BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NÔNG THỊ TƢƠI SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƢ DUY TRONG DẠY HỌC
LUYỆN TỪ VÀ CÂU CHO HỌC SINH LỚP 5 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Sơn La, năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
trường Tiểu học Thị trấn Thuận Châu – huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La đã tạo
điều kiện cho em hoàn thành khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2014
Ngƣời thực hiện Nông Thị Tƣơi
DANH MỤC VIẾT TẮT
BĐTD : Bản đồ tư duy
LTVC : Luyện từ và câu
BCHTW : Ban chấp hành Trung ương
NXBGD : Nhà xuất bản giáo dục
MRVT : Mở rộng vốn từ
SGK : Sách giáo khoa
GV : Giáo viên
HS : Học sinh
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
4.3 Phương pháp khảo sát thực tế 6
4.4 Phương pháp thực nghiệm 7
5. Giới hạn của đề tài 7
6. Giả thuyết khoa học 7
7. Đóng góp mới của đề tài 7
8. Cấu trúc khóa luận 8
PHẦN NỘI DUNG 9
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC
SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƢ DUY TRONG DẠY HỌC LUYỆN TỪ VÀ CÂU
LỚP 5 9
1. Cơ sở lí luận 9
1.1 Một số vấn đề liên quan đến bản đồ tư duy 9
1.2 Sự cần thiết của bản đồ tư duy đối với việc dạy học luyện từ và câu ở tiểu
học 11
2. Cơ sở thực tiễn 15
2.1 Nội dung, chương trình phân môn luyện từ và câu lớp 5 15
2.2 Đặc điểm nhận thức của HS lớp 5 với việc sử dụng BĐTD 17
2.2.1 Đặc điểm của quá trình nhận thức 17
2.2.2 Hứng thú học tập của HS khi sử dụng BĐTD 21
2.3 Tình hình sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học luyện từ và câu lớp 5 22
2.3.1 Mục đích nghiên cứu 23
2.3.2 Nội dung nghiên cứu 23
2.3.3 Địa bàn nghiên cứu, đối tượng khảo sát 23
2.3.4 Tiêu chuẩn và thang đánh giá 23
2.3.5 Kết quả nghiên cứu 23
Tiểu kết chương 1 24
CHƢƠNG 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƢ DUY TRONG DẠY
HỌC LUYỆN TỪ VÀ CÂU Ở LỚP 5 25
1. Các hình thức thiết kế bản đồ tư duy 25
1.1 Thiết kế bản đồ tư duy bằng tay 25
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay đất nước ta đang trong thời kì công nghiệp hóa - hiện đại hóa,
từng bước đổi mới từ một nước nông nghiệp lạc hậu sang một nước công nghiệp
tiên tiến, hiện đại. Hòa chung trong không khí đổi mới đó, ngành giáo dục cũng
đã và đang có sự đổi mới đáng kể về cả nội dung và phương pháp dạy học.
Hội nghị lần thứ 4 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã chỉ
rõ: "Đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các bậc học, kết hợp tốt học và
hành, học tập với lao động sản xuất, thực nghiệm và nghiên cứu khoa học, gắn
nhà trường với xã hội. Áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi
có hệ thống, dễ nhớ, hình thành cho học sinh tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề
một cách khoa học, sâu sắc. Các em không chỉ học tốt các kiến thức trong sách
vở mà còn nắm bắt được các kiến thức từ thực tế cuộc sống. Vì vậy nếu giáo
viên giúp các em biết sử dụng BĐTD cũng có nghĩa là giúp các em có phương
pháp học tập tốt nhằm nâng cao hiệu quả học tập.
Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài "SỬ DỤNG
BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC LUYỆN TỪ VÀ CÂU CHO HỌC
SINH LỚP 5".
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Việc nghiên cứu và ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy học trên thế giới
Bản đồ tư duy được mệnh danh là "Công cụ vạn năng cho bộ não" là
phương pháp ghi chú để sáng tạo.
Phương pháp này được phát triển vào cuối thập niên 60 của thế kỉ XX,
bởi Tony Buzan (ông sinh năm 1942 tại London). BĐTD được chính thức giới
thiệu với thế giới lần đầu tiên vào mùa xuân năm 1947 với ấn bản của cuốn đi
trước được mang tên sử dụng trí tuệ của bạn (Use Your Head). Ông đã xuất
bản bộ sách dành cho trẻ em từ 7- 14 tuổi gồm có các cuốn: Bí quyết học giỏi ở
trường, các kĩ năng học giỏi, rèn luyện trí nhớ và khả năng tập trung. Trong các
cuốn sách này Tony Buzan đã chỉ ra chìa khóa để có thể nhớ tốt là: " Trí tưởng
tượng và sự liên tưởng". Giới thiệu, hướng dẫn các em sử dụng BĐTD để học
sao cho có hiệu quả. Bên cạnh BĐTD Tony Bzan còn giới thiệu cho các em bốn
3
công cụ làm chủ trí nhớ, đó là: Cuốn phim kí ức, lâu đài hồi tưởng, và hai kĩ
thuật ghi nhớ số: Dựa vào hình dạng để ghi nhớ con số và dùng từ đồng âm.
BĐTD là một công cụ tư duy nền tảng. Nó là một kĩ thuật hình họa với sự kết
hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc, hoạt động
và chức năng của bộ não giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của bộ não.
Theo Tony Buzan thì " Một hình ảnh có giá trị hơn cả ngàn từ", và " Màu sắc
cũng có tác dụng kích thích não như hình ảnh. Màu sắc mang đến cho BĐTD
2.2 Việc nghiên cứu và sử dụng bản đồ tư duy vào dạy học ở Việt Nam
BĐTD đã được ứng dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới cách đây 20-30
năm. Thế nhưng ở việt nam chỉ mới biết đến BĐTD trong những năm gần đây.
Việc sử dụng BĐTD trong cuộc sống và học tập ở Việt Nam còn rất hạn chế,
chưa được ứng dụng rộng rãi. Đặc biệt việc vận dụng BĐTD vào trong dạy học
ở tiểu học nói chung và dạy học Tiếng việt nói riêng còn quá ít.
Trong khi cả xã hội đang bức xúc với việc “ đọc – chép”, thói quen “ học
vẹt” của học sinh thì việc sử dụng BĐTD kết hợp với các phương pháp dạy học
tích cực đã đem lại nhiều hiệu quả và lợi ích thiết thực.
Năm 2010, dự án Việt – Bỉ với chuyên đề “ Nâng cao chất lượng đào tạo
và bồi dưỡng giáo viên tiểu học” cũng đã giới thiệu tài liệu Dạy và học tích cực
– Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học. Tài liệu này đã giới thiệu một số
phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực như: phương pháp học tập theo góc,
mảnh ghép, kĩ thuật khăn phủ bàn, đặc biệt là BĐTD.
Trong nhưng năm gần đây TS Trần Đình Châu cùng các cán bộ nghiên
cứu thuộc viện nghiên cứu giáo dục Việt Nam, dự án phát triển giáo dục kết hợp
với vụ giáo dục Trung học và cục nhà giáo của bộ giáo dục và đào tạo các tỉnh
đã đến các vùng miền trên khắp đất nước để nghiên cứu và nhân rộng phương
pháp mới này.
TS Trần Đình Châu và TS Đặng Thị Thu Thủy đã có nhiều bài báo cáo
khoa học và xuất bản nhiều cuốn sách có liên quan đến BĐTD như: dạy tốt - học
tốt các môn học bằng bản đồ tư duy, thiết kế BĐTD dạy – học môn Toán và
cuốn dạy tốt – học tốt ở tiểu học bằng BĐTD. Ngay khi vừa được phát hành các
cuốn sách này đã thu hút mạnh mẽ sự quan tâm của các nhà quản lí giáo dục, đội
ngũ giáo viên, phụ huynh và các em học sinh.
5
Năm 2010 ứng dụng BĐTD trong dạy và học đã được triển khai thí điểm tại
355 trường trên toàn quốc và được nhiều giáo viên và học sinh hồ hởi tiếp nhận.
Kết quả ban đầu cho thấy: Việc vận dụng BĐTD trong dạy học khắc phục
Giúp cho giáo viên có thêm một phương pháp dạy học mới góp phần cải
tiến chất lượng bài dạy và nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện.
3.2 Nhiệm vụ
Xây dựng cơ sở lí luận và thực tiễn cho đề tài.
Quy trình sử dụng BĐTD và tổ chức cho học sinh sử dụng BĐTD trong
dạy học luyện từ và câu.
Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra kết quả nghiên cứu của đề tài.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để hoàn thành khóa luận này chúng tôi đã phối hợp sử dụng các phương
pháp sau:
4.1 Phương pháp phân tích lí thuyết
- Chúng tôi sử dụng phương pháp này để xem xét, tìm hiểu những vấn đề
có lí thuyết liên quan đến đề tài.
- Một số vấn đề cơ bản của lí thuyết BĐTD
- Vận dụng lí thuyết BĐTD vào dạy học LTVC ở lớp 5
- Những lí thuyết mà chúng tôi nghiên cứu thông qua sách báo, tạp chí,
văn kiện, nghị quyết của đảng và một số luận văn sau đại học
Chúng tôi vận dụng điều đó để xây dựng BĐTD của một số bài LTVC lớp 5
4.2 Phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu
Những phương pháp này chủ yếu dùng vào việc điều tra, khảo sát và xử lí
các kết quả thu nhận được trong quá trình thực nghiệm. Đây là những phương
pháp giúp chúng tôi có điều kiện nhìn nhận được những vấn đề được nghiên cứu
trong khóa luận, có sự so sánh và đối chiếu lẫn nhau (cụ thể là lớp thực nghiệm
và lớp đối chứng). Từ đó có thể rút ra những kết luận hợp lí, vừa có cơ sở lí
luận, vừa có cơ sở thực tiễn. Tuy những con số đưa ra trong khóa luận chưa đạt
đến độ chính xác tuyệt đối nhưng với những số liệu ấy, người đọc sẽ có phần tin
cậy hơn về tính khả thi của vấn đề đưa ra trong khóa luận.
4.3 Phương pháp khảo sát thực tế
Sau khi nghiên cứu những vấn đề lí thuyết , chúng tôi tiến hành khảo sát
thực tế. chúng tôi dùng phương pháp này để khảo sát về thực trạng sử dụng
Đề xuất các bước ứng dụng bản đồ tư duy vào trong dạy học LTVC ở lớp 5.
8
8. Cấu trúc khóa luận
Khóa luận của chúng tôi gồm 3 phần với những nội dung sau đây:
Phần mở đầu: Phần này trình bày những vấn đề chung bao gồm:
- Lí do chọn đề tài
- Lịch sử nghiên cứu vấn đề
- Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp nghiên cứu
- Giới hạn nghiên cứu của đề tài
- Giả thuyết khoa học
- Đóng góp mới của đề tài
Phần nội dung: Gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài.
Ở chương này, chúng tôi tập chung đi sâu vào tìm hiểu lí thuyết về
BĐTD, cách tạo lập sử dụng BĐTD, những đổi mới về phương pháp dạy học và
đặc điểm nhận thức của học sinh. Ngoài ra chúng tôi còn khảo sát tình hình sử
dụng BĐTD trong dạy học LTVC ở lớp 5 hiện nay.
Chương 2: Thiết kế và sử dụng BĐTD trong dạy học LTVC ở lớp 5.
Đây là chương thể hiện cụ thể rõ nhất sự đóng góp của khóa luận vào việc
đổi mới phương pháp dạy học. Trong chương này chúng tôi đi vào tìm hiểu việc
thiết kế và sử dụng BĐTD trong việc dạy học LTVC ở lớp 5.
Chương 3: Thực nghiệm
Ở chương này chúng tôi tập chung mô tả quá trình tiến hành thực nghiệm
từ đối tượng, nội dung, phương pháp Cho đến kết quả và việc xử lí kết quả
thực nghiệm để có được những kết luận cần thiết về nội dung nghiện cứu và qua
đó bước đầu đánh giá được tính khả thi của những vấn đề nêu trong khóa luận.
hợp, phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân nhánh. Khác với
máy tính, ngoài khả năng ghi nhớ kiểu tuyến tính (ghi nhớ theo một trình tự nhất
định chẳng hạn như trình tự xuất hiện của một câu chuyện) thì não bộ có khả
10
năng liên lạc, liên hệ các dữ kiện với nhau. Phương pháp này khai thác cả hai
khả năng của bộ não.
BĐTD là một công cụ tư duy nền tảng, BĐTD được hiểu như là một hình
thức ghi chép theo mạch tư duy của mỗi người bằng việc kết hợp nét vẽ, màu
sắc và chữ viết. Đặc biệt đây là một sơ đồ tư duy mở, việc thiết kế BĐTD theo
mạch tư duy của mỗi người (theo báo GD & ĐT).
Đây là một hình thức ghi chép sử dụng nhiều màu sắc, hình ảnh để lập kế
hoạch hay giải quyết một vấn đề nào đấy. Với BĐTD thì chúng ta có thể có một
cái nhìn tổng thể và đầy đủ về các kế hoạch, dự án, đồng thời phát huy tối đa sức
mạnh trí tuệ để giải quyết vấn đề một cách sáng tạo.
Có một quan niệm đơn giản hóa BĐTD bằng công thức sau:
Ghi nhớ tốt + Từ khóa + Não trái, phải = BĐTD Bản đồ tƣ duy của bộ não
Tuy có rất nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng tất cả các quan niệm này
đều hướng tới một kết luận chung BĐTD là công cụ tổ chức tư duy, giúp con
người làm việc khoa học, sáng tạo.
Như vậy BĐTD là kĩ thuật dạy học nhằm tổ chức và phát triển tư duy,
giúp người học truyền tải thông tin vào bộ não một cách dễ dàng, đồng thời là
phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và hiệu quả:
11
+ Ghi chép một cách logic, mạch lạc
không hoặc ít dùng) thành những từ ngữ tích cực (từ ngữ được chủ thể sử dụng
trong nói - viết) phát triển kỹ năng, kỹ xảo, phát triển từ ngữ cho HS.
Trong 3 nhiệm vụ cơ bản nói trên, nhiệm vụ phong phú hoá vốn từ, phát
triển, MRVT được coi là trọng tâm. Bởi vì, đối với HS tiểu học, từ ngữ được
cung cấp trong phân môn LTVC sẽ giúp các em hiểu được các phát ngôn khi
nghe - đọc.
Ngoài ra, ở một chừng mực nào đó, phân môn LTVC ở Tiểu học còn có
nhiệm vụ cung cấp cho HS một số khái niệm có tính chất sơ giản ban đầu về cấu
tạo từ và nghĩa của từ Tiếng Việt (như các khái niệm từ đồng nghĩa, từ trái
nghĩa, từ đồng âm, nghĩa của từ, ). Những kiến thức có tính chất lý thuyết về
từ này có tác dụng làm cơ sở, làm chỗ dựa cho việc thực hành luyện tập về từ
ngữ của HS.
Với việc lập BĐTD, HS không chỉ là tiếp nhận thông tin mà còn cần phải
suy nghĩ về các thông tin đó, giải thích nó và kết nối nó với cách hiểu biết của
mình. Và điều quan trọng hơn là HS học được một quá trình tổ chức thông tin,
tổ chức các ý tưởng.
Sử dụng BĐTD đối với việc dạy học LTVC ở Tiểu học sẽ mang lại hiệu
quả cao, phát huy tính tích cực của HS. BĐTD phù hợp với tâm lý HS, đơn giản,
dễ hiểu thay cho việc ghi nhớ lý thuyết bằng ghi nhớ dưới dạng bản đồ hóa kiến
thức. Nhờ BĐTD, HS sẽ hiểu sâu bản chất của vấn đề và phát triển tư duy logic,
khả năng phân tích tổng hợp, giúp HS hiểu bài, nhớ lâu, thay cho việc ghi nhớ
dưới dạng thuộc lòng, học vẹt.
Một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ
lâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của
mình vì vậy việc sử dụng BĐTD giúp HS học tập một cách tích cực, huy động
tối đa tiềm năng của bộ não. Việc HS tự vẽ BĐTD có ưu điểm là phát huy tối đa
tính sáng tạo của HS, phát triển năng khiếu hội họa, sở thích của HS, các em tự
do chọn lựa những màu sắc yêu thích (xanh, đỏ, tím, vàng, …), những đường
nét (thẳng, cong, đậm, nhạt, …). Mỗi tác phẩm BĐTD mà HS vẽ được thể hiện
vấn đề, một chủ đề đã đọc, đã học theo cách hiểu của các em dưới dạng BĐTD.
14
- Cho HS tập “đọc hiểu” và tự vẽ BĐTD sau từng bài học. Ban đầu, GV cho
các em làm quen với một số BĐTD có sẵn, sau đó tập cho các em vẽ bằng cách cho
từ khóa (key words) – tên chủ đề hoặc một hình ảnh, hình vẽ của chủ đề chính vào
vị trí trung tâm rồi đặt ra các câu hỏi gợi ý để các em tiếp tục vẽ ra các nhánh cấp 1,
cấp 2, cấp 3… Hướng dẫn, gợi ý để các em tự hệ thống kiến thức trọng tâm, kiến
thức cần nhớ của mỗi bài học vào một trang giấy. Có thể vẽ chung trên một cuốn
vở hoặc để thành các trang giấy rời, rồi kẹp thành một tập. Mỗi bài học được vẽ
giúp các em dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần, chỉ cần rút tờ BĐTD của bài đó ra
là các em nhanh chóng ôn lại kiến thức một cách dễ dàng.
- Với cách làm này, GV sẽ rèn luyện cho bộ óc các em hướng dần tới cách
suy nghĩ lôgic, mạch lạc và cũng là cách giúp các em hiểu bài, ghi nhớ kiến
thức vào não chứ không phải là học thuộc lòng, học vẹt.
- Đối với HS khá giỏi: Sử dụng BĐTD để tìm hiểu cách giải quyết một vấn
đề, hay tìm nhiều hướng giải của một bài toán, hệ thống hóa kiến thức … Việc
vẽ ra BĐTD theo nhóm nên thực hiện trước khi nghiên cứu tài liệu mới, kiến
thức mới để cả nhóm tìm cách giải quyết vấn đề hoặc cũng có thể thực hiện để
hệ thống hóa kiến thức một chủ đề, một chương. Sau khi mỗi nhóm “vẽ” xong,
đại diện mỗi nhóm hoặc một số thành viên trong mỗi nhóm “thuyết trình”
BĐTD cho cả lớp nghe để thảo luận, góp ý, bổ sung (nếu cần thiết).
Ngoài việc vẽ BĐTD trong học tập, nên tập cho các em có thói quen sử
dụng BĐTD tự ghi tóm nội dung chính của sách dưới dạng BĐTD khi các em
đọc sách. Hoặc gợi ý cho các em lập kế hoạch học tập, vạch kế hoạch cho bản
thân để biến ước mơ thành hiện thực trong tương lai, các kế hoạch này có thể bổ
sung dần dần theo năm tháng bằng cách vẽ thêm nhánh khi mỗi người có sự điều
chỉnh kế hoạch. Khuyến khích HS ôn luyện bài, học bài ở nhà, ở lớp hoạt động
nhóm bằng BĐTD.
32
10
8
4
8
30
22
11
5
8
4
12
62
Yêu cầu kiến thức, kỹ năng của phân môn LTVC lớp 5
Yêu cầu kiến thức
a. Mở rộng và hệ thống hoá vốn từ:
Từ ngữ được mở rộng và hệ thống hoá trong phân môn LTVC ở lớp 5 bao
gồm các từ thuần Việt, Hán Việt, các thành ngữ và tục ngữ phù hợp với chủ
điểm học tập của từng đơn vị học.
b. Trang bị các kiến thức sơ giản về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và văn
bản; Rèn luyện kĩ năng dùng từ đặt câu, liên kết câu và sử dụng dấu câu
* Ngữ âm
+ Các bộ phận của vần.
chấm phẩy, dấu ngoặc kép, dấu gạch ngang.
- Phong cách ngôn ngữ và biện pháp tu từ:
+ Nhận biết và bước đầu cảm nhận được cái hay của những câu văn có sử
dụng biện pháp so sánh, nhân hóa trong các bài học.
+ Biết dùng các biện pháp nhân hóa và so sánh để nói và viết được câu
văn hay. 17
2.2 Đặc điểm nhận thức của HS lớp 5 với việc sử dụng BĐTD
2.2.1 Đặc điểm của quá trình nhận thức
Vấn đề đặc điểm lứa tuổi trẻ em ngày nay đang được các nhà khoa học
quan tâm nghiên cứu và đặc biệt chú trọng đến sự phát triển. Sự phát triển là
thuật ngữ để chỉ sự phát triển nhanh về sinh lý, về tâm lý của trẻ em.
Sự phát triển sớm về trí tuệ, sự phát triển về tri thức ở trẻ em ngày nay có
thể xem như là sự phát triển tâm lý của trẻ em. Mặt khác, sự nhận thức của trẻ
em ngày nay cũng được mở rộng, năng khiếu, nhu cầu, hứng thú, thị hiếu thẩm
mĩ, trở nên phong phú và đa dạng hơn. Trẻ em ngày nay còn được tiếp nhận
những lượng thông tin nhờ sự tăng dần đáng kể của các phương tiện thông tin
đại chúng,
Với những đặc điểm này, việc giáo dục trẻ em cũng dễ hơn và cũng khó
hơn trước. Dễ hơn là vì trẻ tiếp thu nhanh, có khả năng và điều kiện để vận dụng
những điều đã học. Khó hơn là vì tầm suy nghĩ của chúng rộng hơn, những vấn
đề chúng đặt ra phong phú và phức tạp hơn.
HS lớp 5 là những trẻ ở độ tuổi 9 đến 10 tuổi. Theo nghiên cứu của các nhà
tâm lý học, ở lứa tuổi này các em có những thay đổi rõ rệt về nhận thức. Nhìn
chung thì nhận thức của các em ở giai đoạn này vẫn là nhận thức cảm tính. Tư
duy của các em vẫn mang tính cụ thể, hình tượng. Việc dạy kiến thức cho HS
lớp 5 vẫn cần thiết sử dụng đồ dùng trực quan như tranh ảnh, vật thật, phim,
để các em có thể nhanh chóng nắm bắt được kiến thức cần thiết. Nhưng để hình
- Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 5 bắt đầu biết
khái quát hóa lý luận. Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ
đẳng ở phần đông HS tiểu học.
* Tƣởng tƣợng
- Tưởng tượng của HS tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm
non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dạn. Tuy nhiên,
tưởng tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau:
Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững
và dễ thay đổi.
Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những
hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới. Tưởng tượng sáng tạo tương