-1-
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC BẢNG BIỂU 3
DANH MỤC HÌNH VẼ 5
MỞ ĐẦU 6
1. CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ BÊ TÔNG ĐẦM LĂN 11
1.1. Khái niệm về bê tông đầm lăn (BTĐL). 11
1.2. Sự phát triển của bê tông đầm lăn trên thế giới và tại Việt Nam. 13
1.2.1. Tình hình ứng dụng BTĐL trên thế giới. 13
1.2.2. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng bê tông đầm lăn ở Việt Nam. 17
1.3. Phụ gia khoáng hoạt tính dùng cho bê tông đầm lăn 21
1.3.1. Khái niệm về phụ gia khoáng 21
1.3.2. Phân loại phụ gia khoáng 21
1.3.3. Thành phần hóa học và tính chất cơ lý của PGK hoạt tính 23
1.3.4. Tình hình nghiên cứu sử dụng PGK ở Việt Nam 24
2. CHƯƠNG 2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 30
2.1. Vật liệu chế tạo bê tông đầm lăn 30
2.1.1. Xi măng 30
2.1.2. Phụ gia khoáng hoạt tính 31
2.1.3. Cốt liệu mịn (Cát) 35
2.1.4. Cốt liệu thô (Đá) 36
2.1.5. Phụ gia hóa 41
2.1.6. Nước 41
2.1.7. Nhận xét chung 41
2.2. Phương pháp chế tạo mẫu và thí nghiệm các chỉ tiêu cơ lý của BTĐL
41
2.2.1. Phương pháp chế tạo mẫu 41
2.2.2. Quy trình thí nghiệm các chỉ tiêu cơ lý của BTĐL 44
Bảng 1.2: Một số công trình đập BTĐL của Việt Nam 20
Bảng 1.3: Các yêu cầu về thành phần hóa học của PGK hoạt tính 23
Bảng 1.4: Các yêu cầu về chỉ tiêu cơ lý của PGK hoạt tính 23
Bảng 1.5: Thành phần hóa học yêu cầu của phụ gia khoáng 24
Bảng 1.6: Sự phân bố, trữ lượng và chất lượng một số mỏ Puzơlan ở Việt
Nam 27
Bảng 2.1: Kết quả thí nghiệm xi măng 31
Bảng 2.2: Kết quả thí nghiệm Puzơlan Gia Quy 32
Bảng 2.3: Kết quả thí nghiệm Tro bay Phả Lại 34
Bảng 2.4: Các chỉ tiêu cơ lý của cát 35
Bảng 2.5: Thành phần hạt của cát 35
Bảng 2.6: Các chỉ tiêu tính chất cơ lý của đá dăm 5-20mm 37
Bảng 2.7: Các chỉ tiêu tính chất cơ lý của đá dăm 20-40mm 37
Bảng 2.8: Các chỉ tiêu tính chất cơ lý của đá dăm 40-60mm 38
Bảng 2.9: Thành phần hạt đá dăm 5-20mm, 20-40mm, 40-60mm 38
Bảng 2.10: Khối lượng thể tích hỗn hợp đá dăm 5-40mm ứng với các tỷ lệ
phối hợp hai loại đá 5-20mm và 20-40mm 39
Bảng 2.11: Khối lượng thể tích hỗn hợp đá dăm 5-60mm ứng với các tỷ lệ
phối hợp ba loại đá 5-20mm , 20-40mm và 40-60mm 39
Bảng 2.12: Thành phần đá dăm 5-40mm 40
Bảng 2.13: Thành phần đâ dăm 5-60mm 40
Bảng 2.14. Chỉ tiêu cần xác định và hình dáng, kích thước viên mẫu 42
-4-
Bảng 2.15: Thành phần cấp phối sử dụng tro bay 52
Bảng 2.16: Thành phần cấp phối sử dụng Puzơlan 52
Bảng 3.1: Kết quả thí nghiệm BTĐL đập Tân Mỹ dùng Puzơlan 55
Bảng 3.2: Kết quả thí nghiệm BTĐL đập Nước Trong dùng Puzơlan 55
Bảng 3.3: Kết quả thí nghiệm BTĐL đập Thủy điện Bản Vẽ dùng Puzơlan56
Bảng 3.4: Kết quả thí nghiệm BTĐL đập Tân Mỹ dùng tro bay 56
MỞ ĐẦU
Trên thế giới trong số các vật liệu xây dựng do con người làm ra, bê
tông là một vật liệu, một sản phẩm được sử dụng rộng rãi và hiệu quả nhất.
Các công trình xây dựng làm bằng bê tông và bê tông cốt thép có mặt ở khắp
nơi trong các lĩnh vực xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp, giao
thông, thủy lợi và thủy điện…
Bê tông nói chung và bê tông đầm lăn nói riêng là loại vật liệu đá nhân
tạo có cường độ nén cao, bền theo thời gian, sử dụng vật liệu sẵn có tại địa
phương để chế tạo, nên vật liệu bê tông có lợi ích về kinh tế rất lớn. Từ khi
được phát minh cho tới nay người ta không ngừng nghiên cứu phát triển các
loại bê tông nhằm ứng dụng trong thi công các công trình có đặc điểm khác
nhau. Nhiều công trình thủy lợi được làm bằng bê tông cốt thép như đập tràn,
cống lấy nước và tiêu nước, trạm bơm, âu thuyền, xi phông, cầu máng, kênh
mương… Cũng theo hướng phát triển đó, công nghệ bê tông đầm lăn (BTĐL)
ra đời sử dụng thi công các công trình có mặt bằng rộng lớn, đòi hỏi tiến độ
thi công nhanh như các công trình thủy điện, thủy lợi, các công trình đê chắn
sóng, mặt đường, bãi đỗ xe…
Đặc biệt với công trình bê tông khối lớn như đập bê tông trọng lực thì
tốc độ thi công BTĐL rất nhanh so với công nghệ thi công bê tông thường.
Khối lượng thi công càng lớn hiệu quả áp dụng công nghệ BTĐL càng cao.
Việc thi công BTĐL cho phép nâng cao hiệu suất thi công, kết hợp các thiết
bị cơ giới cùng hoạt động: Có thể dùng băng tải để vận chuyển bê tông, dùng
máy ủi để san gạt, máy lu rung để đầm lèn. Giảm đáng kể sử dụng ván khuôn,
rải lớp mỏng đổ liên tục nên lượng nhiệt tích lũy nhỏ.
-7-
Xuất phát từ những ưu việt trên sử dụng công nghệ thi công BTĐL đem
lại hiệu quả kinh tế cao so với bê tông truyền thống khi thi công các công
trình đập bê tông trọng lực bởi lý do sau:
+ Thi công BTĐL sẽ giảm giá thành công trình từ 25-40% so với thi
đến một số công trình thủy lợi, thủy điện, đã khởi công như thủy điện
Pleikrông (tỉnh Kontum), thủy điện Sơn La (tỉnh Sơn La), thủy điện A Vương
(tỉnh Quảng Nam), thủy điện Sông Kon 2 (Quảng Nam), thủy điện Se San 4
(Gia Lai), hồ chứa nước Định Bình tỉnh Bình Định …
Đối với các đập bê tông đầm lăn, các loại vật liệu dùng để chế tạo rất
phong phú và đa dạng, trong đó có phụ gia khoáng hoạt tính tro bay hoặc
puzơlan thiên nhiên. Với phụ gia khoáng tro bay đã được sử dụng phổ biến,
sản lượng nhiều, giá thành rẻ và đã áp dụng cho một số công trình như đập
Định Bình, Thủy điện Sơn La, Thủy điện Bản Vẽ …. Tuy nhiên, tại một số
nơi xây dựng công trình như thủy điện Pleikrong, thủy điện Se San 4 lại sử
dụng puzơlan thiên nhiên, việc thay thế tro bay bằng puzơlan thiên nhiên liệu
có mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn và đảm bảo chất lượng công trình hay
không, vấn đề này chúng ta cần có những đánh giá thực tế trên công trình
thực tế.
Đề tài nghiên cứu so sánh một số tính chất cơ lý của bê tông đầm lăn
(RCC) được sản xuất bởi phụ gia khoáng hoạt tính tro bay nhiệt điện và
puzơlan thiên nhiên. Từ đó đề xuất lựa chọn loại phụ gia khoáng phù hợp cho
các công trình đập RCC ở Việt Nam. -9-
2. Mục đích của đề tài
- Nghiên cứu một số tính chất cơ lý của RCC khi sử dụng phụ gia khoáng
là tro bay nhiệt điện và puzơlan thiên nhiên
- Kiến nghị lựa chọn loại phụ gia khoáng phù hợp, đảm bảo yêu cầu kinh
tế và kỹ thuật cho các đập RCC ở Việt Nam.
3. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Bê tông đầm lăn nói chung và bê tông đầm lăn dùng cho công trình
thủy điện, thủy lợi nói riêng, là loại bê tông đặc biệt chứa một lượng nước rất
nhỏ và có lượng chất kết dính thấp. Ví dụ tại đập Upper Stillwater (1988),
Bê tông đầm lăn là một loại bê tông nặng. Trong đó hỗn hợp bê tông
không có độ sụt, được đầm bởi đầm rung, lăn cho các lớp bê tông mỏng hầu
như không vượt quá 300 đến 600mm. Công nghệ thi công BTĐL đặc biệt
hiệu quả khi áp dụng đối với các công trình lớn, mặt bằng thi công rộng như
đường, đê, đập thủy điện, thủy lợi, khối lượng bê tông được thi công càng lớn
thì hiệu quả áp dụng công nghệ BTĐL càng cao.
BTĐL là loại bê tông nghèo xi măng sử dụng các nguyên vật liệu tương
tự như bê tông thường. Khác với bê tông thường được đầm chặt bởi thiết bị
rung đưa vào trong lòng khối đổ, BTĐL được làm chặt bằng thiết bị rung lèn
từ mặt ngoài (lu rung). Công nghệ này có thể được xem là sự phát triển quan
trọng nhất trong công nghệ đập bê tông trong một phần tư thế kỷ qua. Áp
dụng công nghệ BTĐL cho phép nhiều đập mới có tính khả thi về mặt kinh tế
do giảm giá thành từ phương pháp thi công nhanh và hàm lượng chất kết dính
thấp. Điểm khác biệt lớn nhất của bê tông đầm lăn với bê tông thường là
lượng xi măng và lượng nước dùng thấp hơn so với bê tông thường.
Lượng dùng chất kết dính trong BTĐL thay đổi trong phạm vi rộng từ
59 đến 297 kg/m
3
, trong đó một phần xi măng được thay thế bằng Puzơlan,
tro bay… nhằm giảm nhiệt thủy hóa, hạn chế phát sinh vết nứt ảnh hưởng đến
chất lượng và tuổi thọ công trình [12
]. Tùy theo lượng dùng CKD mà phân ra
các loại BTĐL như sau
[16]:
+ Bê tông đầm lăn nghèo chất kết dính (CKD) hàm lượng (CKD < 99
kg/m
3
) do USACE - Mỹ phát triển dựa trên công nghệ thi công đất đắp;
+ Bê tông đầm lăn có lượng CKD trung bình (hàm lượng CKD = 100-
149 kg/m
kính cốt liệu lớn nhất của cốt liệu 40 mm, giầu chất kết dính ) có độ đồng nhất
trong thi công cao, nên chống thấm tốt, phần bên trong dùng cấp phối III (cốt
-13-
liệu lớn tổ hợp từ 3 loại đá, đường kính lớn nhất của cốt liệu 80 mm hoặc có
thể 100 mm), có lượng dùng chất kết dính thấp.
1.2. Sự phát triển của bê tông đầm lăn trên thế giới và tại Việt Nam.
1.2.1. Tình hình ứng dụng BTĐL trên thế giới.
Tính kinh tế và thi công thành công BTĐL đã nhanh chóng được công
nhận trên toàn thế giới. Trong những năm từ 1960 đến 1970 có một số đập
BTĐL được xây dựng kết hợp ý tưởng giữa đập bê tông trọng lực đầm lăn và
đập đất. Năm 1961 hỗn hợp bê tông không độ sụt được rải bằng xe ủi đã áp
dụng cho đập Alpe Gera tại Italia và đập Manicongan ở Canada. Hỗn hợp bê
tông được đầm chặt bằng các loại đầm dùi gắn sau máy ủi hoặc đầm chặt
bằng máy ủi [38], giảm được giá thành do giảm lượng dùng xi măng so với bê
tông thường.
Năm 1961 hỗn hợp cát đá trộn với xi măng được rải và đầm bằng các
thiết bị thi công đập đất để xây dựng tường quây của đập Thanh Môn, Đài
Loan [4].
BTĐL chỉ thực sự được chú ý khi giáo sư Jerome Raphael (Mỹ) trình
bày báo cáo “Đập trọng lực tối ưu” vào năm 1970, trong đó nêu ra phương
pháp thi công nhanh đập bê tông trọng lực bằng cách sử dụng thiết bị đắp đập
đất [38].
Trong những năm 1970, một số công trình ở Mỹ đã đưa vào nghiên cứu
BTĐL trong phòng thí nghiệm và nghiên cứu thiết kế thử nghiệm tại hiện
trường. Những nỗ lực trên tạo nền tảng cho việc xây dựng đập BTĐL đầu tiên
trong những năm 80.
Từ 1972 đến 1974, Cannon R.W đã có những đóng góp đáng kể về
nghiên cứu BTĐL. Ông đưa ra kết quả thí nghiệm bê tông nghèo xi măng, vận
chuyển bằng ô tô, san gạt bằng xe ủi và đầm bằng lu rung. Sau đó Hiệp hội kỹ
-15-
BTĐL 165.000 m3 trong tổng số 317.000 m3 của bê tông đập. Năm 1979, bắt
đầu sử dụng BTĐL cho phần tiếp giáp nền của đập Đại Xuyên. Cho đến
những năm 80 của thế kỷ 20, Nhật Bản đã xây dựng thành công hàng loạt
công trình như đập Tamagawa trên sông Tama, năm 1986 cao 72m dài 332m.
Năm 1989 Nhật Bản xây dựng đập Nunome trên sông Nunome thuộc tỉnh
Nara, đập cao 72m dài 332m …Nhật bản là nước có tốc độ phát triển BTĐL
nhanh nhất trên thế giới. Tính đến cuối năm 1992, ở Nhật đã có 30 đập BTĐL
được thi công. Đến nay Nhật Bản đã hình thành trường phái BTĐL gọi là
RCD (Roller-coMPacted dams) gồm thiết kế mặt cắt đập, tính toán thành
phần bê tông, công nghệ thi công và khống chế nhiệt độ đập. Đặc điểm của
phương pháp RCD là sử dụng kết cấu “vàng bọc bạc” [26].
Trung Quốc bắt đầu nghiên cứu ứng dụng BTĐL muộn hơn so với Mỹ
và Nhật Bản (1980). Tuy vậy việc ứng dụng công nghệ BTĐL được triển khai
với tốc độ rất nhanh. Đầu tiên là thủy điện Khang Khẩu tại tỉnh Phúc Kiến
(1986) cao 56,8m tiếp đến là Long Môn Than cao 58m, Thiên Sinh Kiều cao
61m, đập Thủy Khẩu, đập Phổ Định…Đến cuối năm 2004, đã xây dựng được
45 đập bê tông đầm lăn trong đó có 7 đập vòm, 38 đập trọng lực và 11 đập
cao trên 100m[4]. Cho tới nay Trung Quốc đã là một trong những nước phát
triển về công nghệ BTĐL. Trong thời kỳ đầu ở Trung Quốc đập được thiết kế
theo công nghệ kết hợp giữa bê tông thường và BTĐL, theo kiểu kim bọc
ngân ( lớp vỏ bọc bằng bê tông thường bao lõi đập bằng BTĐL), do ban đầu
người ta quan niệm BTĐL có khả năng chống thấm kém hơn so với bê tông
thường nếu có cùng mác cường độ nén. Nhưng hiện nay ở Trung Quốc đã
nghiên cứu và thiết kế ứng dụng cấp phối BTĐL có khả năng chống thấm cao
cho đập BTĐL. Năm 1993, Trung Quốc xây dựng thành công đập vòm Phổ
Định, cao 75m dài 196m, hoàn toàn bằng BTĐL, trong đó phía thượng lưu sử
dụng BTĐL chống thấm D
max
3
)
Tỷ lệ
theo
S.lượng
%
Tỷ lệ
theo K.
lượng%
Tên
Quốc
Gia
Số
đập
đã
xây
dựng
Thể
tích
BTĐL
(10
3
m
3
)
Tỷ lệ
theo
S.lượng
%
16.014
16.48
17.27
Tổng:
29
6.962
10.17
7.51
Bắc Mỹ Châu úc
Canada 2 622 0.7 0.67 Australia
9 596 3.15 0.64
Hoa Kì 37 5.081 12.98 5.48
Khác 17 7.534 5.96 8.13
Tổng: 39 5.703 13.68 6.15 Tổng 26 92.712
-17-
Hình 1.1. Tỷ lệ áp dụng BTĐL theo các hướng khác nhau trên thế giới
1.2.2. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng bê tông đầm lăn ở Việt Nam.
Công nghệ thi công BTĐL là công nghệ mới phát triển rất nhanh chóng
trên thế giới do tính cơ giới hóa cao, tiến độ thi công nhanh, công trình sớm
được đưa vào khai thác, hiệu quả kinh tế mang lại to lớn, chính vì vậy việc áp
dụng công nghệ BTĐL vào Việt Nam là điều cần thiết. Nó đã thu hút sự quan
tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu, quản lý, thiết kế, thi công các cơ quan
kỹ thuật có liên quan trực tiếp đến công tác thi công bê tông đầm lăn và các
công trình thuỷ công tại Việt Nam. Năm 1990 Viện Khoa học Thuỷ lợi đã
6
m
3
BTĐL, hồ chứa nước Định
Bình: 0,24x10
6
m
3
BTĐL, công trình thủy điện Sê San 4: 0.8x10
6
m
3
, công
trình thủy điện Sơn La: 3.1 x10
6
m
3
BTĐL, Đồng Nai 4: 1.4x10
6
m
3
, Định
Bình: 0.24x10
6
m
3
BTĐL và sắp tới là hồ chứa nước Nước Trong, tỉnh Quảng
Ngãi. Do công nghệ BTĐL ở nước ta mới được áp dụng, nên việc thiết kế và
thi công đập BTĐL vẫn thiên về biện pháp an toàn, tức là sử dụng BTĐL bên
trong lõi đập không có hoặc có yêu cầu chống thấm thấp. Cấp phối BTĐL có
bê tông đầm lăn mác M20 còn 85 kg/m
3
. Do giảm lượng dùng xi măng nên
giảm nhiệt thủy hóa trong BTĐL nhờ đó giảm thời gian chờ hạ nhiệt độ trong
khối đổ, tăng nhanh tiến độ thi công công trình
[23].
Cho đến nay có thể nói Việt Nam đã chính thức có tên trên bản đồ công
nghệ BTĐL của thế giới. Theo báo cáo của Dr. M.R.H.Dunstan tại Hội nghị
xây dựng đập BTĐL, do Tập đoàn điện lực Việt Nam EVN tổ chức tại Hà
Nội tháng 4 năm 2007, đập BTĐL của thuỷ điện Sơn La đứng thứ 10 về chiều
cao và đứng thứ 3 về khối lượng bê tông trong số 10 đập bê tông lớn nhất của
thế giới, tính đến 2006. Việt Nam đứng thứ 2 thế giới, sau Trung Quốc, về số
lượng đập cao hơn 60 m đang thi công bằng BTĐL. -20-
Bảng 1.2: Một số công trình đập BTĐL của Việt Nam
TT Tên công trình
Chiều
cao
đập (m)
Ghi chú
I Các đập đang thi công
1 TĐ Sơn La- Sơn La 139
-21-
1.3. Phụ gia khoáng hoạt tính dùng cho bê tông đầm lăn
1.3.1. Khái niệm về phụ gia khoáng
Các vật liệu sử dụng để chế tạo BTĐL cũng tương tự như bê tông
truyền thống, bao gồm xi măng, phụ gia khoáng, phụ gia hóa học, cốt liệu và
nước. Tuy nhiên, do đặc điểm chính của hỗn hợp BTĐL là không có độ sụt và
lượng xi măng sử dụng ít do đó thành phần các vật liệu của BTĐL khác nhiều
so với bê tông thông thường, trong đó cấp phối hạt cốt liệu và hàm lượng hạt
mịn là các yếu tố quan trọng trong việc định lượng thành phần cấp phối và
quyết định tính chất của hỗn hợp bê tông và BTĐL khi rắn chắc.
Hạt mịn sử dụng cho BTĐL là các loại vật liệu có kích thước hạt nhỏ
hơn 75 µm, tùy thuộc vào khối lượng chất kết dính (xi măng) và kích thước
lớn nhất của cốt liệu được sử dụng, yêu cầu về hàm lượng hạt mịn có thể
chiếm đến 10% khối lượng cốt liệu trong BTĐL. Các loại hạt mịn được sử
dụng trong BTĐL thường là các loại Puzơlan, tro bay, silica-fume, xỉ lò cao,
được gọi chung là phụ gia khoáng. Việc lựa chọn và sử dụng hợp lý nguồn
phụ gia khoáng cho BTĐL là vấn đề rất cần thiết, có liên quan trực tiếp đến
địa điểm xây dựng công trình, yêu cầu và chất lượng bê tông, khả năng cung
cấp và giá thành công trình xây dựng
Phụ gia khoáng (PGK) là các vật liệu khoáng vô cơ có nguồn gốc tự
nhiên hoặc nhân tạo, có chứa SiO
2
hoặc Al
2
O
3
ở dang hoạt tính. Bản thân vật
liệu này không có tính kết dính nhưng khi được nghiền mịn và trong điều kiện
ẩm chúng sẽ có tác dụng hóa học với vôi và trở thành hợp chất có tính kết
tính tự kết dính (loại này có thể có hàm lượng vôi CaO trên 10%)
-23-
1.3.3. Thành phần hóa học và tính chất cơ lý của PGK hoạt tính
Chất độn mịn khoáng hoạt tính được sử dụng cho BTĐL theo tiêu
chuẩn ASTM- C618 phải đáp ứng các yêu cầu về thành phần hóa, lý như
trong bảng 1.3 và 1.4
Bảng 1.3: Các yêu cầu về thành phần hóa học của PGK hoạt tính
Các chỉ tiêu
Loại phụ gia
N F C
SiO
2
+ Al
2
O
3
+ Fe
2
O
3
(% tối thiểu)
70.0
70.0
50.0
SO
2
(% tối đa)
4.0
4.5
3
Yêu cầu về nước (% tối đa so với
mẫu đối chứng)
115 105 75
4
Co ngót tối đa so với mẫu đối
chứng (%)
0.8 0.8 0.8
Theo tiêu chuẩn Ấn Đô 1344-1968, thành phần hóa học của PGK hoạt
tính phải đảm bảo các tiêu chuẩn như trong bảng 1.5
-24-
Bảng 1.5: Thành phần hóa học yêu cầu của phụ gia khoáng
TT Thành phần Hàm lượng (%)
1
SiO
2
+ Al
2
O
3
+ Fe
2
O
3
≥ 70%
2
SiO
2
2
/g
- Cường độ nén trung bình theo thí nghiệm tối thiểu 3 mẫu lập phương
vữa không được nhỏ hơn 80% cường độ của 3 mẫu lập phương tương đương
đúc từ vữa xi măng không phụ gia ở độ tuổi 28 ngày, đến độ tuổi 90 ngày thì
cường độ phải tương đương.
1.3.4. Tình hình nghiên cứu sử dụng PGK ở Việt Nam
Trên thế giới, PGK thường được sử dụng để chế tạo BTĐL là tro bay
nhiệt điện hoặc Puzơlan thiên nhiên, trong đó tro bay thường được sử dụng
nhiều hơn do có nhiều ưu điểm như độ mịn cao và hạt hình cầu, khả năng hoạt
tính puzơlanic cao, lượng cần nước thấp, giảm được đáng kể lượng dùng xi
măng mà vẫn đảm bảo yêu cầu độ dẻo hỗn hợp bê tông phù hợp cho thi công
và cường độ nén của bê tông khi rắn chắc. Ngược lại, hầu hết các loại PGK
Puzơlan thiên nhiên thường có hoạt tính puzơlanic thấp hơn, lượng cần nước
cao hơn và do đó cần lượng dùng xi măng cao hơn so với khi sử dụng tro bay.
-25-
Việt Nam có nguồn PGK tự nhiên và nhân tạo rất đa dạng, có thể sử
dụng để chế tạo BTĐL. Nguồn PGK Puzơlan thiên nhiên có chất lượng tốt,
trữ lượng lớn, nằm rải rác khắp các vùng trong cả nước. Nguồn tro bay có
khối lượng khoảng 700.000 tấn/năm, được cung cấp chủ yếu từ nhà máy nhiệt
điện Phả Lại - Hải Dương và một số nhà máy nhiệt điện khác ở khu vực phía
Bắc.
1.3.4.1. PGK tự nhiên- Puzơlan
Puzơlan là vật liệu Silic hoặc Silic và Alumin, có ít hoặc không có tính
dính kết, nhưng ở dạng hạt mịn và mặt của nước, ẩm sẽ có tác dụng hóa học
với Canxihiđroxít ở nhiệt độ thường để tạo thành hợp chất có tính chất dính
kết. Puzơlan thiên nhiên nguyên khai hay qua nung phù hợp với các yêu cầu
áp dụng như một vài loại đất Diatomit, đá mảnh opan và diệp thạch, tuyp và
tro núi lửa hoặc đá bột, trong đó có loại qua nung và không qua nung, các loại