BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI
NGUYỄN THẾ TOÀN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ VẬN HÀNH HỆ THỐNG HỒ
CHỨA THƯỢNG NGUỒN ĐẾN CHẾ ĐỘ CẤP NƯỚC, DIỄN BIẾN SẠT
LỞ LÒNG DẪN VÀ XÂM NHẬP MẶN
TRÊN HỆ THỐNG SÔNG ĐỒNG NAI – SÀI GÒN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
Chuyên ngành: Phát triển nguồn nước
Mã số:604492 LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học:
1.TS Lê Hùng Nam
2.PGS.TS Phạm Thị Hương Lan
Hà Nội, 2013
Mẫu gáy bìa luận văn: NHUYỄN THẾ TOÀN LUẬN VĂN THẠC SĨ HÀ NỘI – 2013 LỜI CẢM ƠN
Luận văn “Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ vận hành hệ thống hồ
chứa thượng nguồn đến chế độ cấp nước, diễn biến sạt lở lòng dẫn và xâm
nhập mặn trên hệ thống sông Đồng Nai - Sài Gòn” được hoàn thành ngoài sự cố
gắng nỗ lực của bản thân tác giả còn được sự giúp đỡ nhiệt tình của các Thầy, Cô,
cơ quan, bạn bè và gia đình.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Giáo viên hướng dẫn: PGS TS.
Phạm Thị Hương Lan và TS. Lê Hùng Nam đã giảng dạy và tận tình hướng dẫn
cũng như cung cấp tài liệu, thông tin khoa học cần thiết cho Luận văn.
I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hệ thống sông Đồng Nai là một trong những hệ thống sông lớn ở Việt Nam,
về tiềm năng thủy điện đứng thứ hai sau sông Đà, về tiềm năng nguồn nước đứng vị
trí độc tôn của khu vực Nam Bộ. Tổng lượng nước trung bình năm đạt đến 35.7 km
P
3
P
(chỉ có 4 km
P
3
P là từ Campuchia chảy vào ).
Các công trình hồ chứa lớn trên lưu vực sông Đồng Nai có vai trò rất đặt biệt
không chỉ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế trong phạm vi lưu vực mà có ảnh
hưởng lớn đối với vùng, quốc gia, đáng kể như hồ thủy điện Đa Nhim (1964), thủy
điện Trị An (1988), Đại Ninh (2000) trên dòng chính sông Đồng Nai; Thác Mơ
(1994), Cần Đơn (2003), Srock Phu Miêng (2005) trên sông Bé; Hàm Thuận, Đa Mi
(2001) trên sông La Ngà; Dầu Tiếng (1985) trên sông Sài Gòn. Hầu hết các hồ đều
có nhiệm vụ chính là phát điện, ngoại trừ công trình hồ Dầu Tiếng, và Phước Hòa.
Các công trình này đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội rất lớn trong quá trình hình
thành và phát triển như cung cấp phần lớn nguồn điện năng cho các tỉnh thành khu
vực miền Đông Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, tăng cường dòng
chảy về mùa khô cho vùng hạ lưu đáp ứng nhu cầu đẩy mặn phục vụ cho việc cấp
nước dân sinh, công nghiệp và nhu cầu tưới. Bên cạnh đó, các công trình này còn
tham gia giảm thiểu ngập lũ cũng như tham gia phòng chống ô nhiễm ở vùng hạ lưu
khá hiệu quả.
Tuy nhiên một vấn đề đặt ra là các công trình hồ chứa được xây dựng và đưa
vào hoạt động gây ra rất nhiều ảnh hưởng đến vùng hạ du, như thay đổi chế độ dòng
chảy do ảnh hưởng chế độ vận hành, thay đổi chế độ bùn cát về hạ du gây ra diễn
biến xói lở lòng dẫn, đặc biệt khi các hồ chứa xả lũ ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề
ngập lụt hạ du và xói lở lòng dẫn cục bộ ở hạ du công trình.
Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng chế độ vận hành đến sạt lở lòng dẫn hạ du.
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Về không gian nghiên cứu: Toàn bộ lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn
2
- Về đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung xây dựng, tính toán mô phỏng
các phương án vận hành hệ thống hồ chứa và đánh giá ảnh hưởng của chế độ vận
hành hệ thống hồ chứa đến hạ du .
IV. CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cách tiếp cận của luận văn là đi từ những vấn đề cụ thể, qua phân tích, tổng
hợp, xác định lựa chọn các nhân tố có tác động chính, quyết định đặc điểm thủy văn
- thủy lực của toàn hệ thống hồ chứa trên lưu vực sông. Từ đó, xác định mức độ ảnh
hưởng, tác động của từng nhân tố. Sau cùng là tiến hành thiết lập bộ thông số mô
hình thủy văn - thủy lực, đề xuất và mô phỏng các kịch bản vận hành hệ thống.
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn đã áp dụng các phương pháp
tiếp cận, nghiên cứu, phân tích đánh giá sau đây:
- Phương pháp điều tra khảo sát thực địa: Điều tra khảo sát thực địa để có
tầm nhìn tổng thể về lưu vực nghiên cứu nhằm đánh giá đặc điểm dòng chảy sông
ngòi, nhu cầu sử dụng nước và kết quả điều tra cũng là cơ sở để hiệu chỉnh các
thông số đặc trưng lưu vực khi dùng các mô hình toán để mô phỏng, tính toán.
- Phương pháp thống kê và xử lý số liệu: Phương pháp này được sử dụng
trong việc xử lý các tài liệu về địa hình , khí tượng, thủy văn, thuỷ lực phục vụ cho
các phân tích, tính toán của luận văn.
- Phương pháp mô hình toán: Mô hình được dùng để tính toán, mô phỏng
chế độ vận hành điều tiết hồ làm cơ sở đánh giá ảnh hưởng chế độ vận hành hệ
thống hồ chứa đến các vấn đề hạ du như cấp nước, xâm nhập mặn, sạt lở lòng dẫn
- Phương pháp phân tích hệ thống: Việc nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng
chế độ vận hành của hệ thống hồ chứa đối với hạ du là một bài toán vừa mang tính
vận hành hợp lý vừa mang tính lợi dụng tổng hợp dựa trên chuỗi số liệu biến đổi
theo không gian và thời gian.
V. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
VÀ NGOÀI NƯỚC
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG
CỦA CHẾ ĐỘ VẬN HÀNH HỆ THỐNG HỒ CHỨA ĐẾN HẠ DU TRONG
VÀ NGOÀI NƯỚC.
1.1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Nghiên cứu chế độ vận hành hệ thống hồ chứa đa mục tiêu và đánh giá ảnh
hưởng chế độ vận hành hồ chứa đến các vấn đề hạ du đã được chú ý nghiên cứu từ
rất lâu
Điều hành hệ thống hồ chứa đa mục tiêu với việc sử dụng nước cho nhiều
mục đích khác nhau đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu trong vài chục năm gần
đây. Một trong những nguyên nhân chính là sự mâu thuẫn cổ điển giữa kiểm soát lũ
và các mục đích bảo toàn như cấp nước, sản xuất điện, tưới, Thông thường vấn đề
nảy sinh trong việc sử dụng chiến lược phân phối để xác định dung tích phòng lũ
dài hạn và xả nước ngắn hạn khi điều hành hệ thống trong mùa lũ, cũng như đảm
bảo cấp nước trong mùa cạn.
Các nghiên cứu về quyết định dài hạn liên quan đến việc phân bổ dung tích có
xét đến sự biến động của dòng chảy năm và các nguy cơ liên quan khác. Khi làm
việc với một hồ chứa đơn, vấn đề này có thể được gi
ải quyết bằng các
phương pháp luận do Beard, Klemes, hay Duren và Beard. Việc phân bổ dung
tích trong hệ thống đa hồ chứa là bài toán phức tạp hơn nhiều vì tương tác giữa các
lưu lượng thượng, hạ lưu cho toàn bộ hệ thống cần phải được xem xét. Marien và
Kelman et all đề xuất phương pháp dựa trên khái niệm "điều kiện kiểm soát
được".
Vận hành hệ thống hệ thống hồ chứa phục vụ đa mục tiêu là một quá trình
phức tạp, bị chi phối bởi nhiều yếu tố ngẫu nhiên, trong khi phải thỏa mãn các yêu
cầu hầu như đối nghịch của các ngành dùng nước nên mặc dù đã được đầu tư
5
nghiên cứu rất bài bản và chi tiết nhưng các ứng dụng thành công chủ yếu gắn liền
với đặc thù từng hệ thống, không có phương pháp luận, công cụ có thể dùng chung
Carlo”. Về cơ bản phương pháp của ông dùng kỹ thuật Monte-Carlo tạo ra một số
chuỗi dòng chảy nhân tạo. Quy trình tối ưu thu được của mỗi chuỗi dòng chảy nhân
tạo sau đó được sử dụng trong phân tích hồi quy để cố gắng xác định nhân tố ảnh
hưởng đến chiến thuật tối ưu. Các kết quả là một xấp xỉ tốt của quy trình tối ưu
thực. Một mô hình quy hoạch để thiết kế hệ thống kiểm soát lũ hồ chứa đa mục tiêu
đã được phát triển bởi Windsor (1975). Karamouz và Houck (1987) đã đề ra quy tắc
vận hành chung khi sử dụng quy hoạch động và hồi quy. Mô hình DPR sử dụng hồi
quy tuyến tính nhiều biến đã được Bhaskar và Whilach (1980) gợi ý. Một phương
pháp khác xác định quy trình điều hành một hệ thống nhiều hồ chứa khác là quy
hoạch động bất định (Stochastic Dynamic Programing – SDP). Phương pháp này
yêu cầu mô tả rõ xác suất của dòng chảy đến và tổn thất. Phương pháp này được
Butcher (1971), Louks và nnk (1981) và nhiều người khác sử dụng. Mô hình tối ưu
hoá thường được sử dụng trong nghiên cứu điều hành hồ chứa sử dụng dòng chảy
dự báo như đầu vào. Datta và Bunget (1984) đề xuất một quy trình điều hành hạn
ngắn cho hồ chứa đa mục tiêu từ một mô hình tối ưu hoá với mục tiêu cực tiểu hoá
tổn thất hạn ngắn. Nghiên cứu chỉ ra rằng khi có một sự đánh đổi giữa một đơn vị
lượng trữ và một đơn vị lượng xả từ các giá trị đích tương ứng thì phép giải tối ưu
hoá phụ thuộc vào dòng chảy tương lai bất định cũng như dạng hàm tổn thất. Áp
dụng mô hình tối ưu hoá cho điều hành hồ chứa đa mục tiêu là khá khó khăn. Sự
khó khăn trong áp dụng bao gồm phát triển mô hình, đào tạo nhân lực, giải bài toán,
điều kiện thủy văn tương lai bất định, sự bất lực để xác định và lượng hóa tất cả các
mục tiêu và mối tương tác giữa nhà phân tích với người sử dụng. Một phương pháp
khác đang được sử dụng hiện nay để giải thích tính ngẫu nhiên của đầu vào là logic
mờ. Lý thuyết tập mờ đã được Zadeth (1965) giới thiệu. Nhiều phần mềm vận hành
tối ưu hệ thống hồ chứa đã được xây dựng, tuy nhiên khả năng giải quyết các bài
toán thực tế vẫn còn hạn chế. Các phần mềm tối ưu hiện nay nói chung vẫn chỉ đƣa
ra lời giải cho những điều kiện đã biết mà không đưa ra được các nguyên tắc vận
hành hữu ích. Phần lớn các phần mềm vận hành hồ chứa được kết nối với mô hình
7
diễn toán lũ dựa trên mô hình Muskingum hay sóng động học như các phần mềm
quá trình lập dự án. Lý do phát huy hiệu quả kém có thể do trong giai đoạn thiết
kế không chú ý đầy đủ đến chế độ quản lý vận hành sau khi dự án hoàn tất, không
lường trước được các yêu cầu, mục tiêu nảy sinh trong quá trình vận hành hệ
thống sau khi hoàn thành. Ví dụ như các yêu cầu về cấp nước sinh hoạt, công
nghiệp, yêu cầu duy trì dòng chảy môi trường sông, duy trì sinh thái vùng hạ lưu.
Mâu thuẫn nảy sinh giữa các mục tiêu sử dụng nước có thể coi là nguyên nhân
chính dẫn
đến kém hiệu quả trong vận hành khai thác hệ thống hồ chứa. Vận hành
hệ thống liên hồ chứa ở Việt Nam nói chung mới bắt đầu được tập trung nghiên
cứu. Một số nghiên cứu liên quan đã được các cơ quan nghiên cứu được tiến hành
chủ yếu tập trung vào nhiệm vụ chống lũ. Một số nghiên cứu vận hành hồ điều tiết
cấp nước mới tập trung vào các mục tiêu cấp nước đơn lẻ. Đặc biệt, các nghiên cứu
chưa mang tính hệ thống liên hồ, và phục vụ đa mục tiêu.
Hiện nay, ở
Việt Nam các hồ chứa trên các hệ thống sông đã và đang được
tiến hành nghiên cứu, xây dựng quy trình liên hồ, phục vụ đa mục tiêu, như hệ
thống hồ chứa trên sông Hồng, sông Ba, sông Sê San, sông Đồng Nai, sông Vu Gia
- Thu Bồn và sông Srêpôk v.v Các hồ chứa này làm nhiệm vụ chính là cắt lũ vào
mùa lũ, sau đó là phát điện, cung cấp nước tưới cho nông nghiệp, nước cho sinh
hoạt, công nghiệp, ngoài ra còn phục vụ giao thông, du lịch, nuôi trồng thuỷ sản
v.v…trong mùa cạn.
Các nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của hệ thống hồ chứa ở Việt Nam trong
những năm gần đây đã được tập trung nghiên cứu và nhiều công trình đã đi sâu
đánh giá ảnh hưởng của hệ thống hồ chứa đối với hạ du như nghiên cứu ảnh hưởng
hệ thống hồ chứa trên sông Đà đến chế độ cấp nước mùa cạn trên sông Hồng…
1.2. TỔNG QUAN VỀ LƯU VỰC SÔNG ĐỒNG NAI – SÀI GÒN
1.2.1. Điều kiện tự nhiên
1.2.1.1. Vị trí địa lý
9
Lưu vực sông Đồng Nai nằm ở phía nam miền Nam Việt Nam, là một dải đất
lưu và vùng hồ chứa), một ít đất đen (ở vùng núi), đát cát ở hai bên bờ. Phổ biến
hơn cả là đất Laterit (ở vùng núi và đồi cao).
Tuyến công trình đầu mối thủy điện Trị An nằm ở hạ nguồn của phần trung
lưu sông Đồng Nai cách cửa sông La Ngà 36 km và cách cửa sông chính 140 km.
Chiều dài đoạn sông Đồng Nai tính từ đầu nguồn đến tuyến đập là 335 km, diện tích
lưu vực là 15400 km2.
Đặc điểm địa hình cùng với các yếu tố khác như đất đai, thảm phủ thực vật
có ảnh hưởng lớn đến quá trình xói mòn, rửa trôi trên mặt đất và từ đó ảnh hưởng
đến chất lượng nước sông cũng như hoạt động lâu bền của các hồ chứa
Đặc điểm địa hình còn có mối quan hệ khăn khít với đặc điểm khí hậu, ảnh
hưởng chi phối đến lưu vực hứng nước và môđun dòng chảy bề mặt. Ngoài ra, độ
dốc bề mặt địa hình còn liên quan đến tiềm năng thuỷ điện của các dòng sông. Do
vậy, việc nghiên cứu các đặc điểm địa hình trên lưu vực sông Sài Gòn - Đồng Nai là
rất cần thiết để cùng với việc nghiên cứu về đặc điểm địa chất - thổ nhưỡng và thảm
11
phủ thực vật trên lưu vực đưa ra các luận cứ khoa học phục vụ cho việc quản lý
thống nhất và tổng hợp nguồn nước ở lưu vực sông Sài Gòn - Đồng Nai.
Sự hình thành dòng chảy bề mặt của hệ thống sông SG - ĐN phụ thuộc khá
nhiều vào điều kiện địa chất và địa hình trên lưu vực nên phần lớn các sông chảy
quanh co, tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng lưu vực mà dòng chính có các hướng
khác nhau. Ngoài ra, điều kiện địa hình cũng hình thành nên các lưu vực sông ven
biển khá độc lập.
Do nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa cao nguyên Nam Trung Bộ và ĐBSCL, lại
tiếp giáp với thềm lục địa biển Đông nên địa hình lưu vực sông SG - ĐN vừa mang
đặc điểm của một cao nguyên, vừa có dáng dấp, sắc thái của một đồng bằng, lại vừa
có nét đặc trưng của một vùng duyên hải. Nhìn tổng thể, lưu vực sông SG - ĐN có
địa hình nghiêng dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam với độ dốc trung bình toàn lưu
vực là 4,6%. Đỉnh chung của khối địa hình này là cao nguyên Lang Biang Nam
Trường Sơn có độ cao khoảng 2.000 m và thấp dần cho tới khi gặp sông Vàm Cỏ có
độ cao từ 1 - 3 m. Càng lên phía Bắc và Đông Bắc, địa hình càng cao, mức độ chia
13
chảy trong khu vực luôn chịu tác động mạnh bởi chế độ thuỷ văn thượng lưu trong
lưu vực cũng như các hoạt động phát triển liên quan như xây dựng hồ chứa, kiểm
soát lũ, lấy tưới…
a. Dòng chính sông Sài Gòn:
Bắt nguồn từ vùng đồi núi cao thuộc Campuchia và huyện Lộc Ninh (Bình
Phước) chảy qua các tỉnh Tây Ninh, Bình Phước, Bình Dương và Tp. Hồ Chí Minh
rồi nhập vào sông Đồng Nai tại Tân Thuận (Q7, Tp. HCM). Sông có chiều dài
khoảng 280km, diện tích lưu vực 5.105km
P
2
P trong đó phần đất Việt Nam là
4.550kmP
2
P. Hiện tại trên sông đã xây dựng công trình thuỷ lợi Dầu Tiếng để tưới cho
diện tích canh tác của lưu vực và lưu vực sông Vàm Cỏ Đông thuộc 2 tỉnh Tây Ninh
và Tp. HCM. Đoạn sông từ sau đập hồ Dầu Tiếng về tới cửa sông có bề rộng biến
đổi từ 150m ÷ 350m, độ sâu từ 10m ÷ 20m, độ dốc lòng sông từ 0,005 ÷ 0,0001.
b. Sông Đồng Nai:
Là sông lớn nhất vùng Đông Nam Bộ có nguồn nước dồi dào vừa làm nhiệm
vụ cung cấp nước tưới, dân sinh, công nghiệp vừa làm nhiệm vụ tiêu thoát nước cho
khu vực. Sông Đồng Nai có tổng chiều dài 628km diện tích lưu vực khoảng
40.683kmP
2
P, đoạn chảy qua vùng hạ lưu từ sau thác Trị An đến cửa sông dài khoảng
150km, bề rộng sông biến đổi từ 600m ÷ 2.000m, sâu từ 15m ÷ 25m, độ dốc nhỏ
hơn 0,0001. Hiện tại chế độ dòng chảy cửa sông có nhiều sự thay đổi do trên dòng
chính đã xây dựng công trình thủy điện Trị An.
c. Sông Vàm Cỏ:
Là một chi lưu được hợp thành từ hai sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây đổ
vực này vùng giáp nước.
(2) Rạch Nhiêu Lộc - Thị Nghè:
Đây là rạch cụt, xuất phát từ khu vực sân bay Tân Sơn Nhất, chảy qua các
quận Tân Bình, Q3,Q1 và quận Bình Thạnh rồi đổ ra sông Sài Gòn tại xưởng đóng
tàu Ba Son, diện tích lưu vực khoảng 3,324ha.
(3) Kênh Thày Cai - An Hạ - Rạch Tra:
Đây là hệ thống kênh rạch nối liền giữa 2 sông Vàm Cỏ Đông và Sài Gòn theo
hướng rạch Trảng bàng và kênh Xáng lớn. Kênh Thày Cai có chiều dài 43,3km (cả
rạch Trảng bàng), kênh An Hạ có chiều dài 17km, và rạch Tra dài 11km.
(4) Rạch Bến Mương - Láng The:
Đây là rạch bắt nguồn từ vùng ranh giới giữa Tây Ninh và Tp. Hồ Chí Minh,
chảy qua trung tâm huyện Củ Chi rồi đổ vào sông Sài Gòn tại xã Phú Hòa Đông,
chiều dài rạch khoảng 20km.
(5) Sông Thị Tính:
Là chi lưu lớn nhất của sông Sài Gòn bắt nguồn từ các nhánh suối phía nam
huyện Bình Long (Bình Phước) và phía tây huyện Dầu Tiếng (Bình Dương) với
diện tích lưu vực khoảng 1.000km
P
2
P. Địa hình sông có hình lòng máng, sông có độ
dốc nhỏ, phía hạ lưu chịu ảnh hưởng của thủy triều.
(6) Rạch Chiếc - Rạch Trau Trảu:
Đây là hệ thống rạch nối liền giữa sông Tắc và sông Sài Gòn với chiều dài
tổng khoảng 11km.
15
Bảng 1. 1: Hệ thống sông, kênh, rạch vùng dự án
TT Tên sông, kênh Dài (m) TT Tên sông, kênh
Dài
(m)
Mạng lưới sông chính (878.030 m)
6
S.Đồng Nai1 (phân lưu)
5200
15
S. Cô Gia
16000
7
S.Đồng Nai2 (phân lưu)
2900
16
R. Tắc Cua
16000
8
S.Đồng Nai3 (phân lưu)
8430
17
S. Dừa
10500
9
S.Đồng Nai4 (phân lưu)
6000
18
S. Đồng Tranh
25000
Mạng lưới kênh rạch vùng phía Nam thành phố (519.400 m)
1
Rạch Chiếc
12000
34
R. Thày Cai
7500
7
R. Giồng Ông Tố
5600
40
Kênh B
7500
8
R. Thủ Đức
3500
41
K.Bến Mương-Láng The
24500
9
R. Gò Dưa
6000
42
R. Ông Lớn
13000
10
R. Chú Cúa
1250
43
R. Cần Giuộc
11000
11
R. Ông huyện
2000
44
R. Xóm Củi
13000
17
R. Vàm Thầy
1900
50
R. Đước
2600
18
R. Dứa
8600
51
R. Móc Keo
7400
16
TT Tên sông, kênh Dài (m) TT Tên sông, kênh
Dài
(m)
19
R. Nhum
2100
52
R. Móc Kéo Lớn
3200
20
R. Bà Hồng
3650
53
Rạch Đước
2700
21
4000
27
R. Đất Sét
2500
60
R. Cá Nhám Bé
3200
28
R. Tư Trang 2
2100
61
R. Cá Nháp Lớn
4600
29
R. Tư Trang
2200
62
R. Nhiêu Lộc - Thị Nghè
9300
30
R. Cầu Kinh - R. Gia
2300
63
R. Tân Hóa - Lò Gốm
7800
31
R. Cầu Đò
1800
64
R. Tầu Hũ - Bến Nghé
1.2.1.4 . Mạng lưới trạm khí tượng thủy văn
HLĐNSG có khá nhiều trạm mực nước. Tuy nhiên, chất lượng và số năm quan
trắc không đều. Trạm Vũng Tàu được xem là trạm mực nước ven biển duy nhất
phần hạ lưu, do ít chịu ảnh hưởng của các biến động dòng chảy từ đất liền nên được
17
xem là trạm biên cho yếu tố thuần triều. Các trạm Phú An trên sông Sài Gòn, Nhà
Bè, Biên Hòa trên sông Đồng Nai, Gò Dầu Hạ, Bến Lức trên sông Vàm Cỏ Đông,
được xem là các trạm đo dài năm trên sông chính. Ngoài ra, trên các sông này cũng
còn một vài trạm khác ngắn tài liệu hơn và một số trạm được bố trí trên các kênh
rạch nội đồng.
Bảng 1. 3: Danh sách trạm mực nước hạ lưu sông Đồng Nai Sài Gòn
TT
Trạm Sông / Kênh Thời kỳ quan trắc
1
Phú An
Sài Gòn
1942-1943; 1949- đến nay
2
Lái Thiêu
Sài Gòn
1984- đến nay
3
Bình Dương
Sài Gòn
1966- đến nay
4
Dầu Tiếng
Sài Gòn
1977-1979
Vàm Cỏ Đông
1982-1985
13
Bến Lức
Vàm Cỏ Đông
1961-1966;1974-1975;1976.1981-đến nay
14
Tân An
Vàm Cỏ Tây
1940-1975;1976- đến nay
15
Cầu Nổi
Vàm Cỏ
1982-1985;1994 - đến nay
16
Cần Giuộc
Rạch Chanh
1982-1983
17
Vũng Tàu
Ven biển
1955-1965;1972-1975;1982 đến nay
18
Lê Minh Xuân
An Hạ
1982-1985
19
Cầu Bông
Xáng
1982-1985
P, tương đương lớp dòng chảy 805 mm, trên tổng lớp nước mưa trung bình
1.950 mm, đạt hệ số dòng chảy 0,40, thuộc loại có dòng chảy trung bình của nước
ta
.
Nguồn: Viên KHTL Miền Nam
Hình 1. 3: Mô đun dòng chảy trung bình nhiều năm LVSĐN
19