DẠY HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC VỀ TẬP HỢP SỐ TỰ NHIÊN THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CHO HỌC SINH LỚP 1 - Pdf 22


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

GV : Giáo viên
HS : Học sinh
SGV : Sách giáo viên
SGK : Sách giáo khoa
NXB : Nhà xuất bản
NXBGD : Nhà xuất bản giáo dục
TH : Tiểu học
TTC : Tính tích cực

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Mục đích 2
3. Nhiệm vụ 3
4. Đối tƣợng nghiên cứu 3
5. Phạm vi nghiên cứu 3
6. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài 3
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1.1.Tìm hiểu tính tích cực trong học tập của học sinh 4
1.2. Thực trạng dạy học môn Toán ở Tiểu học 15
CHƢƠNG 2. DẠY HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC VỀ TẬP HỢP SỐ TỰ
NHIÊN THEO HƢỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CHO HỌC SINH
LỚP 1 27
2.1. Vận dụng trò chơi học tập vào dạy học một số nội dung về tập hợp số tự
nhiên trong Toán 1 27
2.2. Vận dụng đồ dùng trực quan vào dạy học một số nội dung về tập hợp số tự
nhiên trong Toán 1 32
2.3. Thiết kế một số bài soạn dạy học nội dung số tự nhiên theo phƣơng pháp

với phát triển kinh tế. Muốn làm đƣợc điều đó thì ngành giáo dục và đào tạo
nhất thiết phải có những đổi mới về hệ thống giáo dục về nội dung và phƣơng
pháp dạy học. Trong các nghị quyết của Đảng cũng nhƣ của luật giáo dục đã xác
định mục đích của quá trình đổi mới phƣơng pháp dạy học là tích cực hóa hoạt
động của học sinh. Thực chất là tính tích cực nhận thức đƣợc đặc trƣng ở sự
hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức.
Giáo dục nói chung và giáo dục Tiểu học nói riêng có ý nghĩa vô cùng to lớn
trong toàn bộ quá trình giáo dục. Giáo dục tiểu học là quá trình tiếp nối của bậc
học mầm non hoàn thành cơ sở ban đầu tạo đà cho sự phát triển tiếp theo về trí tuệ
cũng nhƣ tình cảm của các em. Đặc biệt ở tiểu học thì điều kiện thiết yếu nhất là
phát triển trí tuệ và trau dồi học vấn cho các em. Và trong những năm vừa qua,
trong phong trào đổi mới phƣơng pháp dạy học, một thầy cô có tâm huyết với
nghề, có hiểu biết sâu sắc về bộ môn, có tay nghề khá và nhạy cảm trƣớc yêu cầu
của xã hội đã thực hiện nhiều giờ dạy tốt, phản ánh đƣợc tinh thần của xu thế mới.
Hiện nay đã có sự thay đổi về cách dạy và học song chủ yếu vẫn là cách dạy thông
báo kiến thức có sẵn, dạy học theo phƣơng pháp “thuyết trình có kết hợp với đàm
thoại”, về thực chất vẫn là “thầy truyền đạt, trò tiếp nhận và ghi nhớ”.
Một nét nổi bật hiện nay là nhìn chung học sinh chƣa biết cách tự học, chƣa
học tập một cách tích cực. Nếu tiếp tục cách dạy học thụ động nhƣ thế sẽ không

2
đáp ứng đƣợc những yêu cầu mới của xã hội. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nƣớc và sự thách thức trƣớc nguy cơ tụt hậu trong cạnh tranh trí tuệ
đang đòi hỏi phải đổi mới giáo dục, trong đó có sự đổi mới căn bản về phƣơng
pháp dạy học.
Môn Toán ở Tiểu học nói chung và nội dung về số tự nhiên nói riêng có một
vị trí quan trọng, nó góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ban
đầu rất quan trọng của con ngƣời. Các kiến thức, kỹ năng của môn Toán ở Tiểu
học có nhiều ứng dụng trong đời sống; chúng rất cần thiết để học các môn học
khác ở Tiểu học. Môn Toán còn góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện

Tìm hiểu các phƣơng pháp phát huy tính tích cực cho học sinh tiểu học.
Tìm hiểu thực trạng việc dạy và học về tập hợp số tự nhiên ở lớp 1 trong
trƣờng Tiểu học của giáo viên và học sinh.
Thiết kế bài giảng về tập hợp số tự nhiên ở Tiểu học theo hƣớng phát huy tính
tích cực.
Đƣa ra một số giải pháp nhằm phát huy tính tích cực cho học sinh Tiểu học.
4. Đối tƣợng nghiên cứu
Lí luận về phƣơng pháp phát huy tính tích cực cho học sinh Tiểu học.
Chƣơng trình về nội dung số tự nhiên ở lớp 1
Giáo viên và học sinh một số trƣờng Tiểu học
5. Phạm vi nghiên cứu
Trƣờng Tiểu học mùng 8/4 – Thị trấn nông trƣờng Mộc Châu – Sơn La
Trƣờng Tiểu học Thái Hà – Huyện Thái Thụy – Thái Bình.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
- Phƣơng pháp nghiên cứu lí luận
- Phƣơng pháp thực nghiệm
4
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Sáng tạo: TTC thể hiện ở khả năng linh hoạt và hiệu quả trong giải quyết vấn
đề một cách độc đáo. 5
1.1.2. Phương pháp phát huy tính tích cực cho học sinh
Phƣơng pháp phát huy tính tích cực hay còn gọi là phƣơng pháp dạy học tích
cực.
Phƣơng pháp là cách thức, con đƣờng hoạt động có hiệu quả.
Phƣơng pháp dạy học là cách thức làm việc của GV, dƣới sự tổ chức của giáo
viên giúp HS lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, phát triển năng lực nhận thức để
hình thành nhân cách.
Phƣơng pháp dạy học Toán ở trƣờng Tiểu học là sự vận dụng phƣơng pháp
dạy học nói chung cho phù hợp với mục tiêu, nội dung và các điều kiện dạy học.
Phƣơng pháp dạy học tích cực là các phƣơng pháp dạy học theo hƣớng phát
huy tính tích cực chủ động sáng tạo của ngƣời học. Đó là một hệ thống các
phƣơng pháp tác động liên tục của GV nhằm khơi gợi cho HS tƣ duy, tổ chức
hoạt động nhận thức của HS theo quy trình. Nó không chỉ giáo dục cho HS tƣ
duy tích cực mà chủ yếu là tƣ duy độc lập, chuẩn bị cho tƣ tƣởng sáng tạo, HS
tiếp cận kiến thức qua các hoạt động nhận thức, qua làm việc cá nhân và phân
nhóm trao đổi hợp tác với bạn bè.
1.1.2.1. Đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực
Trong dạy học, GV và HS là chủ thể trực tiếp quyết định tới chất lƣợng dạy
và học. GV là chủ thể tổ chức, điều khiển tiến trình dạy học, HS vừa là đối
tƣợng vừa là chủ thể tự giác tích cực trong quá trình nhận thức và rèn luyện kĩ
năng. Hai chủ thể này tồn tại song song hoạt động phối hợp nhịp nhàng với
nhau, thiếu một trong hai thì hệ thống giáo dục sẽ bị phá vỡ, GV cần tạo điều
kiện thuận lợi nhất cho HS học tập, lựa chọn phƣơng pháp dạy học phù hợp với
nhu cầu năng lực và điều kiện cụ thể của cá nhân HS. Lấy mục tiêu cuối cùng là
chất lƣợng học tập của học sinh để phấn đấu.

Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh - với sự bùng nổ thông tin, khoa
học, kĩ thuật, công nghệ phát triển nhƣ vũ bão - thì không thể nhồi nhét vào đầu
óc học sinh khối lƣợng kiến thức ngày càng nhiều. Phải quan tâm dạy cho học
sinh phƣơng pháp học ngay từ bậc Tiểu học và càng lên bậc học cao hơn càng
phải đƣợc chú trọng.
Trong các phƣơng pháp học thì cốt lõi là phƣơng pháp tự học. Nếu rèn luyện
cho ngƣời học có đƣợc phƣơng pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo
cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con ngƣời, kết quả học
tập sẽ đƣợc nhân lên gấp bội. Vì vậy, ngày nay ngƣời ta nhấn mạnh mặt hoạt
động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ
động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trƣờng phổ
thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự
hƣớng dẫn của giáo viên.
1.1.2.1.3. Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác.
Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tƣ duy của học sinh không thể đồng
đều tuyệt đối thì khi áp dụng phƣơng pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự

7
phân hóa về cƣờng độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học
đƣợc thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập.
Áp dụng phƣơng pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này
càng lớn. Việc sử dụng các phƣơng tiện công nghệ thông tin trong nhà trƣờng
sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng
của mỗi học sinh.
Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều đƣợc
hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân. Lớp học là môi trƣờng giao
tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con
đƣờng chiếm lĩnh nội dung học tập. Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập
thể, ý kiến mỗi cá nhân đƣợc bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó ngƣời học
nâng mình lên một trình độ mới. Bài học vận dụng đƣợc vốn hiểu biết và kinh

Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là
một công việc nặng nhọc đối với giáo viên, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời
hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học.
Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng
vai trò đơn thuần là ngƣời truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành ngƣời
thiết kế, tổ chức, hƣớng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để
học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến
thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chƣơng trình. Trên lớp, học sinh hoạt
động là chính, giáo viên có vẻ nhàn nhã hơn nhƣng trƣớc đó, khi soạn giáo
án, giáo viên đã phải đầu tƣ công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và
học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là ngƣời gợi mở,
xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng,
tranh luận sôi nổi của học sinh. Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu
rộng, có trình độ sƣ phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hƣớng dẫn các hoạt
động của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên.
Có thể so sánh đặc trƣng của dạy học truyền thống và dạy học tích cực
nhƣ sau:
Tiêu chí
so sánh
Dạy học thụ động
Dạy học tích cực
Quan
niệm
Học là quá trình tiếp thu
và lĩnh hội, qua đó hình
thành kiến thức, kĩ năng, tƣ
tƣởng, tình cảm.
Học là quá trình kiến tạo; học sinh
tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập,
khai thác và xử lý thông tin,… tự hình

trên những phƣơng tiện thông tin đại
chúng… gắn với:
- Vốn hiểu biết, kinh nghiệm và nhu
cầu của HS.
- Tình huống thực tế, bối cảnh và môi
trƣờng địa phƣơng.
- Những vấn đề học sinh quan tâm.
Phƣơng
pháp
Các phƣơng pháp diễn
giảng, truyền thụ kiến thức
một chiều.
Các phƣơng pháp tìm tòi, điều tra,
giải quyết vấn đề, dạy học tƣơng tác.
Hình thức
tổ chức
Cố định: Giới hạn trong 4
bức tƣờng của lớp học,
giáo viên đối diện với cả
lớp.
Cơ động, linh hoạt: Học ở lớp, ở
phòng thí nghiệm, ở hiện trƣờng, trong
thực tế…, học cá nhân, học đôi bạn, học
theo cả nhóm, cả lớp đối diện với giáo
viên.

Đế vận dụng đƣợc những đặc trƣng cơ bản của phƣơng pháp dạy học tích cực
thì GV phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau :
+ Mọi đối tƣợng HS giỏi, khá, trung bình, yếu điều đƣợc tích cực hoạt động
tƣ duy trong.

vấn đề và tổ chức cho HS hoạt động, phát hiện vấn đề.
Vấn đề mà HS thấy cần giải quyết, mong muốn giải quyết nó nhƣng không
thể giải quyết ngay đƣợc vấn đề đó bằng sự cố gắng trí lực, với sự cố gắng của
mình, HS sẽ giải quyết đƣợc vấn đề đặt ra.
Khi giải quyết đƣợc vấn đề đó HS đƣợc những tri thức kĩ năng mới.
Do đặc điểm của HS Tiểu học, các vấn đề đƣợc hƣớng tới là những vấn đề
đơn giản (để giải quyết nó không cần tới một quá trình suy luận dài, phức tạp).
Mà phần lớn các vấn đề đƣợc phát hiện và đƣợc giải quyết trên cơ sở dựa vào

11
trực quan (thông qua quan sát các số, các hình ảnh thực, thông qua việc thử
nghiệm với các trƣờng hợp cụ thể để rút ra các kết luận khái quát).
Các bài tập có chứa vấn đề cần đa dạng, gồm các mức độ thích hợp với HS
có trình độ học tập khác nhau giỏi, khá, trung bình, yếu, kém…
1.1.3.2. Phương pháp kiến tạo
a. Khái niệm
Theo từ điển Tiếng Việt, kiến tạo có nghĩa là xây dựng nên. Theo Brandt
(1997) thì “lí thuyết kiến tạo (constructivision) là một lí thuyết dạy học trên cơ
sở nghiên cứu về quá trình học tập của con ngƣời và dựa trên quan điểm cho
rằng cho rằng mỗi cá nhân tự xây dựng nên tri thức của riêng mình, không đơn
thuần chỉ là tiếp nhận tri thức từ ngƣời khác”.
Theo quan điểm của lí thuyết kiến tạo thì HS phải là chủ thể tích cực xây
dựng nên kiến thức cho bản thân mình chứ không phải chỉ thu nhận một cách
thụ động từ môi trƣờng bên ngoài.
Quá trình kiến tạo tri thức là một quá trình vận động, phát triển và tiến hóa
chứ không phải là một quá trình tĩnh tại, đứng im. Mỗi ngƣời xây dựng nên kiến
thức cho bản thân mình theo những cách khác nhau, thậm chí trong cùng một
hoàn cảnh nhƣ nhau nhƣng mỗi ngƣời kiến tạo tri thức cho bản thân mình là
không giống nhau.
b. Đặc điểm dạy học theo phương pháp dạy học kiến tạo

+ Nếu trẻ không sợ việc chúng làm, chúng sẽ dùng hết khả năng của mình để
làm tốt nhất trong chừng mực có thể.
+ Nếu trẻ thực sự quan tâm đến nội dung của chủ đề, chúng sẽ tự học.
+ Nếu trẻ có thái độ tích cực hƣớng tới tài liệu học tập, chúng sẽ tự tìm đọc
tài liệu.
+ Nếu trẻ có cơ hội trao đổi những điều chúng hiểu về tài liệu học tập với bạn
bè cùng lứa tuổi thì chúng có dịp tốt để nhận thức về việc chúng đang làm.
Nếu trẻ thực sự quan tâm, hứng thú đến nội dung của chủ đề, chúng sẽ tìm
cách tiếm cận, tự học, và bộc lộ hết khả năng một cách tự nhiên.
Trò chơi học tập làm thay đổi hình thức hoạt động học tập, tạo ra bầu không
khí trong lớp học trở nên dễ chịu, thoải mái hơn. Học sinh tiếp thu kiến thức tự
giác và tích cực hơn.Học sinh thấy vui hơn, cởi mở hơn, thƣ thái hơn, dễ chịu và
khỏe mạnh hơn.
Giúp học sinh rèn luyện củng cố tiếp thu kiến thức, đồng thời phát triển vốn
kinh nghiệm mà các em đã đƣợc tích lũy thông qua hoạt động chơi.
Rèn luyện các kĩ năng kĩ xảo, thúc đẩy hoạt động trí tuệ. Nhờ sử dụng trò chơi
học tập mà quá trình dạy và học trở thành một hoạt động vui và hấp dẫn hơn.
Đối với học sinh, không có phƣơng tiện nào giúp các em phát triển một cách
tự nhiên có hiệu quả rèn luyện tính tự chủ bằng trò chơi học tập. Qua chơi, các

13
em biết tự kiềm chế, đƣợc tham gia hoạt động học tập tích cực. Trò chơi không
chỉ là phƣơng tiện mà còn là phƣơng pháp giáo dục.
Nhƣ vậy trò chơi học tập nói chung và rò chơi học toán nói riêng đảm bảo
đƣợc những tiền đề nói trên vì thế có tác dụng tốt trong việc củng cố kiến thức
rèn luyện kĩ năng và tạo cơ hội để HS ứng dụng vào giải quyết một vấn đề cụ
thể thiết thực mà các em đang quan tâm. Giúp cho học sinh phát triển toàn diện
cả về thể chất lẫn tinh thần. Trò chơi làm cho học sinh đƣợc phát triển các năng
lực một cách tự nhiên, giúp các em trao đổi kinh nghiệm, tƣơng tác lẫn nhau từ
đó các em tiếp thu kiến thức đƣợc dễ dàng.

Trong lúc dạy học GV chỉ phải làm ít, nói ít còn HS đƣợc làm việc nhiều.
Điều này rất phù hợp với quan niệm dạy học mới, HS tự “nhúng tay” vào làm
hay chính là phƣơng pháp dạy học “lấy HS làm trung tâm”
* Nhƣợc điểm
-Tạo cho HS thói quen làm việc không có đầu có cuối đầy đủ.
- Hạn chế năng lực diễn đạt và trình bày bằng lời của HS vì các em làm việc
bằng tay.
Ngoài ra còn lí do về điều kiện kinh tế của chúng ta hiện nay còn nghèo nàn
nên không có điều kiện để làm phiếu giao việc có kẻ ô li. Do đó khi HS phải
viết một câu dài (ví dụ: một câu lời giải của bài toán giải toán có lời văn) thì chữ
của các em không đƣợc đẹp ảnh hƣởng đến việc rèn luyện chữ viết, vở sạch chữ
đẹp của HS.
- Gây nên sự tốn kém về tài chính.
1.1.3.5. Phương pháp dạy học trực quan
a. Khái niệm
Phƣơng pháp dạy học trực quan là phƣơng pháp dạy học trong đó GV tổ
chức, hƣớng dẫn HS hoạt động trực tiếp trên các phƣơng tiện, đồ dùng dạy học
từ đó giúp HS hình thành kiến thức và kĩ năng cần thiết của môn Toán.
Sử dụng phƣơng pháp trực quan trong dạy học Toán ở Tiểu học là quá trình
kết hợp giữa cụ thể và trừu tƣợng, khái quát dựa trên cái cụ thể gần gũi với HS
sau đó vận dụng những quy tắc, khái niệm trừu tƣợng để giải quyết những vấn
đề cụ thể của học tập và đời sống.
b. Đặc điểm của phương pháp dạy học trực quan
Phƣơng pháp dạy học trực quan đƣợc sử dụng trong quá trình hình thành kiến
thức mới cho HS đặc biệt là những nội dung có tính chất trừu tƣợng.
Sử dụng phƣơng pháp trực quan trong dạy học toán ở Tiểu học không thể
thiếu phƣơng tiện (đồ dùng) dạy học.
+ Các phƣơng tiện (đồ dùng) dạy học phải phù hợp với từng giai đoạn nhận
thức của trẻ.


Hình thành và rèn luyện kĩ năng thực hành đo lƣờng, giải bài toán có nhiều
ứng dụng thiết thực trong đời sống.
Bƣớc đầu hình thành và phát triển năng lực trừu tƣợng hóa, khái quát hóa,
kích thích trí tƣởng tƣợng gây hứng thú học tập môn Toán. Phát triển hợp lí khả

16
năng suy luận đơn giản và biết diễn đạt đúng bằng lời góp phần rèn luyện
phƣơng pháp học tập, làm việc khoa học, linh hoạt, sáng tạo.
Trên cơ sở những căn cứ đã trình bày, mục tiêu môn toán ở nhà trƣờng Tiểu
học có thể đƣợc xác định:
Về kiến thức:
Cung cấp cho học sinh một số hệ thống kiến thức, kĩ năng và phƣơng pháp
toán học phổ thông cơ bản thiết thực tƣơng đối hoàn chỉnh sát với giáo dục quốc
dân Việt Nam là:
* Những kiến thức cơ bản về số (tập hợp hữu hạn các số tự nhiên, tập hợp
hữu hạn các số hữu tỉ).
* Về các biểu thức số và chứa chữ, về phƣơng trình, bất phƣơng trình đơn
giản cùng các bài toán điển hình có lời văn.
* Một số hiểu biết cơ bản về toán thống kê và biểu đồ:
* Những kiến thức cơ bản về hình thành biểu tƣợng hình học cùng với các
quy tắc tính: chu vi, diện tích, thể tích các hình. Các kiến thức về đại lƣợng phù
hợp với thình độ phát triển năng lực tƣ duy của học sinh qua từng khối lớp.
Những tri thức toán học, phƣơng pháp tiếp cận các tính chất, thuật toán lẫn
phƣơng pháp có tính chất tìm đoán.
Về kĩ năng:
Hình thành và phát triển những kĩ năng cơ bản cần thiết về tính toán và sử
dụng các phƣơng pháp để giải quyết các bài toán. Kĩ năng sử dụng công cụ đo,
biến đổi số đo đại lƣợng, kĩ năng tạo hình cùng với việc tính toán hóa tình
huống, áp dụng kiến thức toán học vào đời sống. Có khả năng rèn luyện suy
luận hợp logic và có kĩ năng thực hành.

nhằm phát triển khả năng học tập Toán cho trẻ em trong các bậc học sau.
- Không cấu trúc thành các phân môn riêng biệt: Đại số, Hình học, Lƣợng
giác nhƣ Trung học cơ sở, Trung học phổ thông. Nội dung môn Toán ở Tiểu
học bao gồm 5 mạch kiến thức có quan hệ hữu cơ với nhau tạo thành một môn
Toán thống nhất lấy số học làm cơ sở. Điều này là chỗ dựa cho nội dung của
phƣơng pháp dạy học môn Toán ở Tiểu học.
- Phƣơng pháp dạy học Toán ở Tiểu học cần có mối quan hệ mật thiết với
phƣơng pháp dạy học các môn học khác ở Tiểu học. Quá trình học của trẻ em là
nơi gặp gỡ của các phƣơng pháp dạy học của bộ môn. Mỗi giáo viên đều phải
nắm vững và sử dụng thành thạo các phƣơng pháp của các bộ môn. Đặc điểm và
mối quan hệ giữa các phƣơng pháp dạy học các môn sẽ giúp ngƣời giáo viên
Tiểu học khai thác triệt để tính ƣu việt và hạn chế thấp nhất các nhƣợc điểm của
những phƣơng pháp dạy học.
1.2.3. Tìm hiểu nội dung dạy học số tự nhiên ở lớp 1
1.2.3.1. Mục đích yêu cầu của nội dung số tự nhiên
Nội dung dạy học số tự nhiên là một nội dung quan trọng. Bởi nó là nền tảng
cho các em học tập các nội dung khác của môn Toán (yếu tố đại số, yếu tố hình

18
học, yếu tố thống kê, đo lƣờng, giải bài toán có lời văn), học tiếp môn Toán ở
bậc học tiếp theo cũng nhƣ các môn học khác.
Mục tiêu của dạy học số tự nhiên ở lớp 1 là:
- Kiến thức.
+ Nhận biết số lƣợng của của một nhóm đối tƣợng và nêu đƣợc số chỉ số
lƣợng của nhóm đối tƣợng đó.
+ Biết đếm đến 100
+ Biết đó, viết các số đến 100
+ Biết thứ tự và so sánh các số trong phạm vi 100.
+ Nhận biết bƣớc đầu về cấu tạo thập phân của số có hai chữ số:
- Kĩ năng.

hoạt động cơ bản nhắm giới thiệu số tự nhiên.
a) Trong vòng 10 thì việc đếm thêm 1 là hoạt động chủ yếu để giới thiệu số
lần mới (lần lƣợt từ bé đến lớn, theo ý nghĩa "số liền sau", ngoại trừ số 0)
b) Sau đó học sinh đếm các mẫu vật trong nhóm (phạm vi số đang học). Có
thể đếm theo từng vật hoặc nhóm vật.
c) Giới thiệu kí hiệu (chữ số) để ghi lại kết quả đó. Học sinh tập viết, đọc số.
d) Trong vòng 20 thì thao tác gộp 1 chục với các đơn vị riêng lẻ, rồi ghi lại số
lƣợng đó bằng hai chữ số đƣợc viết theo một trình tự quy ƣớc (từ trái sang phải).
e) Ở vòng 100 thì xuất hiện "đơn vị đếm" mới là "trăm" và việc hình thành số
tự nhiên cũng đƣợc tiến hành tƣơng tự nhƣ ở vòng 20.
1.2.3.2.3. Thứ tự số tự nhiên. So sánh các số tự nhiên.
Quan hệ tập hợp đƣợc thể hiện ở Tiểu học dƣới hình thức so sánh các số tự
nhiên.
Ở lớp 1, học sinh đã đƣợc cách so sánh hai số để rồi xếp vài số tự nhiên theo
một thứ tự, tạo thành một dãy số. Học sinh đƣợc học những nội dung sau đây:
- So sánh hai số và dùng kí hiệu (<, >, =) để ghi lại kết quả so sánh.
- Nếu thêm 1 vào một số thì đƣợc một số đứng liền sau đó, nếu bớt ở 1 ở một
số thì ta đƣợc một số đứng liền trƣớc nó.
- Không có số tự nhiên nào đứng giữa hai số tự nhiên liên tiếp.
- Trong dãy số tự nhiên có số bé nhất (số 0) mà không có số lớn nhất.
1.2.3.2.4. Ghi số và cấu tạo thập phân của số tự nhiên
- Phân biệt số và chữ số. từ vòng 20 đến vòng 100, học sinh dùng 10 chữ số
để viết các số có hai chữ số.

20
- Hàng và lớp.
+ Trong vòng số 20 và 100, học sinh đã phân biệt chữ số ở vị trí hàng đơn vị,
chữ số ở vị trí hàng chục và mối quan hệ giữa hai hàng đó: 1 chục = 10 đơn vị,
học sinh phân biệt đƣợc số chỉ chục và số chỉ đơn vị.
1.2.3.3. Tư tưởng chỉ đạo về phương pháp dạy học

đƣợc cải tiến phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của nhà trƣờng Tiểu học Việt Nam.
Việc làm đó đã làm nâng cao chất lƣợng dạy học Toán ở Tiểu học.
Tuy nhiên, trong thực tiễn ở Tiểu học phƣơng pháp dạy học Toán về cơ bản
không đƣợc đổi mới, không đáp ứng đƣợc những đổi mới về mục tiêu, nội dung
giáo dục. Đặc điểm chính của phƣơng pháp dạy học là:
- Giáo viên thƣờng chỉ truyền đạt, giảng bài theo các tài liệu đã có sẵn trong
SGK hƣớng dẫn giảng dạy. Vì vậy, giáo viên thƣờng làm việc một cách máy
móc và thƣờng ít quan tâm tới việc phát huy khả năng chủ động sáng tạo của
học sinh.
- Học sinh học tập một cách thụ động, chủ yếu chỉ nghe giảng, ghi nhớ và
làm theo bài mẫu. Do đó, việc học tập thƣờng ít hứng thú, nội dung các hoạt
động học tập thƣờng đơn điệu nghèo nàn ít quan tâm đến năng lực cá nhân
của học sinh.
- Giáo viên và học sinh đều phụ thuộc vào các tài liệu có sẵn.
Trên thực tế, việc dạy học ở hầu hết các trƣờng Tiểu học vẫn là cách dạy
thông báo kiến thức có sẵn dạy học theo phƣơng pháp “thuyết trình có kết hợp
với đàm thoại” là chủ yếu. Mà về thực chất vẫn là “thầy truyền đạt trò tiếp nhận
và ghi nhớ”. Mặt khác, một nét nổi bật hiện nay là học sinh chƣa biết cách tự
học, chƣa học tập một cách tích cực. Giáo viên chỉ làm việc một cách máy móc
chú trọng đến việc thông báo đầy đủ kiến thức trong sách giáo khoa cho học
sinh, ít quan tâm đến việc phát huy khả năng sáng tạo của học sinh. Hơn nữa
việc tiếp thu một cách thụ động, ghi nhớ một cách máy móc của học sinh không
thể hƣớng tới mục tiêu phát triển toàn diện năng lực tƣ duy sáng tạo. Vì thế mà
các hoạt động học tập nghèo nàn đơn điệu, các năng lực vốn có của cá nhân các
em ít có cơ hội phát triển. Giáo viên là ngƣời có quyền duy nhất đánh giá kết
quả học tập của học sinh, học sinh ít đƣợc đánh giá lẫn nhau. Hơn nữa, trong các
hoạt động học tập chỉ có một số ít học sinh tập trung chú ý và phát biểu xây
dựng bài, còn đa số học sinh không tự lực làm việc để tiếp nhận tri thức rèn
luyện kĩ năng hoặc có thể là làm việc nhƣng ở mức độ nhận thức và sự tiến bộ
nhƣ thế nào giáo viên không nắm rõ.

Dƣới 5
năm
Từ 5 đến
15 năm
Trên 15
năm
ĐH

TC
Tiểu học
Thái Hà
20
3
10
7
10
7
3
Tiểu học
8/3
30
6
15
9
12
10
8
Bảng 1: Bảng điều tra giáo viên
Đây là 2 trƣờng Tiểu học ở 2 địa điểm hoàn toàn riêng biệt. Thuận lợi cho
việc khảo sát và vận dụng phƣơng pháp.

= 25%
8 GV
= 40%
12 GV
= 60%
10 GV
= 50%
10 GV
= 50%
Trƣờng
TH 8/4
18 GV
= 60%
12 GV
= 40%
15 GV
= 50%
15 GV
= 50%
10 GV
= 33,3 %
20 GV
= 66,7%
Bảng 2: Thực trạng dạy học một số kiến thức về tập hợp số tự nhiên theo
hướng phát huy tính tích cực
Tìm hiểu những khó khăn của GV trong việc vận dụng PPDHTC vào dạy
học tập hợp số tự nhiên ở lớp 1, đƣợc thể hiện trong bảng sau:
Nội dung
Đối tƣợng
Không nắm

vận dụng các phƣơng pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực cho HS. HS rất
hứng thú trong quá trình học tập. Tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn
trong quá trình dạy học. Có GV còn ngại ngùng vì việc áp dụng các phƣơng
pháp mất rất nhiều thời gian để chuẩn bị. Cũng còn có GV chƣa nắm đƣợc lí
thuyết về phƣơng pháp nên tỏ ra lúng túng trong việc vận dụng.
b. Điều tra học sinh
Đối tƣợng: 108 HS ở 2 trƣờng khảo sát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status