ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN Phan Hồng Khâm
DỰ BÁO PHÁT THẢI CHẤT THẢI RẮN NGUY HẠI TỪ
NGÀNH CÔNG NGHIỆP SẢN XUẤT MỰC IN – IN TẠI THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP XỬ LÝ
Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã chuyên ngành: 608502
LUẬN VĂN THẠC SĨ: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Phan Hồng Khâm
Luận văn cao học – chuyên ngành Khoa học Môi trường
HVTH: Phan Hồng Khâm GVHD: TS. Trần Thị Mỹ Diệu
1
PHẦN GIỚI THIỆU CHUNG
1. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Theo những nghiên cứu gần đây
1
, hiện chưa có con số thống kê chính xác khối lượng
chất thải công nghiệp nói chung và chất thải nguy hại (CTNH) nói riêng đối với loại hình
công ngiệp sản xuất mực in - in. Theo số liệu thống kê của Phòng Quản lý chất thải rắn –
Sở Tài nguyên và Môi trường (Sở TNMT) TP. Hồ Chí Minh, cho đến tháng 9/2009, trên
địa bàn thành phố có đến 29 doanh nghiệp có chức năng thu gom, vận chuyển chất thải
nguy hại và 14 đơn vị có chức năng xử lý ch
ất thải nguy hại. Tuy nhiên, việc xác định
được nguồn phát sinh và khối lượng chất thải hiện tại và dự báo trong tương lai vẫn đang
là vấn đề còn bị bỏ ngỏ. Chính điều này đã khiến cho hệ thống quản lý chất thải nguy hại
của thành phố ngày càng trở nên biến động và phức tạp. Trước bối cảnh đó, việc điều tra
khảo sát và đánh giá lại hi
ện trạng thu gom, xử lý chất thải nguy hại của TP. Hồ Chí
Minh, cũng như xác định các nguồn phát sinh, dự báo khối lượng CTNH trong tương lai
là hết sức cần thiết. Chất thải công nghiệp gia tăng là hệ quả tất yếu của quá trình công
nghiệp hóa và TP. Hồ Chí Minh là một trong những ví dụ điển hình. .
Hiện nay, mỗi ngày các cơ sở sản xuất trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh thải ra trung bình từ
Ngoài KCN& KCX TrongKCN&KCX Tổng cộng
STT Loại hình
Lớn SMEs TC Lớn SMEs TC Lớn SMEs TC
1
Kim loại và gia
công cơ khí
185 2290
2475
105 61
166
290 2351
2641
2
Nhựa và các sản
phẩm nhựa
120 493
613
79 21
100
199 514
713
3
Hóa chất
14 35
49
13 11
24
27 46
73
4
386
8
Thủy tinh
15 53
68
37
10
18 60
78
9
Xi mạ
3 77
80
48
12
7 85
92
10
Xây dựng
32 147
179
17 4
21
49 151
200
11
Sơn
8 20
28
57
phương tiện giao
thông
0 4
4
00
0
0 4
4
16
Mực in và in
30 118
148
12 8
20
42 126
168
17
Gỗ và các sản
phẩm gỗ
44 535
579
15 17
32
59 552
611
18
Dược phẩm
13 17
30
10 2
May mặc
161 743
904
115 23
138
276 766
1042
23
Thực phẩm
96 448
544
64 31
95
160 479
639
24
Khác
106 401
507
61 37
98
167 438
605
Tổng cộng
1034 6176
7210
646 307
953
1680 6483
8163
in ấn phát triển mạnh mẽ, cả công ty trong nước và nước ngoài vì môi trường kinh doanh
thuận lợi. Tuy nhiên bên cạnh những lợi ích kinh tế đáng kể thì ngành in ấn cũng gây ra
những nguy cơ làm ô nhiễm môi trường do sử dụng hóa chất mang tính độc hạ
i và bền
vững với môi trường . Vì thế vấn đề then chốt các doanh nghiệp trong in ấn cần quan tâm
là vấn đề môi trường và sức khỏe của cộng đồng.
Việc xác định được khối lượng chất thải của loại hình này là rất cần thiết cho quá trình
quản lý của nhà nước đối với loại hình công nghiệp này cũng như đảm bảo phát triển
bễnh vững không gây nguy hại đến sứ
c khỏe của cộng đồng dân cư và môi trường xung
quanh. Để xác định được khối lượng chất thải này trong tương lai, một thông số quan
trọng là hệ số phát thải của loại hình công nghiệp này. Các nghiên cứu hiện tại vẫn chưa
đưa ra được một số liệu chính thức về hệ số phát thải của từng loại hình công nghiệp nói
chung cũng như của loại hình công nghiệp sản xuấ
t mực in – in nói riêng. Vì vậy, việc
xác định được hệ số phát thải cho loại hình công nghiệp này là hết sức cần thiết và đáng
được quan tâm trong thời điểm hiện tại và trong tương lai.
2. MỤC ĐÍCH VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Mục đích nghiên cứu
Xác định hệ số phát thải của ngành công nghiệp sản xuất mực in – in từ đó dự báo khối
lượng chất thải nguy hại phát sinh từ loạ
i hình công nghiệp sản xuất mực in – in trên địa
bàn TP.Hồ Chí Minh đến năm 2020, đề xuất giải pháp quản lý và xử lý CTNH từ ngành
sản xuất mực in - in.
- Nội dung nghiên cứu
+ Khảo sát, thu thập số liệu về chất thải nguy hại từ các nhà máy sản xuất mực in và các
cơ sở in trên địa bàn thành phố: loại chất thải nguy phát sinh, khối lượng chất thải và
sản phẩm thu được trong một năm.
+ Nghiên cứu xây dựng phương pháp xác định hệ số phát thải của chất thải nguy hại từ
ngành sản xuất mực in – in phù hợp với mục tiêu nghiên cứu.
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Tóm tắt luận văn
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ, đồ thị PHẦN GIỚI THIỆU CHUNG 1
1 Sự cần thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nội dung nghiên cứu 3
Mục đích nghiên cứu 3
Nội dung nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Cấu trúc luận văn 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 5
1.1 Tổng quan về ngành công nghiệp sản xuất mực in – in 5
1.1.1 Tổng quan về ngành sản xuất mực in – in trên địa bàn thành
phố Hồ Chí Minh 5
1.1.2 Tổng quan về các công nghệ sản xuất mực in – in trong và
ngoài nước 6
1.2 Chất thải nguy hại phát sinh từ ngành công nghiệp sản xuất mực in
2.1 Khảo sát thực tế, thu thập số liệu về loại hình công ngiệp sản xuất
mực in – in tại Thành phố Hồ Chí Minh 342.1.1 Tổng quan công nghệ sản xuất mực in – in, nguồn phát sinh,
thành phần chất thải nguy hại 34
2.1.2 Khảo sát thực tế các cơ sở về loại hình công nghiệp sản xuất
mực in - in trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 34
2.2 Xác định hệ số phát thải chất thải rắn nguy hại của loại hình công
nghiệp sản xuất mực in – in tại Thành phố Hồ Chí Minh 39
2.3 Dự báo phát thải chất thải rắn nguy hại của loại hình công nghiệp
sản xuất mực in – in tại Thành phố Hồ Chí Minh 40
2.4 Đề xuất giải pháp quản lý và xử lý chất thải nguy hại phát sinh từ
loại hình công nghiệp sản xuất mực in - in 41
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 42
3.1 Kết quả khảo sát thực tế các cơ sở sản xuất mực in – in trên địa bàn
TP.HCM và thực trạng quản lý và xử lý chất thải rắn nguy hại của
ngành công nghiệp sản xuất mực in – in tại TP.HCM 42
3.1.1 Kết quả khảo sát thực tế các cơ sở sản xuất mực in – in trên
địa bàn TP.HCM 42
3.1.2 Thực trạng quản lý và xử lý chất thải rắn nguy hại của ngành
công nghiệp sản xuất mực in – in tại TP.HCM 44
3.2 Xác định hệ số phát thải chất thải rắn nguy hại phát sinh từ nghành
iii
3.5.1 Đề xuất các giải pháp quản lý CTNH phát sinh từ ngành
công nghiệp sản xuất mực in – in 79
3.5.2 Đề xuất các giải pháp kỹ thuật xử lý CTRNH phát sinh từ
ngành công nghiệp sản xuất mực in – in 83
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89
5.1 Kết luận 89
5.2 Kiến nghị 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91 DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1 Số lượng nhà máy theo từng loại hình công nghiệp (2005) 2
Bảng 1.1 Bảng thông kê các nguyên liệu cơ bản của ngành sản xuất mực in 16
Bảng 1.2 Tổng tải lượng CTCNNH TP.HCM giai đoạn 2005 – 2025 (theo
NORAD, 2003) 23
Bảng 1.3 Danh sách các đơn vị thực hiện công tác thu gom, vận chuyển, lưu
giữ, xử lý và tiêu hủy CTCN trên địa bàn TP. HCM 29
Bảng 1.4 Hệ số phát thải cho một số ngành nghề sản xuất công nghiệp thuộc
VKTTĐPN 31
Bảng 3.17 Tổng hợp các giá trị tính toán của 3 nhóm nhà máy 59
Bảng 3.18 Kết quả thống kê giá trị HSPT (Kg/Tấn Sp) của loại chất bóng đèn
huỳnh quang của các nhà máy quy mô công suất nhỏ (11 nhà máy) 60
Bảng 3.19 T
ổng hợp kết quả các giá trị tính toán 61
Bảng 3.20 Kết quả thống kê giá trị HSPT (Kg/Tấn Sp) của loại chất thải bóng
đèn huỳnh quang của các nhà máy quy mô công suất nhỏ (11 nhà
máy) 61
Bảng 3.21 Tổng hợp kết quả các giá trị tính toán 62
Bảng 3.22 Kết quả thống kê giá trị HSPT (Kg/Tấn Sp) của loại chất thải bóng
đèn huỳnh quang của các nhà máy quy mô công suất nhỏ (10 nhà
máy) 62
Bảng 3.23 Tổng hợp kết quả các giá trị tính toán 63
Bảng 3.24 Tổng hợp các giá trị tính toán của 3 nhóm nhà máy 63
Bảng 3.25 Kết quả thống kê giá trị HSPT (Kg/Tấn Sp) của loại chất thải Bao
bì, giấy dính thành phần CTNH của các nhà máy quy mô công suất
nhỏ (11 nhà máy) 64
Bảng 3.26 Tổng hợp kết quả các giá trị tính toán 65
Bảng 3.27 Kết quả thống kê giá trị HSPT (Kg/Tấn Sp) của loại chất thải Bao
bì, giấy dính thành phần CTNH của các nhà máy quy mô công suất
vừa (26 nhà máy)
65
Bảng 3.28 Tổng hợp kết quả các giá trị tính toán 66
Bảng 3.29 Kết quả thống kê giá trị HSPT (Kg/Tấn Sp) của loại chất thải Bao
bì, giấy dính thành phần CTNH của các nhà máy quy mô công suất
nhỏ (10 nhà máy) 67
Bảng 3.30 T
ổng hợp kết quả các giá trị tính toán 67
Bảng 3.31 Tổng hợp các giá trị tính toán của 3 nhóm nhà máy 68
Bảng 3.32 Kết quả thống kê giá trị HSPT (Kg/Tấn Sp) của loại chất thải Lon,
nhà máy có quy mô trung bình 75
Bảng 3.47 Tính toán lượng chất thải của từng loại CTNH năm 2010 của nhóm
nhà máy có quy mô lớn 75
Bảng 3.48 Dự báo khối CTNH của loại hình công nghiệp in đến năm 2020 đối
với nhà máy có quy mô nhỏ 76
Bảng 3.49 Dự báo khối CTNH của loại hình công nghiệp in đến năm 2020 đối
với nhà máy có quy mô vừa 76
Bảng 3.50 Dự báo khối CTNH của lo
ại hình công nghiệp in đến năm 2020 đối
với nhà máy có quy mô lớn 77
Bảng 3.51 Dự báo khối lượng giẻ lau, bao tay dính thành phần CTNH của loại
hình công nghiệp sản xuất mực in đến năm 2020 77
Bảng 3.52 Dự báo khối lượng bóng đèn huỳnh quang của loại hình công nghiệp
sản xuất mực in đến năm 2020 77
Bảng 3.53 Dự báo khối lượng bao bì, giấy dính thành phần CTNH của loại
hình công nghiệp sản xuất mực in
đến năm 2020 78
Bảng 3.54 Dự báo khối lượng lon, thùng dính thành phần CTNH của loại hình
công nghiệp sản xuất mực in đến năm 2020 78
Bảng 3.55 Nhiệt trị của các loại chất thải sinh ra từ nhóm 1 84
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ Trang
Hình 1.1 Mô phỏng bề mặt khuôn in ống đồng được phóng lớn, cho thấy các ô lõm
khắc trên bề mặt trục.
9
Hình 1.2 Trục in đang được mạ đồng
9
21
Hình 1.16 Qui trình quản lý chất thải rắn của thành phố HCM.
27
Hình 1.17 Sơ đồ hệ thống quản lý chất thải rắn TP.HCM.
28
Hình 1.18 Tỷ lệ lượng CTCN được thu gom-vận chuyển-lưu giữa-xử lý-tiêu hủy bởi 9
công ty có chức năng thực hiện tất cả các khâu này trên địa bàn TP. Hồ Chí
Minh.
29
Hình 2.1 Mẫu Phiếu khảo sát.
38
Hình 3.1 Nơi lưu trữ CTNH ngay bên trong khu sản xuất của một nhà in.
44
Hình 3.2 Nơi lưu trữ CTNH ngoài trời của nhà máy in tuổi trẻ.
44
Hình 3.3 Sự phân bố tần suất khoảng giá trị HSPT (Kg/Tấn Sp) từ 11 nhà máy.
56
Hình 3.4 Sự phân bố tần suất khoảng giá trị HSPT (Kg/Tấn Sp) từ 26 nhà máy.
57
Hình 3.5 Sự phân bố tần suất khoảng giá trị HSPT (Kg/Tấn Sp) từ 10 nhà máy.
59
Hình 3.6 Sự phân bố tần suất khoảng giá trị HSPT (Kg/Tấn Sp) từ 11 nhà máy.
60
Hình 3.7 Sự phân bố tần suất khoảng giá trị HSPT (Kg/Tấn Sp) từ 26 nhà máy.
62
Hình 3.8 Sự phân bố tần suất khoảng giá trị HSPT (Kg/Tấn Sp) từ 10 nhà máy.
63
Hình 3.9 Sự phân bố tần suất khoảng giá trị HSPT (Kg/Tấn Sp) từ 11 nhà máy.
64
in TP thực hiện xấp xỉ 540 tỷ trang in với tổng doanh thu trên 18.000 tỷ đồng.
Từ năm 1993 đến năm 2008, ngành in TP liên tục tăng trưởng 10% - 15% mỗi năm, sản
lượng in ấn ở TP chiế
m 60% - 65% sản lượng in cả nước. Thế nhưng, kể từ năm 2009 trở
lại đây, ngành in TP đang ngày càng gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt trong giai đoạn 2010
và 4 tháng đầu năm 2011, ngành in TP giảm mức phát triển xuống chỉ còn khoảng 5%,
bằng 1/3 so với trước đó.
Một trong những nguyên nhân đầu tiên phải kể đến là do sự suy thoái chung của nền kinh
tế dẫn đến nhu cầu in ấn giảm mạ
nh. Chỉ tính riêng số lượng in sách, báo, tạp chí đã giảm
từ 20% đến 30%, trong đó giảm mạnh nhất là lượng sách in, trừ sách giáo khoa, còn các
loại sách in khác đều tuột dốc. Thậm chí, nhiều loại sách tra cứu truyền thống như từ điển,
danh bạ còn đang dần biến mất trong danh mục sản phẩm ngành in. Sự suy giảm này phần
nào còn do việc phát triển mạnh của truyền thông điện tử, các loại sách, báo
điện tử…
làm cho nhu cầu sách, báo in truyền thống giảm. Một nguyên nhân khác là giá giấy in liên
tục tăng đột biến, khiến giá thành sản phẩm in trở nên ngày càng đắt, ảnh hưởng đến sức
mua của người tiêu dùng.
Trong hơn một thập kỷ qua, công nghiệp in luôn là ngành ăn nên làm ra với doanh thu
bình quân tăng trên dưới 15%/năm. Cũng vì thế mà ngành in đã một thời có hấp lực to lớn
đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Ông Nguyễ
n Văn Dòng, Chủ tịch Hiệp hội In Việt Nam, cho biết công nghiệp in bắt đầu
gặp khó khăn từ năm 2008, thời điểm nền kinh tế Việt Nam rơi vào giai đoạn lạm phát
cao, rồi tiếp đến là khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Doanh thu của toàn ngành năm 2008
giảm 5-10% và tiếp tục giảm sút mạnh trong những quí đầu của 2009. Đến 70% số doanh
nghiệp in thường xuyên đói việc làm.
Như
ng nếu sự suy thoái của ngành in chỉ xuất phát từ khó khăn chung của nền kinh tế thì
không có gì đáng ngại. Đáng lo hơn cả chính là ngành này đang bị sự cạnh tranh quyết liệt
nghiệp
đang thực hiện cuộc cải tổ để chuyển hướng sản phẩm. Bên cạnh đó, thị trường
cho ngành in kể từ cuối năm ngoái đến nay đã có dấu hiệu tăng trưởng trở lại, dù còn
khiêm tốn. Nhưng về lâu dài, sự phát triển của ngành in vẫn phụ thuộc nhiều vào khả
năng phát triển ổn định của các ngành công nghiệp khác, nhất là xuất khẩu.
1.1.2 Tổng quan về
các công nghệ sản xuất mực in – in trong và ngoài nước
# Ngành in ấn
In ấn (hay ấn loát) là quá trình tạo ra chữ và tranh ảnh trên các chất liệu nền như giấy, bìa
các tông, ni lông, vải bằng một chất liệu khác gọi là mực in. In ấn thường được thực
hiện với số lượng lớn ở quy mô công nghiệp và là một phần quan trọng trong xuất bản.
Máy in Kodak Nexpress
Luận văn cao học – chuyên ngành Khoa học Môi trường
HVTH: Phan Hồng Khâm GVHD: TS. Trần Thị Mỹ Diệu
7
Sách báo ngày nay thường được in bằng kĩ thuật in ốp-sét (Offset). Các kĩ thuật in phổ
biến khác gồm in nổi (dùng chủ yếu trong các cuốn ca-ta-lốc), in lụa, in quay, và in phun
và in laser.
In kĩ thuật số phần lớn sử dụng hiện tượng tĩnh điện để chuyển đặt mực in lên trên chất
nền. Công nghệ này phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây với các sản phẩm
đa dạng từ các máy sao chép (copier) màu hay đen trắng cho tới các máy in mầu hiện đại
như Xerox iGen3, Kodak Nexpress, hay loạt máy HP Indigo. iGen3 và Nexpress sử dụng
trống mực còn Indigo dùng mực lỏng.
Nguyên lý in ấn
Nguyên lý của in thạch bản trong ngành in ấn dựa vào lực đẩy giữa dầu và nước. Dầu và
nước không trộn lẫn nhau và luôn có xu hướng tách rời nhau.
Hình ảnh ngược của những vệt dầu được dính trên một bề mặt. Sau đó, bề mặt này được
ngâm vào nước rồi nhấc lên. Nước nhanh chóng chảy đến các vị trí chưa dính dầu trên bề
mặt, nhờ lực đẩy với dầu. Tiếp đến, một trống mực dầu lăn qua bề mặt. Mực dầu là loại
Đây là phương pháp in đầu tiên và cổ xưa nhất, được phát minh bởi người Trung Quốc
nhưng người Đức (Johan Gutenberg) mới là người được công nhận là ông tổ ngành in.
Về nguyên lý, in typo là phương pháp in cao, tức là trên khuôn in typo, các phần tử in
(hình ảnh, chữ viết) nằm cao hơn các phần không in. Khi in, chúng ta chà mực qua bề mặt
khuôn in, các phần tử in nằm cao hơn nên sẽ nhận mực và sau đó khi ép in, mực sẽ truyền
qua bề mặt giấy in tạo thành hình ảnh, chữ cần in. Một ví dụ gần gũi đó là con dấu (mộc),
trên con dấu hình ảnh được khắc nổi cao hơn phần xung quanh, khi đóng dấu ta sẽ ấn nó
vào tăm-bông để lấy mực, sau đó đóng "kịch" một phát thế là xong. Khuôn in typo cũng
được khắc nổi lên như con dấu, tuy nhiên nó được chế tạo từ kim lọai (hợp kim chì) bằng
quá trình ăn mòn axít, các chữ viết thì được đúc thành các con chữ riêng lẻ, sau đó sẽ
được sắp lại bằng tay thành từng bộ khuôn của từng trang sách (cho nên mới gọi là công
đọan sắp chữ).
Phương pháp in typo sắp chữ hiện nay không còn được sử dụng do sản lượng thấp, lạc
hậu và độc hại (chữ in được đúc từ hợp kim chì là một kim lọai độc hại) nên đã được thay
thế bằng nhiều phương pháp hiện đại hơn. Một số ứng dụng khác của in typo như in số
nhảy, ép chìm nổi, ép nhũ bạc, vàng vẫn còn được sử dụng. Máy in typo ở Việt Nam
được cải tiến thành máy bế đặt tay ứng dụng rất hiệu quả.
In flexo:
In flexo bắt nguồn từ chữ flexible, nghĩa là mềm dẻo. Khuôn in flexo cũng thuộc dạng
khuôn in cao như in typo, tuy nhiên nó được chế tạo từ chất dẻo (cao su hoặc nhự
photopolymer) bằng quá trình phơi quang hóa. Phương pháp in này được sử dụng rộng rãi
để in các lọai nhãn decal, bao bì hoặc thùng carton.
In ống đồng:
In ống đồng về nguyên lý nó là phương pháp in lõm, tức là trên khuôn in, hình ảnh hay
chữ viết (gọi là phần tử in) được khắc lõm vào bề mặt kim loại. Khi in sẽ có 2 quá trình:
Luận văn cao học – chuyên ngành Khoa học Môi trường
HVTH: Phan Hồng Khâm GVHD: TS. Trần Thị Mỹ Diệu
9
Mực (dạng lỏng) được cấp lên bề mặt khuôn in, dĩ nhiên mực cũng sẽ tràn vào các chỗ
lõm của phần tử in, sau đó một thiết bị gọi là dao gạt sẽ gạt mực thừa ra khỏi bề mặt
In lụa:
Đây là phương pháp in bình dân, đơn giản, rẻ tiền và dễ đầu tư, nhưng nếu chịu khó làm
vẫn có thể xây nhà tôn mua xe honda như thường.
In offset:
Đây là phương pháp in phổ biến nhất và cũng phương pháp in được nhắc đến nhiều nhất
đối với những người làm design thiết kế.
Nguyên lý của phương pháp in này đơn giản nhưng khó hình dung nếu chưa được tay sờ
mắt thấy "hiện vật".
In offset là phương pháp in theo nguyên lý in phẳng, tức là trên khuôn in hình ảnh, chữ
viết và những vùng không in đều có độ cao bằng nhau (khi nhìn lên bề mặt tấm bản in ta
Luận văn cao học – chuyên ngành Khoa học Môi trường
HVTH: Phan Hồng Khâm GVHD: TS. Trần Thị Mỹ Diệu
12
chỉ thấy nó phẳng lì như tờ giấy, chả thấy chìm nổi gì hết). Người ta đã ứng dụng sự đẩy
nhau giữa dầu và nước. Khuôn in làm từ một tấm nhôm mỏng (khoảng 0.25mm), trên
khuôn in, phần trắng (không in) có bề mặt là nhôm, còn phần tử in (hình ản, chữ viết)
được cấu tạo từ một lọai nhựa đặc biệt gọi là nhựa diazô. Lớp nhựa này có tính chất hút
dầu, đẩy nước, và mực in offset là loại mực (có gốc) dầu. Trong quá trình in, trước tiên bề
mặt khuôn in đuợc chà một lớp nước mỏng, lớp nước này sẽ dính ướt vào vùng không in
(chính là lớp nhôm đó). Sau đó khuôn in mới được chà mực. Vì mực có gốc dầu nên nó
không thể dính vào phần trắng trên khuôn in (đang dính nước) đưc, mà chỉ bắt dính lên
phần tử in là nhựa diazo ưa dầu mà thôi. Chính vì vậy dù khuôn in phẳng lì nhưng khi chà
mực, mực nó không chà tùm lum lên bề mặt khuôn mà chỉ truyền đúng vào phần tử in
tạo thành hình ảnh, chữ viết trên bề mặt khuôn in mà thôi. Và sau đó, khi ép in lên bề mặt
vật liệu in sẽ cho ra hình ảnh cần in.
Hình chụp phóng to bề mặt khuôn in offset. Phần màu sẫm chính là hạt tram trên bản in,
phần màu sáng (giống như bị rỗ) là phần bề mặt nhôm.
- Và có nhược điểm:
• Mực phải mua của chính hãng nên giá thành mực trên trang in còn cao.
• Màu sắc hạn chế trong một số màu nhất định.
• Giá máy còn cao so với mặt bằng giá nói chung ở nước ta.
Luận văn cao học – chuyên ngành Khoa học Môi trường
HVTH: Phan Hồng Khâm GVHD: TS. Trần Thị Mỹ Diệu
14
# Ngành xuất mực in
Lịch sử của sản xuất mực in
Viết mực lần đầu tiên được sản xuất trong cả hai quốc gia là Ai Cập cổ đại và Trung Quốc
trong khoảng 2500 trước Công Nguyên. Những loại mực này là hợp chất của sự kết hợp
của bồ hóng và dán này được hình thành vào que và sấy khô, sau đó trộn với nước ngay
lập tức trước khi sử dụng.
In đượ
c phát minh bởi người Trung Quốc khoảng 3000 năm sau đó. Họ sử dụng một hỗn
hợp của màu đất, bụi than và vật chất cho các sắc tố thực vật, một lần nữa pha trộn với lợi
cho chất kết dính. Bởi 1440, khi Johannes Guttenberg đã phát minh ra máy in đầu tiên
với loại di chuyển, mực in được làm từ muội bị ràng buộc với hoặc dầu hạt lanh hoặc sơn
- vậ
t liệu tương tự như được sử dụng cho mực đen ngày hôm nay. mực màu đã được giới
thiệu vào năm 1772 và các đại lý sấy lần đầu tiên được sử dụng trong thế kỷ XIX.
Mực in của hôm nay bao gồm các chất màu (một trong số đó là carbon đen, mà không
phải là nhiều khác biệt so với muội được sử dụng trong 2500BC), một chất kết dính (một
loại dầu, nhựa hoặc s
ơn của một số loại), một dung môi và các phụ gia như sấy và
chelating đại lý. Các công thức chính xác cho một mực nhất định tuỳ thuộc vào loại bề
mặt mà nó sẽ được in trên và in ấn phương pháp sẽ được sử dụng. Mực đã được thiết kế
để in trên một loạt các bề mặt từ kim loại, nhựa và các loại vải thông qua để giấy tờ. Các
phương pháp in ấn khác nhau là tất c
ả tương tự, trong đó mực được áp dụng cho một
Chủ yếu là chất kết dính nhựa - họ ràng buộc các thành phần khác của mự
c với nhau để
nó hình thức một bộ phim và họ gắn mực vào giấy. Họ cũng góp phần tài sản như độ
bóng và khả năng chống nhiệt, hóa chất và nước. Nhiều loại nhựa khác nhau được sử
dụng, và nhiều hơn một loại nhựa thường được sử dụng trong một mực nhất định. Một số
trong số này được sản xuất tại New Zealand (xem bài báo) nhưng h
ầu hết không. Các
loại nhựa thường được sử dụng nhất được liệt kê dưới đây:
Hai loại nhựa cao su được sử dụng trong sản xuất mực in: clo cao su và cyclised cao su.
Clo cao su được sản xuất bằng clo hoặc là một giải pháp hay nhũ cao su thiên nhiên.
Cyclised cao su được sản xuất bằng cách xử lý cao su tự nhiên với một chất xúc tác axit
để làm giảm mức độ bão hòa.
Đây là sản xuất bằng cách đun nóng phenol parasubstituted (benzyl alcohol) v
ới
formaldehyde dịch nước trong sự hiện diện của một chất xúc tác kiềm. Các thuộc tính
của nhựa cuối cùng phụ thuộc vào các phenol được sử dụng, các loại chất xúc tác, các
raio mol của các thành phần và điều kiện lò phản ứng.
Dung môi
Dung môi được sử dụng để giữ cho các chất lỏng màu từ khi nó được áp dụng cho các
tấm in hoặc xi lanh
cho đến khi nó đã được chuyển giao cho bề mặt
được in. Tại thời điểm này dung môi
phải tách biệt với cơ thể của mực để cho phép các hình ảnh để khô và gắn vào bề mặt.