BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ XÂY DỰNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI
NGUYỄN QUANG THẮNG
NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM MỘT SỐ TÍNH CHẤT CƠ
LÝ CỦA BÊ TÔNG SỢI BAZAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KỸ THUẬT XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH XDDD&CN
Hà Nội - 2019
1
MỞ ĐẦU
* Lý do chọn đề tài
Trên thế giới cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về bê tông sử dụng
sợi gia cường (còn gọi: bê tông sợi), với các loại sợi được sử dụng chủ yếu
như: sợi thép, sợi thủy tinh, sợi khoáng, sợi hữu cơ, sợi tổng hợp... Các
nghiên cứu thường tập trung và đi sâu về tác dụng của sợi trong thành phần bê
tông; mức độ ảnh hưởng đến các tính năng của hỗn hợp bê tông; lựa chọn loại
sợi phù hợp để sử dụng; xác định hàm lượng sợi tối ưu…
Qua các nghiên cứu cho thấy, bê tông sử dụng sợi gia cường có các ưu
điểm làm chặt chẽ hơn mối liên kết giữa các thành phần vật liệu chế tạo, từ đó
cải thiện được cường độ chịu kéo và chịu nén, nâng cao tính ổn định của bê
tông… Sợi Bazan được biết đến với những ưu điểm của việc sử dụng sợi
+ Độ bền mỏi cao và chống ăn mòn hóa học tốt
+ Không cần thiết bị đặc biệt cho xử lý hay gia công
+ Dễ dàng kiểm soát quá trình sử dụng.
+ Thân thiện với môi trường. Không có vấn đề ô nhiễm khi phải hủy
sợi basalt.
+ Có thể tái chế được.
+ An toàn cho sức khỏe con người và động vật
+ Tương thích với nhiều loại nhựa - polyester không no, vinyl ester,
epoxy, phenol, v.v.
+ Chống chịu hóa chất tốt hơn so với sợi thủy tinh E-glass
Sợi bazan có các đặc tính vật lý hơn hẳn so với các loại sợi hiện có, các
thông số cụ thể được thể hiện trong Bảng 1.1[29].
5
Bảng 1.1: So sánh thông số kỹ thuật sợi Bazan và các loại sợi khác
Thông số
Sợi
Bazan
Sợi EGlass
Sợi SGlass
Sợi
Cacbon
Sợi
230-600
70-140
3,1
4,7
5,3
1,5-2,0
2,8-3,6
900
380
300
500
250
Độ giãn dài tại
điểm gãy
Nhiệt độ làm
việc cao nhất
(°C)
Giá trị
Nhiệt độ làm việc (°C)
-269°C - 900°C
Nhiệt độ phá hỏng (°C)
1450°C
Hệ số truyền nhiệt (w/m°K)
0,03-0,038
Độ bền kéo còn lại khi tăng nhiệt độ (%)
20
100
200
95
400
82
Tính ổn định hóa học ( giảm khối lượng (%) sau 3 giờ đun sôi trong hóa
chất)
2N HCL
2,2
nguy hiểm về tinh chất và nhiệt. Sợi bazan là giải pháp tốt nhất để thay thế
amiăng. Sợi bazan không cháy và chống cháy nổ. Sau khi phơi sáng dưới
400◦C, các sợi bazan bị mất trên cường độ ban đầu của chúng, trong khi kính
E mất hơn 50% .
- Tính chất cơ học
Độ bền cụ thể (ứng suất đứt với tỷ lệ mật độ) của sợi bazan vượt quá
nhiều lần so với thép. Sợi bazan là không mao dẫn và không hút ẩm, cho khả
năng chống ẩm tốt.
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, ngành xây
dựng đóng một vai trò hết sức quan trọng. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ
của mọi lĩnh vực khoa học công nghệ, ngành xây dựng đã và đang có những
bước tiến đáng kể. Để đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của xã hội, xu
hướng và nhu cầu xây dựng công trình có độ phức tạp về kỹ thuật ngày càng
lớn thì yêu cầu về vật liệu chế tạo cũng càng khắt khe hơn.
8
Bê tông xi măng (bê tông) là một loại vật liệu xây dựng thân thuộc, sử
dụng rộng rãi với nhiều tính năng ưu việt; tuy nhiên nó cũng cũng có những
mặt hạn chế nhất định, mà trong đó phải kể đến là cường độ chịu kéo nhỏ chống nứt kém. Do đó, việc nghiên cứu để cải thiện – nâng cao các tính năng
của bê tông là rất có ý nghĩa, góp phần nâng cao chất lượng và giảm giá thành
công trình.
Để cải thiện – nâng cao các tính năng của bê tông, việc sử dụng sợi gia
cường là một giải pháp hữu hiệu đang được các nhà khoa học ở nhiều nước
tiến tiến trên thế giới nghiên cứu và ứng dụng. Đã có các nghiên cứu về bê
tông sử dụng sợi gia cường, với các loại sợi được sử dụng chủ yếu như: sợi
thép, sợi thủy tinh, sợi khoáng vật, sợi hữu cơ, sợi tổng hợp... Các nghiên cứu
thường tập trung và đi sâu về tác dụng của sợi trong thành phần bê tông; mức
độ ảnh hưởng đến các tính năng của hỗn hợp bê tông và bê tông; lựa chọn loại
một thời gian gắn kết, rắn chắc.
Hệ thống mao quản, lỗ rỗng là những khe hở nhỏ giữa cốt liệu và đá xi
măng, chúng có thể chứa nước, không khí và hơi nước.
Cốt liệu là thành phần chính, tạo nên bộ khung chịu lực của bê tông. Nó
chính là các vật liệu hạt rời, có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo, có thành
phần hạt xác định, khi nhào trộn với xi măng và nước sẽ đông cứng, rắn chắc
như đá. Theo kích thước hạt, cốt liệu dùng chế tạo bê tông được phân ra cốt
liệu nhỏ và cốt liệu lớn.
Cốt liệu nhỏ (fine aggregate) là hỗn hợp các hạt cốt liệu có kích thước
chủ yếu từ 0,14 mm đến 5 mm. Cốt liệu nhỏ có thể là cát tự nhiên, cát nghiền
và hỗn hợp từ cát tự nhiên và cát nghiền.
Cốt liệu lớn (coarse aggregate) là hỗn hợp các hạt cốt liệu có kích
thước từ 5 mm đến 70 mm. Cốt liệu lớn có thể là đá dăm, sỏi, sỏi dăm hoặc
hỗn hợp các loại.
10
Đá dăm (crushed rock) là loại cốt liệu lớn được sản xuất bằng cách đập,
nghiền đá tự nhiên.
Sỏi (gravel) là loại cốt liệu lớn được hình thành do quá trình phong hoá
của đá tự nhiên.
Sỏi dăm (crushed gravel) là loại cốt liệu lớn được sản xuất bằng cách
đập, nghiền cuội, sỏi có kích thước lớn.
Cốt liệu lớn có thể được cung cấp dưới dạng hỗn hợp nhiều cỡ hạt hoặc
các cỡ hạt riêng biệt. Thành phần hạt của cốt liệu lớn, biểu thị bằng lượng sót
tích luỹ trên các mặt sàng tiêu chuẩn, được quy định theo từng tiêu chuẩn
(Việt Nam đang dùng TCVN 7570 – 2006).
Trong bê tông, cốt liệu lớn sau khi được hồ xi măng gắn kết lại sẽ đóng
vai trò là bộ khung chịu lực; cốt liệu nhỏ lấp lỗ rỗng cốt liệu lớn để lại, làm
thường rất nhỏ, đa phần các loại sợi đều phù hợp cho việc sử dụng gia cường
cho các loại bê tông, trong đó nổi bật là nâng cao khả năng chịu kéo và chống
nứt.
Trên thế giới cũng đã có nhiều nghiên cứu về bê tông sử dụng sợi gia
cường, với các loại sợi được sử dụng chủ yếu như: sợi thép, sợi thủy tinh, sợi
khoáng vật, sợi hữu cơ, sợi tổng hợp... Các nghiên cứu thường tập trung và đi
sâu về tác dụng của sợi trong thành phần bê tông; mức độ ảnh hưởng đến các
tính năng của hỗn hợp bê tông và bê tông; lựa chọn loại sợi phù hợp để sử
dụng; xác định hàm lượng sợi tối ưu…
Dias D P, Thaumaturgo C và cộng sự [14] chỉ ra rằng: so với bê tông
thường, khi hàm lượng sợi bazan gia cường là 1% theo thể tích, cường độ
chịu nén và cường độ chịu kéo nứt (kéo khi ép chẻ) tăng cao lần lượt là 26,4%
và 12%; cường độ chịu kéo khi uốn tăng lên 45,8%.
G.K.Geethanjali và cộng sự [15] chỉ ra rằng: tính công tác của hỗn hợp
bê tông giảm khi bổ sung sợi bazan. Nhưng khó khăn này có thể được khắc
12
phục bằng cách sử dụng phụ gia siêu dẻo (SP). Từ kết quả SP1 cho các đặc
tính cường độ và lưu lượng tốt hơn. Phần trăm tăng cường độ chịu uốn của
bazan, B + SP1, B + SP2, SP1, SP2, WC + SP1, WC + SP2 hỗn hợp bê tông
so với cường độ chịu nén 28 ngày của bê tông được quan sát là 42,85%,
2,48%, 20,08%, 18,21%, 11,38%, 26,29%, 28,36%. Theo kết quả, hỗn hợp
sợi bazan giúp tăng cường tối đa cường độ chịu nén và SP2 được thêm vào
Hỗn hợp không mang lại sự cải thiện đáng kể mặc dù chúng tạo ra kết quả tốt
hơn khi so sánh với hỗn hợp bê tông xi măng thông thường. Phần trăm tăng
cường độ chịu nén của sợi bazan, B + SP1, SP1, WC + SP1, hỗn hợp bê tông
so với cường độ chịu uốn 28 ngày của Bê tông thông thường được quan sát
lần lượt là 16,97%, 3,42%, 25,54%, 26,52%. Theo quan sát, các mẫu của
Eythor Thorhallsson và cộng sự [17] chỉ ra rằng: sợi bazan có độ bền
kéo tốt hơn sợi thủy tinh E, độ giãn dài tại điểm gãy lớn hơn sợi carbon cũng
như khả năng chống ăn mòn hóa học tốt, tải trọng va chạm và lửa với khói
độc ít hơn. Theo nghiên cứu cho thấy Nhà sản xuất sợi bazan Kamenny Vek ở
Nga, 2009 nói rằng sợi bazan có các tính chất cơ học tốt hơn, chẳng hạn như
độ bền kéo cao hơn, cũng như chi phí sản xuất thấp hơn sợi thủy tinh.
Kamenny Vek cũng cho biết việc tái chế sợi bazan hiệu quả hơn nhiều so với
sợi thủy tinh và do đó sợi bazan thân thiện với môi trường. Sợi bazan có thể
được phân loại là vật liệu bền vững vì sợi bazan được làm từ vật liệu tự nhiên
và khi sợi bazan trong nhựa được tái chế, vật liệu tương tự được lấy lại dưới
dạng bột bazan tự nhiên.
Fathima Irine I .A,Khoa Xây dựng Đại học M.G, Đại học Kỹ thuật Mar
Athanasius, Kerala, Ấn Độ [18] cho thấy: Khi nghiên cứu và so sánh ảnh
hưởng của việc đưa sợi bazan lên cường độ chịu kéo, uốn của bê tông sợi
bazan với bê tông M30. Dựa trên thí nghiệm trong phòng thí nghiệm trên bê
tông sợi bazan, các mẫu khối, dầm và hình trụ đã được thiết kế bằng bê tông
14
sợi bazan chứa 1kg/m3, 2kg/m3 và 4kg/m3 sợi bazan, uốn và kéo mẫu tại 3, 7
và 28 ngày với việc bổ sung các sợi bazan. Cho ra các kết quả như sau: tính
công tác của hỗn hợp bê tông giảm khi bổ sung sợi bazan. Nhưng khó khăn
này có thể được khắc phục bằng cách sử dụng chất hóa dẻo hoặc siêu dẻo.
Phần trăm tăng cường độ chịu nén của hỗn hợp bê tông sợi bazan so với
cường độ chịu nén 28 ngày của Bê tông đều được quan sát là 14%. Sự gia
tăng phần trăm cường độ chịu kéo đứt của hỗn hợp bê tông sợi bazan so với
cường độ chịu nén 28 ngày của Bê tông đều được quan sát là 62%. Cường độ
chịu uốn của bê tông sợi bazan cũng được cho thấy có mức tăng tối đa 54%
với hàm lượng sợi 4kg/m3. Quan sát thấy rằng, phần trăm tăng cường độ của
làm tăng nhẹ cường độ chịu nén 28 ngày của bê tông có chứa tro bay và các
phụ gia có tỷ lệ xi măng nước thấp. Ngoài ra, cường độ chịu nén sớm của bê
tông có chứa tro bay và các phụ gia có thể tăng đáng kể do sử dụng sợi bazan.
Jongsung Sim [20] qua nghiên cứu về bê tông sử dụng sợi đá (sợi đá
bazan – sợi bazan) làm sợi gia cường đã chỉ ra: bê tông sử dụng sợi sợi bazan
có cường độ chịu kéo cao gấp 1,5 ÷ 2 lần, với độ giãn dài cao gấp từ 4 ÷ 6 lần
bê tông thường, độ bền kéo trung bình, uốn, uốn trung bình trong 28 ngày là
tối đa khi sử dụng 2% sợi khoảng 20% đến 30% giá trị được quan sát thấy.
Sử Quốc Cương và các cộng sự (người Trung Quốc) [23]: qua nghiên
cứu thiết kế và tối ưu hóa cấp phối của bê tông sử dụng sợi bazan loại có tính
mềm đã đưa ra kết luận: sợi bazan có ảnh hưởng rất lớn trong việc cải thiện
tính chất của bê tông; ảnh hưởng này thể hiện càng rõ nét trong giao đoạn đầu,
thời gian càng kéo dài sự ảnh hưởng càng hạn chế hơn. Ảnh hưởng của tỷ lệ
nước – xi măng và hàm lượng sợi đến tính năng của bê tông là rất rõ rệt; sau
đó là đến ảnh hưởng của tỉ lệ đường kính – chiều dài sợi. Qua tổng hợp phân
tích ảnh hưởng đến một số chỉ tiêu tính chất, nhóm nghiên cứu đã đề xuất
hàm lượng sợi hợp lý là 0,2 ÷ 0,3% theo thể tích hỗn hợp.
16
Trịnh Kiệt (người Trung Quốc) [24] qua nghiên cứu về hiệu quả của
việc cải thiện tính chất của hai loại bê tông (cấp 30 và cấp 50), sử dụng sợi
bazan, đã chỉ ra rằng: với bê tông cấp 30, khi hàm lượng sợi lần lượt là 0%,
0,1%, 0,2% và 0,3% cường độ chịu nén ở tuổi 28 ngày không ngừng tăng cao
và độ tăng lớn nhất là 31,5%; với loại bê tông cấp 50 cường độ lại tăng giảm
chậm hơn với lượng tăng giảm không đáng kể.
Thúc Tử Phong và Vương Vĩ (người Trung Quốc) [25] đã nghiên cứu
tính chất cơ học của bê tông sử dụng sợi bazan (basalt fiber) và sợi thủy tinh
(glass fiber); qua nghiên cứu chỉ ra rằng ảnh hưởng của sợi bazan đến cường
cao không sử dụng cốt sợi. Cường độ chịu nén của BTCSB tăng lên khi hàm
lượng xi măng tăng từ 400kg lên 500kg/m3. Tỉ lệ N/X tăng từ 0,4 lên 0,45
làm cho cường độ chịu nén của BTCSB giảm xuống. Cường độ chịu kéo của
bê tông cường độ cao không sử dụng sợi Bazan là 87daN/cm2, cường độ chịu
kéo tăng lên 90 và 91daN/cm2 khi sử dụng 1% và 2% sợi Bazan, nhưng
cường độ chịu kéo giảm xuống còn 89 và 86daN/cm2 khi sử dụng 3 và 4%
sợi Bazan. Cường độ chịu uốn không tăng đáng kể khi tăng hàm lượng sợi
Bazan 1% và 2%. Cường độ chịu uốn giảm xuống khi sử dụng 3% và 4% sợi
Bazan. Trong trường hợp sử dụng 3% và 4% sợi Bazan, với hàm lượng sợi
này, sợi Bazan không thể phân tán đồng đều trong nền bê tông do hỗn hợp
BTCSB kém dẻo, cường độ của nền bê tông giảm xuống do sợi Bazan làm
tăng độ xốp trong bê tông, từ đó Ru của BTCSB giảm khi sử dụng 3% và 4%
sợi Bazan. Khả năng chống va đập của BTCSB thông qua số lần bi rơi làm
xuất hiện vết nứt và làm mẫu bị phá họai hoàn toàn tăng lên khi hàm lượng
sợi tăng lên. Đặc biệt là khi dùng 4% sợi Bazan thì khả năng chống va đập
tăng lên rất đáng kể so với bê tông cường độ cao không sử dụng cốt sợi (tăng
60%).
Nguyễn mạnh Phát [3] Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng,
2006.02: khi nghiên cứu ứng dụng bê tông cốt sợi bazan để chế tạo bê tông
18
dùng cho công trình chịu tải trọng động cho thấy: Khả năng chống va đập và
năng lượng hấp thụ va đập của bê tông sử dụng cốt sợi bazan tăng đáng kể khi
tăng hàm lượng sợi sợi từ 1-4%. Khả năng chống va đập của bê tông gia
cường cốt sợi bazan tăng 60% so với bê tông cường độ cao không có cốt sợi.
Sợi bazan có tác dụng tăng tính dẻo dai cho bê tông cường độ cao khi chịu lực
va đập, hạn chế sự phất triển vết nứt và kéo dài khả năng làm việc cho kết cấu
bê tông. Với khả năng chống va đập tốt, độ dẻo dai cao hơn đáng kể so với bê
sự phá hoại đột ngột do vỡ các thanh BFRP.
Thanh composite bazan được tạo ra bằng cách sử dụng sợi bazan và
chất kết dính nhựa epoxy. Chúng không ăn mòn, bao gồm 80% sợi và có độ
bền kéo gấp ba lần thanh thép thường được sử dụng trong xây dựng công
trình. Bất cứ nơi nào có vấn đề ăn mòn, thanh composite sợi bazan có khả
năng thay thế thép trong bê tông cốt thép. Hiện nay có nhiều công ty sản xuất
thanh FRP tiếp thị sản phẩm của họ. Hầu hết các thanh này được làm bằng sợi
thủy tinh E và nhựa nhiệt rắn. Tuy nhiên thanh FRP thiếu độ bền đủ trong
điều kiện khắc nghiệt. Những thanh này rất tốn kém và cũng không chịu được
kiềm. Thanh bazan không có những nhược điểm này và có thể được sử dụng
hiệu quả trong các ứng dụng khác nhau như rào chắn đường cao tốc, cấu trúc
ngoài khơi và sàn cầu.
Chỉ riêng những lợi thế đã đề cập ở trên có thể đảm bảo một lý lẽ đủ để
thay thế các thanh thép bằng các thanh bazan trên quy mô lớn. Các ưu điểm
khác của thanh bazan là trọng lượng của nó bằng một phần ba trọng lượng của
thép và hệ số giãn nở nhiệt rất gần với bê tông. Hiệu suất cơ học / tỷ lệ giá
cao của thanh composite sợi bazan, kết hợp với khả năng chống ăn mòn đối
với tấn công kiềm, là những lý do khác để thay thế thép trong bê tông bằng
thanh composite sợi bazan.
20
Patnaik và cộng sự [22] đã nghiên cứu cường độ uốn của 13 dầm bê
tông được buộc lại bằng các thanh BFRP và so sánh tải trọng phá hoại đo
được với các dự đoán theo hướng dẫn ACI 440.1R-06. Nghiên cứu kết luận
rằng dự đoán về công suất mô men bằng ACI 440.1R-06 phù hợp tốt với các
giá trị đo được. Ovitigala đã nghiên cứu hành vi của dầm bê tông nhẹ và trọng
lượng bình thường được gia cố bằng các thanh BFRP. Nghiên cứu báo cáo
rằng ACI 440.1R-06 đã dự đoán 93 % công suất mô men đo được. Ngoài ra,
1.5.1. Các vấn đề còn tồn tại
Qua việc tổng hợp các kết quả nghiên cứu trước cho thấy: các kết
luận đều được đưa ra từ các kết quả thí nghiệm, tuy nhiên số lượng thí nghiệm
và tính hệ thống, tính toàn diện vẫn còn hạn chế. Cùng một vấn đề nghiên cứu,
cùng yếu tố ảnh hưởng nhưng kết quả nghiên cứu cũng không hoàn toàn
giống nhau, thậm chí trái ngược nhau trong một số kết quả... Do đó, vẫn còn
nhiều vần đề cần phải tiếp tục nghiên cứu, có thể tổng hợp lại một số vấn đề
cơ bản còn tồn tại như sau:
(1) Kết quả nghiên cứu sự ảnh hưởng của hàm lượng sợi gia cường
trong bê tông với các loại sợi vẫn chưa thống nhất và chưa đầy đủ;
(2) Chưa có tiêu chuẩn, quy trình hướng dẫn về phương pháp thiết kế
thành phần bê tông sử dụng sợi gia cường;
(3) Có nhiều loại sợi có thể sử dụng gia cường cho bê tông, tuy nhiên
cũng cần xem xét tính hiệu quả cũng như các tính năng ưu việt khi sử dụng;
(4) Ở Việt Nam có quá ít các nghiên cứu thăm dò và ứng dụng bê
tông sử dụng sợi gia cường; đặc biệt chưa có nghiên cứu nào được công bố về
bê tông sử dụng sợi bazan.
Từ những phân tích ở trên cho thấy, luận văn "Nghiên cứu thực
nghiệm một số tính chất cơ lý của bê tông sợi bazan" có ý nghĩa khoa học
và ý nghĩa thực tiễn cao.
22
1.5.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đặt ra, luận văn tập trung thực hiện các nhiệm vụ
chính như sau:
1) Nghiên cứu tổng quan về bê tông và bê tông sử dụng sợi gia cường;
2) Lựa chọn vật liệu và xây dựng phương án nghiên cứu;
3) Nghiên cứu thiết kế thành phần cơ bản của bê tông sợi bazan;
dụng và điều kiện của khu vực. Việc lựa chọn mác xi măng được dựa theo cấp
bê tông thiết kế, được thể hiện ở Bảng 2.1 [2].
Bảng 2.1. Lựa chọn mác xi măng theo cấp bê tông
Cấp bê tông, MPa
≤ 20
30
40
Mác xi măng, MPa
30
30 - 40
40 - 50
≥ 60
50
≥ 50
Luận văn sử dụng xi măng pooc lăng PCB 40 được sản xuất tại Công ty
cổ phần xi măng Vicem Bút Sơn. Các thông số kỹ thuật cơ bản của loại xi
măng này đều thỏa mãn quy định về xi măng sử dụng chế tạo bê tông theo
Tiêu chuẩn Việt Nam [6], chi tiết cụ thể được thể hiện ở Bảng 2.2.
Bảng 2.2. Một số chỉ tiêu kỹ thuật của xi măng PCB-40
TT
Độ nghiền mịn, xác định theo:
3
- Phần còn lại trên sàng kích thước lỗ
≤ 10 %
≥ 2800 cm2/g
0,09mm
- Bề mặt riêng, phương pháp Blaine
b. Cốt liệu
Cốt liệu là thành phần chính, tạo nên bộ khung chịu lực của bê tông. Nó
chính là các vật liệu rời nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo có thành phần hạt
xác định, khi nhào trộn với xi măng và nước, tạo thành bê tông hoặc vữa.
Theo kích thước hạt, cốt liệu dùng chế tạo bê tông được phân ra cốt liệu nhỏ
và cốt liệu lớn.
* Cốt liệu nhỏ
Cốt liệu nhỏ (fine aggregate) là hỗn hợp các hạt cốt liệu có kích thước
chủ yếu từ 0,14 mm đến 5 mm. Cốt liệu nhỏ có thể là cát tự nhiên, cát nghiền
và hỗn hợp từ cát tự nhiên và cát nghiền. Thành phần hạt của loại cát sử dụng
chế tạo bê tông được lựa chọn theo Tiêu chuẩn Việt Nam [7], được thể hiện ở
Bảng 2.3.
Bảng 2.3. Thành phần hạt của cát
Kích thước lỗ sàng
Lượng sót tích luỹ trên sàng, % khối lượng
Cát thô
Cát mịn
Lượng qua sàng 140 μm,
không lớn hơn
10
35