên nhân gây ra mãi về sau khi gần cái chết cô
mới nhận ra. Cha nuôi cô đã chết khi nhận ra mình yêu con gái nuôi, nhưng ông
không dám vượt qua lòng kính Chúa, vượt qua ranh giới cuộc sống ông đang có
để sống thật với chính mình, ông đau khổ khi nhận cuộc đời này ông chưa một
lần sống cho riêng, ông không dám sống với cái tôi của mình, ông chạy chốn
bản thể của mình, sống trên cuộc sống của kẻ khác. Và ông chọn cái chết cũng
là sự giải thoát, thoát khỏi những đau khổ của bể đời để ông được một lần sống
là chính mình; cái chết là sự huỷ diệt về thể xác nhưng phải chăng đó là sự tái
sinh trong tâm hồn, chết để tìm lại mình.
Nhưng cũng trên hành trình đi tìm sự thật cô đã tìm lại chính mình, tìm lại khát
khao được sống, trả lời câu hỏi “Tôi là ai?”mà bấy lâu nay cô luôn tìm kiếm.
Những câu trả lời đó cô đã tìm ra trên hành trình đi tìm cái chết để giải thoát bản
thân và cũng là hành trình cô đi tìm bí ẩn cái chết của chồng mình, của cha nuôi,
của Anita. Cô đã tìm thấy mình trong cha nuôi, trong Marut, trong Mecheal,
trong Anita. Cô nhận ra Mecheal, cha nuôi đang chối bỏ quá khứ, chạy chốn quá
khứ để đổi lấy một cuộc sống yên ổn, quen thuộc. Và cô cũng vậy, cô đã chạy
chốn quá khứ, xoá bỏ kí ức về gia đình quê hương cội nguồn để đổi lấy cuộc
sống hiện tại yên ổn bên xứ người; khi chồng chết, chỗ dựa duy nhất của cô
không còn cô bơ vơ lạc lõng, cô chạy chốn hiện tại bằng cái chết để không phải
chịu nỗi đau khổ cô đơn. Nhưng khi đã tìm ra sự thật, cận kề bên cái chết cô lại
nhận ra rằng bâý lâu nay cô sống bằng cái tôi kẻ khác, sống trên xứ người không
quê hương không nguồn cội: “Tôi chợt hiểu ra tất cả. Tại sao trong tất cả những
năm của cuộc đời mình tôi đã không tìm được một thứ keo để gắn lại các mảnh
đời và gắn mình vào thế giới loài người. Tôi đã cố hết sức nhưng mọi thứ đều
rời rạc, tan tác và tôi mãi mãi là một thứ rong rễ không bám được vào một thứ gì
13
để thôi trôi nổi. Bởi vì trong khoảnh khắc kinh hoàng nhất của cuộc đời, vào lúc
người ta cần nhau nhất để cứu nhau ra khỏi tai ương, trí óc tôi đã chọn xoá đi cái
trên hành trình đi tìm bí ẩn của cái chết, nhưng đó cũng là câu chuyện khá hấp
dẫn với kết câu chuyện lồng chuyện, có tính chất li kì như một truyện trinh
thám, lại có sự đan xen của nghệ thuật điện ảnh làm cho câu chuyện hấp dẫn
như một bộ phim. Điều đó cho thấy sự tài năng của Đoàn Minh Phượng, mặc dù
đây là tiểu thuyết đầu tay. Nhưng có lẽ điều làm hấp dẫn người đọc, điều làm
cho câu chuyện có lối viết lạnh lùng lại đầy sức gợi phải chăng là nhờ hệ thống
biểu tượng với những ý nghĩa nhân sinh sâu sắc. Đọc qua từng trang giấy người
đọc không khỏi bị ám ảnh bởi những biểu tượng được lặp đi lặp lại: tro bụi,
sương mù, màu sắc(trắng- đen), cái chết. Những biểu tượng này có vẻ gợi lên
một sự tang thương của cái chết nhưng nó không hề gợi sự bi quan chán nản.
Câu chuyện là hành trình con người cô đơn đi tìm cái chết để tìm ra bí ẩn của sự
chấm dứt vĩnh viễn của con người trên cõi đời này, tìm mãi nhưng đến khi cận
kề cái chết nhân vật không phải tìm ra bí ẩn của cái chết mà tìm ra khát khao
sống một cuộc sống đích thực đúng nghĩa, sống bằng niềm tin, cội nguồn, trí
nhớ của mình chứ không phải của người khác. Trong truyện xuất hiện rất nhiều
cái chết nhưng nó không gây cảm giác bi quan rùng rợn mà chúng ta nhận ra ý
nghĩa của cái chết là sự giải thoát, tái sinh. Kết thúc truyện không phải tác giả
đưa ra sự thật như là một phát hiện sau một hành trình dài mà đó là những chiêm
nghiệm trong cuộc đời. Nhà văn không khẳng định cuối cùng nhân vật của mình
đã tìm ra sự thật nhưng điều quan trọng là nhân vật đã tìm lại được một chút
bình an trong tâm hồn, tìm lại được mình trong cận kề cái chết khi đã dám thừa
nhận quá khứ, hiện tại.
Tác phẩm khép lại nhưng vẫn còn đó những ám ảnh trong lòng người đọc
cảm thức về cái chết, về sự lạc loài cô đơn, bi kịch tha hương. Con người cứ mải
mê đi tìm bí ẩn của cái chết, bí ẩn của nắm tro tàn còn lại của một con người
nhưng đó lại là hành trình đi tìm lại mình. Liệu con người có tìm ra được sự thật
15
sau đám sương mù kia, có tìm ra đựơc màu sắc của cái chết là màu gì? Tất cả
vẫn là những bí ẩn như những đám sương mù kia vẫn giấu trong mình những
điều bí mật mà đi hết hành trình của cuộc đời con người vẫn không nhận ra. Cái