VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘIMAI PHƯƠNG NGỌC
CƠ CẤU KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA XÃ
HOẰNG LỘC (HOẰNG HÓA, THANH HÓA)
THỜI KÌ TRUNG ĐẠI
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam cổ đại và trung đại
Mã số: 62.22.54.01
1
Công trình được hoàn thành tại:
Học viện Khoa học Xã hội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Minh Tường
Phản biện 1: GS.TS. Nguyễn Quang Ngọc
Trường Đại học KHXH&NV Hà Nội
Phản biện 2: PGS.TS. Nguyễn Minh Đức
Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam
Phản biện 3: PGS.TS. Vũ Duy Mền
Khoa Sử học, Học viện Khoa học Xã hội.
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại Học viện Khoa học Xã hội
Vào hồi giờ ngày tháng năm
2
Có thể tìm hiểu luận án tại :
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học Xã hội
- Thư viện Viện Sử học
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Dưới thời quân chủ, có hai sự kiện thường làm xôn xao cả làng xã, thứ nhất: có người thi đậu, được cả làng rước
về vinh qui bái tổ. Thứ hai, có quan về làng: khi đi trong đường làng, dường như người ta ai cũng muốn ra để được trông
- Tìm hiểu tổ chức xã hội xã Hoằng Lộc dưới thời trung đại, với các “cấu kiện đúc sẵn” và các kết cấu đặc trưng
riêng của Hoằng Lộc.
- Tìm hiểu đời sống văn hóa xã Hoằng Lộc thời kì trung đại, qua đó cho thấy nét đặc trưng của một làng quê xứ
Thanh hiếu học và khoa bảng.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là cơ cấu kinh tế, xã hội, văn hóa xã Hoằng Lộc (Hoằng Hóa, Thanh Hóa)
thời kì trung đại.
Về không gian, không gian nghiên cứu của Luận án được giới hạn là xã Hoằng Lộc, thuộc huyện Hoằng Hoá,
tỉnh Thanh Hoá - một đơn vị hành chính cấp cơ sở ngày nay. Trong quá trình thực hiện, chúng tôi có sự quy chiếu để
thấy sự thay đổi địa giới hành chính của vùng đất này qua quá trình phát triển. Đến giữa thế kỉ XIX, vùng đất Hoằng Lộc
ngày nay gồm hai xã: Hoằng Đạo, Bột Thái và cuối thế kỉ XIX, đổi thành Hoằng Nghĩa và Bột Hưng, thuộc tổng Hành
Vĩ, huyện Hoằng Hóa, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Đồng thời, có đôi chỗ, khi vấn đề trình bày cần có sự so sánh, đối
chiếu, Luận án cũng đề cập một số nét về các làng xung quanh hoặc các làng có vấn đề nghiên cứu tương đồng.
5
Về thời gian, Luận án nghiên cứu về xã Hoằng Lộc trong thời trung đại, giới hạn từ đầu thế kỉ X đến khoảng
giữa thế kỉ XIX. Tất nhiên, lịch sử là một dòng chảy liên tục, do vậy, trong khi nghiên cứu, nếu thấy cần thiết, chúng tôi
sẽ đề cập phần nào đến khoảng thời gian trước hoặc sau đó.
Về nội dung, Luận án tìm hiểu về cơ cấu kinh tế, xã hội và văn hoá của Hoằng Lộc trong thời kì trung đại. Tuy
nhiên, chúng tôi không có tham vọng sẽ bao quát và đi sâu được mọi khía cạnh của các vấn đề, mà ở đây, chúng tôi giới
hạn tìm hiểu về những nét cơ bản nhất, đặc trưng nhất trong các lĩnh vực nêu trên.
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tài liệu
- Tài liệu tham khảo: các thư tịch chữ Hán (đã được dịch ra tiếng Việt) như: các bộ địa lí học - lịch sử và sử học,
một số tác phẩm tùy bút, tạp ký bằng chữ Hán dưới thời trung đại và các công trình nghiên cứu có liên quan của các tác
giả đi trước.
- Tài liệu lưu trữ: tại phòng Địa chí Thanh Hóa và trung tâm lưu trữ Quốc gia I, bao gồm các sách như: Đăng
khoa lục Thanh Hóa, Thanh Hóa tỉnh địa dư chí, Địa bạ hai xã Hoằng Đạo, Bột Thái năm Minh Mệnh thứ 15 (1834), tài
liệu Châu bản của triều Nguyễn cũng lưu lại 142 bản tấu, dụ, lệnh chỉ có liên quan đến Hà Duy Phiên v.v
- Tài liệu điền dã: các văn bia, thần tích, sắc phong, câu đối, các hương ước, thúc ước, các gia phả dòng họ, bằng
sắc, chúc thư, các tư liệu vật chất như văn chỉ, đình, chùa, lăng miếu, từ đường các dòng họ, các ngôi nhà cổ, giếng
Trong các giai đoạn về sau, ngày càng xuất hiện nhiều các công trình của các tác giả nước ngoài thuộc nhiều nước khác
nhau nghiên cứu về làng Việt, trong đó nhiều công trình đã được dịch và xuất bản như: Luật và xã hội Việt Nam thế kỉ
XVII, XVIII của tác giả Insun Yu, Làng Việt đối diện tương lai hồi sinh quá khứ của John Kleinen v.v Điều đó cho thấy,
muốn tìm hiểu thấu đáo về đời sống và cốt cách con người Việt Nam thì cần nhận diện rõ vai trò của làng Việt.
1.1.2. Các công trình của các tác giả trong nước
Trước Cách mạng tháng Tám 1945, các tác giả như Nguyễn Văn Huyên, Phan Kế Bính đã có nhiều công trình
tìm hiểu về đời sống, phong tục, tập quán làng Việt. Sau Cách mạng tháng Tám, các nghiên cứu về làng xã ngày càng
phong phú và sâu sắc hơn, tiêu biểu như Xã thôn Việt Nam của Nguyễn Hồng Phong (1959), Chế độ ruộng đất và kinh
tế nông nghiệp thời Lê sơ của Phan Huy Lê (1959) v.v Đặc biệt, từ sau năm 1975, làng xã trở thành đề tài được quan
tâm nghiên cứu trên tất cả các phương diện với các công trình của nhiều tác giả tiêu biểu như: Trần Từ, Phan Đại Doãn,
Bùi Xuân Đính, Nguyễn Quang Ngọc, Vũ Duy Mền v.v
1.2. Nghiên cứu về Thanh Hóa và Hoằng Hóa
1.2.1. Các công trình của tác giả nước ngoài
Hiện nay, tại thư viện tỉnh Thanh Hóa còn lưu lại một số tài liệu nghiên cứu của các học giả nước ngoài liên
quan đến địa phương. Đặc biệt, cuốn sách Le Thanh Hoa (Tỉnh Thanh Hóa, 1929) của Ch.Robequain, dù có những vấn
8
đề về quan điểm cần phải xem xét, song những nhận định về làng Việt, về cây lúa, hoa màu, gia súc, nghề đánh cá, nghề
thủ công và việc buôn bán cho thấy quá trình tìm hiểu và điền dã thực tế một cách nghiêm túc, công phu của tác giả.
1.2.2. Các công trình của tác giả trong nước
Một số tác giả đã tập trung nghiên cứu về làng xã Thanh Hóa và Hoằng Hóa, có thể kể đến các công trình như: sách
Khảo sát làng văn hóa xứ Thanh của tác giả Hoàng Anh Nhân và Lê Huy Trâm, Làng nghề thủ công và làng khoa bảng thời
phong kiến ở đồng bằng sông Mã của Hà Mạnh Khoa, Địa chí văn hoá Hoằng Hoá (Ninh Viết Giao chủ biên) v.v Trường
hợp xã Hoằng Lộc, trước khi chúng tôi thực hiện đề tài này, đã có một vài công trình tìm hiểu về lịch sử, văn hoá, phong tục,
tập quán và kiến trúc, bao gồm sách, luận văn cao học, một số bài viết trên các tạp chí và đăng trong kỉ yếu các cuộc hội thảo
khoa học. Tiêu biểu nhất cần phải kể đến cuốn sách Hoằng Lộc đất hiếu học của các tác giả Bùi Khắc Việt, Nguyễn Đức
Nhuệ (1996).
1.3. Một vài nhận xét về tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến luận án
Trong các công trình về Hoằng Lộc, các tác giả đã tập trung tìm hiểu nhiều nhất trên phương diện văn hóa, bao
gồm các vấn đề: truyền thống khoa bảng, Bảng Môn Đình, chùa Thiên Nhiên, lễ hội. Các kết quả của những tác giả đi
trước là nguồn tài liệu có giá trị cao đối với chúng tôi trong nghiên cứu. Tuy vậy, điều đó không có nghĩa chúng tôi kế
2.2.1. Tình hình ruộng đất
Kết quả khảo sát tại Hoằng Lộc cho thấy: Ruộng được chia làm hai vùng: ruộng đồng (ruộng đồng sâu) và
ruộng bãi. Trong các tài liệu, phản ánh đầy đủ nhất về tình hình ruộng đất nơi đây chính là Địa bạ năm Minh Mệnh 15
11
(1834) của hai xã Hoằng Đạo, Bột Thái. Theo đó, công tư điền thổ các hạng của hai xã là 447.6.8.8. Công điền: 10.1.0.0
chiếm 2,26% trong tổng diện tích công tư điền thổ các hạng, chiếm 3,63% diện tích ruộng đất công và tư tại hai xã. Đây
là tỉ lệ thấp so với cả nước. Diện tích tư điền: 267.8.4.0, trong đó 92,9% là ruộng hạng 3. Với 52 người được chép tên
trong địa bạ Hoằng Đạo, Bột Thái thì mức bình quân ruộng đất/chủ sở hữu là: 2.3.9.2. Trong Luận án, tác giả đồng thời
đã so sánh tình hình ruộng đất của 2 xã Hoằng Đạo, Bột Thái với tất cả các làng xã lân cận và một số làng khoa bảng
khác của Hoằng Hóa.
Về xâm canh, trong số 267.8.4.0 diện tích ruộng tư của hai xã Hoằng Đạo, Bột Thái thì xâm canh chiếm
108.2.4.8 (40,42%), gồm 51 mảnh ruộng với 35 chủ sở hữu đến từ 8 xã trong huyện Hoằng Hóa. Xét chiều ngược lại,
phân tích địa bạ các xã có địa giới giáp với Hoằng Lộc, chỉ có 2 địa bạ có ghi người Hoằng Đạo, Bột Thái sang xâm
canh là thôn Ông Hòa, xã Đại Trung và Hành Đoan nhị xã.
Thông qua các kết quả phân tích, có thể thấy đặc điểm ruộng đất ở Hoằng Đạo, Bột Thái là những thửa ruộng
manh mún. Kết cấu sở hữu tư nhân về ruộng đất ở đây chủ yếu là nhỏ bé và phân tán. Một vài chức sắc có sở hữu ruộng
đất lớn hơn, ngoài ra, chủ yếu vẫn là sở hữu nhỏ, thậm chí không có sở hữu ruộng đất.
2.2.2. Sản xuất nông nghiệp
Ở Hoằng Lộc, xét về mùa vụ, cũng như nhiều địa phương khác ở đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, trồng trọt
ở Hoằng Lộc có hai vụ: vụ hạ (vụ chiêm) vào tháng 5 và vụ thu (vụ mùa) vào tháng 10. Địa bạ Hoằng Đạo, Bột Thái
năm Minh Mệnh 15 cho biết cụ thể: diện tích công điền có 8.0.0 vụ hạ; 9.3.0.0 vụ thu; trong diện tích tư điền thì hạ vụ
chiếm: 95. 3.0.0 (35,58%); thu vụ: 172.5. 4.0 (64,42%). Như vậy, vụ thu vẫn chiếm diện tích gieo cấy nhiều hơn hạ vụ.
Về giống cây trồng, gần như suốt khoảng mấy trăm năm các giống cây trồng các loại vẫn không thay đổi. Vụ
mùa gần như hoàn toàn trồng lúa. Vụ chiêm, trên đất bãi có trồng thêm các loại hoa màu, đặc biệt là cây khoai lang và
12
xen ngô, đỗ, lạc. Ở Hoằng Lộc nói riêng và Hoằng Hóa nói chung, có một loại cây trồng nổi bật, đó là cây dừa. Về kĩ
thuật canh tác, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng: mặc dù chú ý thâm canh, chú ý tổng kết kinh nghiệm sản xuất, nhưng
người nông dân lại hầu như không chú ý đến việc cải tiến kĩ thuật. Hình ảnh con trâu đi trước, cái cày chìa vôi khẳng
khiu đi sau vẫn còn là hình ảnh phổ biến ở khắp mọi cánh đồng quê Việt Nam, thậm chí cho đến những năm cuối cùng
của thế kỉ XX. Do đó, năng suất lúa ở mức thấp.
Bởi vậy, sự ra đời và hoạt động của chợ Điếm cũng gắn liền với sự thịnh suy của nghề dệt.
Sự tồn tại của chợ Quăng và chợ Điếm cũng cho thấy ở Hoằng Bột từ xưa đã hình thành một lớp người buôn
bán, nhưng chưa xuất hiện tầng lớp thương nhân lớn.
14
2.5. Nghề dạy học
Trong xã hội Việt Nam trước đây, kết cấu kinh tế làng xã có ba thành phần: nông nghiệp, thủ công nghiệp và
thương nghiệp là tương đối phổ biến. Ngoài ra, “còn có loại làng nông công thương sĩ (TG nhấn mạnh). Chẳng hạn
như làng Quỳnh Đôi (Nghệ An), Tiên Điền (Hà Tĩnh)… Ở những làng này, tầng lớp trí thức đóng vai trò quan trọng”
(Phan Đại Doãn). Hoằng Lộc cũng là một làng quê như vậy. Trong tiểu mục này, tác giả đã chứng minh rằng: Hoằng
Lộc là vùng đất có truyền thống hiếu học và khoa bảng, do đó, dạy học là một nghề danh giá, là con đường sống của một
bộ phận không nhỏ cư dân. Người Hoằng Lộc đến nay vẫn còn lưu truyền câu ca “Làm thầy nuôi vợ, làm thợ nuôi
miệng” như một minh chứng cho giá trị kinh tế của nghề dạy học. Những tư liệu được chép trong gia phả cho thấy, chính
nghề dạy học là con đường nuôi sống nhiều con người, nhiều tài năng, nhiều gia đình ở làng quê này. Ở đây có nhiều
thầy giáo nổi tiếng, là một trong những trung tâm góp phần tạo nên hình ảnh “Ông đồ xứ Thanh” trong lịch sử.
Tiểu kết chương 2
Với diện tích ruộng ít hơn các làng xã xung quanh, các mảnh ruộng lại manh mún, nên mặc dù nghề nông dù là
nghề chính, quan trọng nhất đối với người nông dân làng xã, song, tại Hoằng Bột, đa số cư dân chỉ có trong tay những
thửa ruộng nhỏ, hoặc cũng có khi không có ruộng. Hiện tượng người Hoằng Lộc đi xâm canh tại các làng xã lân cận
cũng không nhiều. Hơn nữa, những người này cũng chỉ sở hữu ít ruộng đất, thậm chí không sở hữu ruộng tại bản xã,
điều đó chứng tỏ, ruộng đất không phải là phương thức tích trữ, cũng không phải là phương thức kiếm sống chủ đạo của
cư dân Hoằng Lộc thời trung đại. Vì vậy, những ngành nghề như nghề dệt, các hoạt động trao đổi buôn bán đóng vai trò
quan trọng trong cơ cấu kinh tế nơi đây.
15
Nghề dệt vải là nghề thủ công tiêu biểu của Hoằng Lộc thời trung đại. Có những thời kì, “vải Phú” của vùng Kẻ
Quăng đã trở thành mặt hàng buôn bán gần xa, đây cũng là điều kiện quan trọng khiến cho vùng đất Hoằng Lộc nhộn
nhịp hoạt động của chợ Quăng và chợ Điếm, trong đó chợ Quăng là chợ lớn của huyện Hoằng Hóa và của xứ Thanh.
Một đặc điểm nữa về kinh tế ở vùng đất này, đó là ngoài cơ cấu kinh tế: nông - thủ công - thương nghiệp thông
thường như đa phần các làng quê Việt Nam khác, còn có một nghề góp phần tạo dựng “cơm ăn áo mặc” cho một bộ
phận cư dân, đó là nghề dạy học. Điều quan trọng là, ở đây, người làm thợ, người đi buôn, người đi học, sự giao lưu, trao
đổi đã diễn ra thường xuyên, liên tục trong suốt thời trung đại. Chính các hoạt động kinh tế này đã cho chúng ta minh
Xóm hay chòm là tập hợp dân theo không gian cư trú. Qua gia phả các dòng họ, chúng ta thấy xuất hiện nhiều tên xóm
của Hoằng Lộc dưới thời trung đại như: xóm Đình, xóm Sau, xóm Chùa, xóm Chúa, xóm Lay, xóm Mẫu; xóm Nghè
v.v
Đứng đầu mỗi xóm là Quản chiếu. Quản chiếu do xóm bầu. Trên bình diện chung của làng xã, xóm cũng là nơi
chính quyền cơ sở dựa vào để bảo vệ an ninh tập thể như: “Tuần xóm”, “Điếm xóm” Đồng thời, ở đây, mọi công việc
của làng, nước như thu bổ, an ninh trật tự, phu phen v.v đều do Quản chiếu đôn đốc xóm thực hiện.
3.3.2. Giáp
Kết quả nghiên cứu cho thấy, các giáp ở Hoằng Bột được tổ chức theo các thôn, tức theo địa vực. Trên cơ sở ghi
chép từ các gia phả, chúng tôi đã thống kê và bước đầu xác định được tên gọi các giáp đã từng tồn tại tại hai xã Bột
Thượng (sau này là Hoằng Đạo, Hoằng Nghĩa) gồm có: Nghĩa Đạo, Hanh Đông, Bình Đông, Bảo Phúc, Bảo Trung,
Bảo Toàn, Bảo Lộc, Thái Hòa, Nghĩa An và xã Bột Thái (sau này là Bột Hưng) có các giáp: Phúc Trù, Thị Chủ, Thiện
Khánh, Phú Nhu, Phúc Trạch, Anh Vinh, Lương Trạch. Đứng đầu mỗi giáp là Trưởng giáp hay còn gọi là Tri giáp,
ngoài ra mỗi giáp còn có Câu đương chịu trách nhiệm việc ghi chép những việc thu chi trong giáp.
3.3.3. Hội
18
Trong phần này, chúng tôi đề cập đến hai tổ chức hội đã tồn tại trong xã Hoằng Lộc thời kì trung đại: “Làng
văn” và “Làng hộ”. “Làng văn” (Hội tư văn) là nơi tập hợp những kẻ sĩ trong làng, nơi các nhà khoa bảng, những người
theo đuổi bút nghiên, được tụ họp tại đình làng để tổ chức các đợt bình văn thơ, giảng kinh sách, có trách nhiệm viết, đọc
văn tế ở đình miếu, bàn bạc, tổ chức việc tu sửa văn chỉ. Trong khi đó, “Làng hộ”, bao gồm tất cả trai đinh trong làng từ
18 tuổi trở lên, không được học hành, có nghĩa vụ phu phen tạp dịch, khênh kiệu, trải chiếu trong mỗi dịp làng tổ chức lễ
hội, đón rước, không được dự họp trong đình Bảng Môn, phải họp riêng tại điếm Làng hộ. Sự phân chia thành hai tổ
chức tập hợp dân với những điều phân biệt rõ nét về địa vị, quyền lợi và nghĩa vụ trong cùng một cộng đồng cư dân
thống nhất là một điểm độc đáo trong tổ chức xã hội ở Hoằng Lộc thời trung đại, điểm khác biệt so với tất cả các làng xã
khác đã được nghiên cứu. Chính sự tồn tại của “Làng văn” và “Làng hộ” đã khiến cho các gia đình nơi đây, dẫu nghèo
khó cũng cố gắng cho con em theo đòi chữ nghĩa để có dịp được vào “Làng văn”. Điều đó tác động tích tực trong việc
khuyến khích học hành của làng xã.
3.4. Gia đình, dòng họ
3.4.1. Gia đình
Về cấu trúc gia đình, trong làng Việt nói chung và Hoằng Lộc nói riêng vẫn tồn tại đồng thời hai kiểu gia đình,
gần”, song, quan hệ huyết thống dòng họ vẫn có vai trò quan trọng. Ở đây, dòng họ là nơi củng cố, duy trì nhiều mối
1
Ở Hoằng Lộc có nhiều họ Nguyễn không cùng gốc. Ở đây thần phả không ghi cụ thể các dòng họ Nguyễn.
20
quan hệ xã hội, đặc biệt, là nơi nuôi dưỡng, phát huy truyền thống hiếu học. Bên cạnh đó, hình ảnh gia đình được phác
họa là gia đình phụ quyền, vẫn quen thuộc với “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” (một con trai cũng được gọi là có
con, nhưng mười con gái vẫn là không con) của xã hội quân chủ Việt Nam. Thế nhưng, sự hiện diện của những dòng
chép về tên các con gái, về họ tên, quê quán người chồng của cô con gái, lại cả những dòng đề cao vai trò người mẹ,
người vợ trong các tộc phả đã phản ánh vai trò thực tế của người phụ nữ trong xã hội, và hơn nữa ít nhiều cho thấy nơi
đây sự phân biệt nam - nữ cũng không đến nỗi quá khắt khe. Tất cả những điều đó tạo nên diện mạo một làng quê xứ
Thanh với những sắc thái đa chiều, song thống nhất trong một nét chung, đó là “trọng học”, và “khuyến học”.
21
CHƯƠNG 4. ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
4.1. Khái quát về cảnh quan, kiến trúc làng xã
Địa bạ Hoằng Đạo, Bột Thái cho biết tổng diện tích tự nhiên của hai xã là 810.8.14.8. Như vậy, diện tích trung
bình của một xã là: 405.4.7.4. Con số này cho thấy quy mô hai xã của Hoằng Lộc thời trung đại thuộc diện trung bình so
với các xã thôn Bắc Bộ và Bắc Trung bộ. Khảo sát Hoằng Lộc, chúng ta dễ dàng nhận thấy một quần thể kiến trúc hài
hòa với hội quán ở trung tâm làng, cách đó không xa là áng Thượng của làng Bột Thượng và áng Thái của làng Bột
Thái, nơi làng thường tổ chức hội lễ Đại kỳ phúc. Chùa Thiên Nhiên tọa lạc phía Nam làng nơi tĩnh mịch, chùa Thiên
Vương nằm ở cánh đồng ngoài làng. Có bốn cái miếu án ngữ ở bốn góc làng. Miếu Đệ Nhất, Đệ Nhị và Đệ Tam đều
hướng ra cánh đồng, Qua điền dã thực tế, chúng tôi đã khảo sát, thống kê và miêu tả khái quát về 26 ngôi nhà cổ, phác
họa sơ đồ cấu trúc nhà điển hình và miêu tả 8 giếng cổ của làng hiện vẫn còn tại Hoằng Lộc. Những điều đó chứng tỏ
dáng nét phong quang của một làng quê văn hiến.
4.2. Tôn giáo, tín ngưỡng
4.2.1. Bảng Môn Đình với tín ngưỡng thờ thần Thành hoàng
Thông qua các sắc phong và thần tích, có thể khẳng định, từ xưa, hai làng Bột đã thờ 3 vị nhiên thần (ở các miếu
Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam), 2 vị nhân thần là Nguyễn Tuyên và Thượng thư Quận công Bùi Khắc Nhất làm thần Thành
hoàng. Qua xem xét kiến trúc Bảng Môn Đình, có thể nói đây là ngôi đình làng có lịch sử lâu đời với nhiều nét kiến trúc
tiêu biểu, đặc biệt là nghệ thuật chạm khắc gỗ. Hơn nữa, về mặt chức năng, Bảng Môn Đình không chỉ là nơi dành riêng
để thờ thần thành hoàng mà còn là chốn hội tụ nho sinh của làng xã và đề cao sự học. Chính bởi vậy, Bảng Môn Đình
bia tiến sĩ ở Văn miếu Quốc Tử Giám Thăng Long và ở Văn miếu Thừa Thiên Huế.
Qua xử lí tài liệu, chúng tôi nhận thấy: sách Hoằng Lộc đất hiếu học chép tên 256 hương cống, cử nhân dưới
triều Lê và triều Nguyễn. Đây là những thống kê được dẫn nguồn chủ yếu từ gia phả các dòng họ nên cần kiểm chứng
thêm. Sách Trạng nguyên, tiến sĩ, hương cống Việt Nam chép 98 người Hoằng Lộc đậu trung khoa. Ở đây, chúng tôi
thống kê từ Đăng khoa lục Thanh Hóa và Quốc triều hương khoa lục cho chúng ta danh sách 110 hương cống, cử nhân
của Hoằng Lộc. Trong Luận án, chúng tôi đã phân tích, đối sánh các số liệu đỗ đạt giữa Hoằng Lộc với các làng xã của
Hoằng Hóa, từ đó cho thấy Hoằng Lộc là một trong những xã có số người đậu đại khoa và trung khoa cao nhất của
huyện Hoằng Hóa.
4.3.3. Đóng góp của Nho sĩ Hoằng Lộc đối với tiến trình lịch sử dân tộc
Trong tiểu mục này, chúng tôi trình bày đóng góp của Nho sĩ Hoằng Lộc trong các lĩnh vực chính trị, bang giao,
đào tạo nhân tài. Từ các kết quả nghiên cứu có thể khẳng định, trên lĩnh vực nào, Nho sĩ Hoằng Lộc cũng có những cống
hiến to lớn với lịch sử dân tộc.
4.3.4. Thái độ của Nho sĩ Hoằng Lộc với các triều đại quân chủ Việt Nam
24
Chúng tôi trình bày thái độ của Nho sĩ Hoằng Lộc đối với các vương triều: Lê sơ, Mạc, Lê trung hưng, Tây Sơn
và nhà Nguyễn. Trong đó, có một vấn đề đáng chú ý là, so với nét chung của lịch sử dân tộc thì lựa chọn cho lí tưởng
“trung quân” của Nho sĩ Hoằng Lộc - tiêu biểu cho Nho sĩ xứ Thanh, cũng có những điểm khác biệt, khi họ thể hiện thái
độ chống Tây Sơn và phò giúp vương triều Nguyễn. Đây là một thực tế lịch sử mà Luận án đã nghiên cứu, đồng thời lí
giải nguyên nhân của hiện tượng này.
4.4. Văn học viết và văn học dân gian
4.4.1. Văn học viết
Dấu vết thời gian đã làm cho các trước tác của tác gia Hoằng Lộc thời trung đại không còn lưu giữ nhiều. Song
những gì còn tìm được đủ để chúng ta cảm nhận về một vùng đất văn hiến lâu đời, đó là Thúc ước văn của hai làng Bột
Thượng, Bột Thái, là các văn bia, câu đối v.v Ngoài ra, những trước tác của Nguyễn Quỳnh, Lê Huy Du, Hà Duy
Phiên, Nguyễn Bá Nhạ cũng là minh chứng cho điều đó.
4.4.2. Văn học dân gian
Về những câu chuyện kể dân gian, người dân Hoằng Lộc còn lưu truyền rất nhiều những chuyện kể về lịch sử,
về những tục lệ làng xã. Những câu chuyện phản ánh khát vọng hiểu về quá khứ của làng, cho thấy niềm tự hào của
người dân Hoằng Bột về vùng đất khoa bảng, ví dụ như: Câu chuyện về Nguyễn Nhân Thiệm và chuyến đi sứ sang nhà
Minh năm 1597, Chuyện về Thượng thư Hà Duy Phiên ngày Tết về thăm quê v.v Bên cạnh đó, nơi đây còn lưu giữ