Nghiên cứu xác định một số tính chất vật lý, hoá học chủ yếu của một số loại rơm điển hình tại khu vực hà nội làm cơ sở đánh giá khả năng sản xuất ván dăm từ rơm - Pdf 44

ĐẶT VẤN ĐỀ
Vấn đề ta ̣o vâ ̣t liêụ composite từ rơm ra ̣: mu ̣c đích là tạo ra vật liệu mới
và giải quyế t vấ n đề ô nhiễm môi trường do đố t rơm ra ̣ ta ̣i đồ ng ruô ̣ng gây
nên. Đây là vấ n đề khá nhức nhố i của Việt Nam nói chung và thành phố Hà
Nô ̣i nói riêng hiêṇ nay, nhấ t là trong năm 2009, khiế n tình tra ̣ng ô nhiễm môi
trường, trong đó ô nhiễm không khí khá trầ m tro ̣ng ta ̣i khu vực ngoại thành
sau mùa gă ̣t, do nông dân chủ yế u đố t rơm ra ̣ tâ ̣p trung ngay ngoài đồ ng gây
ra. Khói rơm độc vì thành phần của nó. Rơm có thành phần chủ yếu là các
chất xenlulozơ, hemixenlulozơ, các chất hữu cơ kết dính (nhựa) và các chất
khoáng khác. Khi rơm cháy, xảy ra nhiều phản ứng phức tạp do sự nhiệt phân
(cháy) không hoàn toàn, do vậy hình thành rất nhiều chất. Ngoài khí cabonic,
hơi nước, trong khói có chất nhựa (dạng khí dung thành những hạt nhỏ lơ
lửng trong không gian), hàng trăm loại chất khác như amoniac, các oxit
nitơ.... Các hợp chất chứa clo, lưu huỳnh kể cả các hợp chất của kim loại nặng
do tích luỹ sinh học của cây lúa. Thành phần của khói rất phức tạp, vì trong
rơm rạ lẫn dư lượng của những loại nông dược chưa phân huỷ hết, các chất
tạo thành còn tương tác với nhau khiến thành phần khói càng thêm phức tạp
hơn nữa. Đáng chú ý là, việc đốt rơm đang dần thành thói quen của người
nông dân sau những ngày mùa!
Đố i với mu ̣c tiêu tìm kiế m mô ̣t loa ̣i nguyên liêụ mới cho sản xuấ t ván
dăm: Đây là hướng nghiên cứu đươ ̣c tâ ̣p trung ưu tiên cả trên thế giới và trong
nước. Sở di ̃ như vâ ̣y, là do nguồ n nguyên liêụ sản xuấ t ván dăm hiê ̣n nay chủ
yế u là từ gỗ (chiế m trên 90%). Nế u khai thác nhiề u thì sẽ dẫn đế n áp lực tàn
phá rừng, hủy hoa ̣i môi trường số ng. Theo số liê ̣u thố ng kê sơ bô ̣, để sản xuấ t
1 m3 ván dăm sẽ cầ n tới trên 2 m3 nguyên liêụ gỗ. Trong điề u kiê ̣n trồ ng rừng
hiêṇ nay ở nước ta, 1 ha rừng trồ ng chỉ thu đươ ̣c 15 m3 gỗ/năm (chu kỳ trồ ng
7 năm với gỗ rừng trồ ng), do đó nhu cầ u ván dăm của thi ̣ trường trong nước


2


3

du ̣ng nhỏ. Nghiên cứu về sử du ̣ng rơm ra ̣ làm vâ ̣t liêụ composite thì hầ u như
chưa có. Tuy nhiên đã có 1 dự án sử du ̣ng rơm ra ̣ để làm vâ ̣t liêụ xây dựng
nhà cho người có thu nhâ ̣p thấ p ở khu vực đồ ng băng sông Cửu Long do
Development Marketplace tài trơ ̣ nhưng nghiên cứu đi vào ta ̣o vâ ̣t liêụ
composite từ rơm ra ̣, giúp ta ̣o giá tri ̣gia tăng cho sản phẩ m từ rơm ra ̣ như ta ̣o
vâ ̣t liêụ tiêu âm (hấ p thu ̣ âm thanh), cách nhiêt,̣ vâ ̣t liêụ nhe ̣ xố p làm trầ n, vâ ̣t
liêụ sử du ̣ng để sản xuấ t đồ mô ̣c thay thế cho ván dăm gỗ. Điề u này khiế n cho
pha ̣m vi sử du ̣ng rơm ra ̣ ta ̣i Viê ̣t Nam mới chỉ dừng la ̣i ở sử du ̣ng trực tiế p
như nêu ở phầ n trên.
Từ những phân tích trên, đươ ̣c sự nhấ t trí của Nhà trường, khoa Đào
ta ̣o sau đa ̣i ho ̣c – Trường Đa ̣i ho ̣c Lâm nghiêp,
̣ tôi thực hiêṇ đề tài “Nghiên
cứu xác định một số tính chất vật lý, hóa học chủ yếu của một số loại rơm
điển hình tại khu vực Hà Nội làm cơ sở đánh giá khả năng sản xuất ván
dăm từ rơm.” nhằ m góp phầ n sử du ̣ng có hiê ̣u quả nguồ n phế liêụ Nông
nghiê ̣p này, giảm thiể u ô nhiễm môi trường do rơm ra ̣ gây ra, đồ ng thời ta ̣o ra
mô ̣t lựa cho ̣n mới cho nguyên liêụ dùng trong xây dựng và đồ mô ̣c, giảm bớt
sức ép về sử du ̣ng gỗ hiêṇ nay.


4

Chương 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Lich
̣ sử nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu, sử dụng rơm ra ̣
1.1.1.1 Trên thế giới

còn nguyên liêụ rơm ra ̣ từ lúa ga ̣o rấ t ha ̣n chế do sản lươ ̣ng ít.
Ta ̣i Hàn Quố c, Han Seung Yang và các cô ̣ng sự (2003) [22] đã tiế n
hành sản xuấ t ván dăm từ hỗn hơ ̣p rơm ra ̣ và gỗ sử du ̣ng keo UF để tạo vâ ̣t
liêụ cách âm dùng trong xây dựng. Sản phẩ m ván ta ̣o ra có cường đô ̣ uốn tĩnh
là 4,83-6,21 Mpa (với ván có khố i lươ ̣ng thể tích 0,6 g/cm3) và là 9,65-20
Mpa (với ván có khố i lươ ̣ng thể tích 0,8 g/cm3). Đă ̣c biê ̣t, sản phẩ m ván ta ̣o ra
có khả năng hấ p thu ̣ âm thanh (hê ̣ số hấ p thu ̣ âm thanh tới trên 0,3 – kiể m tra
theo tiêu chuẩ n Mỹ ASTM C384) tố t hơn nhiề u so với các loa ̣i ván nhân tạo
khác.
Ta ̣i Ấn Đô ̣, Ibrahim Mutlu (2009) [23] đã nghiên cứu sử du ̣ng tro từ
rơm để thay thế amiăng trong chế tạo má phanh.
Ngoài ra, rơm cũng đươ ̣c sử du ̣ng để sản xuấ t ván sơ ̣i từ xi măng cho
kế t quả khả quan (theo Elvira C.Fernandez, 2000) [18].
Youngquist (1993) đã đánh giá tổng quan về nguyên liệu sợi thực vật
và khả năng sử dụng nó để sản xuất ván nhân tạo [27].
Kadam và các cộng sự (2000) [19], đã nghiên cứu về các thành phần
hóa học chính trong rơm rạ.
Summers (2002) [25] đã khái quát lại các đặc tính cơ bản của rơm (tính
chất vật lý, hoá học chủ yếu) và so sánh với gỗ để đánh giá tiềm năng sử dụng
loại nguyên liệu này để sản xuất ván nhân tạo, theo bảng 1.1


6

Bảng 1.1: Hàm lượng các nguyên tố chính trong rơm rạ và ước tính KLTT
thực của rơm dựa trên hàm lượng của các nguyên tố này.
Các nguyên tố chủ yếu
C

H


6

43

0

1

1485

Rơm rạ

42

5

37

12

4

1597

Markessini [17] và các cộng sự nghiên cứu tạo ván nhân tạo từ nguồn
nguyên liệu sợi thực vật thu hoạch hàng năm sử dụng keo dán U-F tại Hội
thảo nghiên cứu vật liệu composite/ván dăm quốc tế lần thứ 31, đã đưa ra
bảng kết quả so sánh về thành phần hóa học giữa rơm rạ từ lúa gạo và gỗ vân
sam.

năng lên men to ̣a thành Ethanol” của Sở KHCN TP.HCM do TS. Nguyễn
Hoàng Dũng (ĐHBK, TP.HCM) [4] thực hiêṇ và đã đươ ̣c nghiê ̣m thu
12/2008 (hơ ̣p tác với Đa ̣i ho ̣c Tokyo, Nhâ ̣t Bản). Cồ n ta ̣o ra mới chỉ đạt đươ ̣c
đô ̣ cồ n 90%.
Sản xuấ t hô ̣p đựng thực phẩ m từ vỏ trấ u và rơm: Giải pháp nhằ m khắ c
phu ̣c vấ n đề của các hô ̣p đựng không thích nghi đươ ̣c với các thực phẩm nóng
ở nhiê ̣t đô ̣ tương đố i cao và thực phẩ m chứa nhiề u nước. Hô ̣p đựng thực
phẩ m này đươ ̣c làm bằ ng vâ ̣t liêụ hỗn hơ ̣p từ: Bô ̣t trấ u hoă ̣c bô ̣t rơm với tỷ lệ
800 – 1.200 phầ n khố i lươ ̣ng; tinh bô ̣t thực phẩ m: 150 – 250 phầ n khố i lươ ̣ng;
Natri polyacrylic: 15 – 25 phầ n khố i lươ ̣ng; bô ̣t Titan 0 – 25 phầ n khố i lươ ̣ng;
Nước: 400 – 600 phầ n khố i lươ ̣ng.
Tổng quan ở Việt nam, chưa có công trình nào công bố về đặc điểm
của rơm nói chung, thành phần hoá học chủ yếu của rơm nói riêng để làm cơ
sở cho việc đánh giá khả năng sản xuất ván dăm từ loại hình nguyên liệu này.


8

1.1.2 Tình hình nghiên cứu việc sử dụng rơm làm ván dăm
Ván dăm là mô ̣t loa ̣i vâ ̣t liêụ composite gỗ đã đươ ̣c nghiên cứu khá
sớm, bắ t đầ u từ năm 1887, với sản phẩ m ván dăm đươ ̣c sản xuấ t từ mùn cưa
và keo máu (albumin máu). Tuy nhiên, ván dăm chỉ đươ ̣c sản xuấ t với quy
mô công nghiêp̣ từ những năm 40 của thế kỷ 20 với nhà máy ván dăm đầ u
tiên đươ ̣c xây dựng ta ̣i Bremen (Đức) năm 1941 và có mă ̣t trên thi ̣trường sau
khi chiế n tranh thế giới lầ n thứ hai kế t thúc (1946 – Nhà máy ván dăm công
suấ t 60 m3/ngày đă ̣t ta ̣i Thu ̣y Sy)̃ .
Ngành công nghiêp̣ ván dăm chỉ thực sự phát triể n ma ̣nh từ những năm
70 trở la ̣i đây, cùng với sự phát triể n của ngành công nghiê ̣p hóa dầ u đã tạo ra
nguồ n nguyên liêụ phong phú, giá rẻ để sản xuấ t keo dán (nhựa tổ ng hợp).
Nghiên cứu về ván dăm vì thế mà cũng đã có những thành công lớn, đặc biêṭ

1.3. Mục tiêu, nội dung, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
1.3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Xác định một số tính chất vật lý, hóa học chủ yếu của rơm từ đó định
hướng cho công nghệ sản xuất ván dăm.
Mục tiêu cụ thể
- Xác định được một số tính chất vật lý chủ yếu của rơm.
- Xác định được một số thành phần hóa học chủ yếu của rơm.
- Đánh giá khả năng khả năng sử dụng rơm làm nguyên liệu để sản xuất
ván dăm:
 Ván dăm với nguyên liệu từ rơm.
 Ván dăm với nguyên liệu từ hỗn hợp rơm – gỗ.


Ván dăm với nguyên liệu từ hỗn hợp rơm – các loại vật liệu
khác.


10

1.3.2. Nội dung nghiên cứu
- Xác định một số tính chất vật lý của 3 loại rơm (Khang Dân, Q5, Hai
dòng): Khối lượng thể tích, đặc tính hút ẩm, độ ẩm của rơm sau khi gặt và sau
khi hong phơi.
- Xác định một số thành phần hóa học của 3 loại rơm (Khang Dân, Q5,
Hai dòng): Hàm lượng cellulose, hàm lượng lignin, hàm lượng chất tan trong
NaOH 1%, hàm lượng chất tan trong nước nóng, hàm tro, độ pH.
- Đánh giá khả năng khả năng sử dụng rơm làm nguyên liệu để sản xuất
ván dăm.
1.3.3. Phạm vi nghiên cứu

- Phương pháp xác định các thành phần hoá học chủ yếu của rơm trên
cơ sở sử dụng các tiêu chuẩn kiểm tra của TAPPI (210 os – 70; 13 os – 54; 15
os – 58; 4 os – 59); tiêu chuẩn Trung Quốc GB/T2677.3 – 1993; tiêu chuẩn D
1110 – 56 (1968). Số lượng mẫu là 5 mẫu cho mỗi loại rơm.

- Phương pháp kế thừa: Kế thừa các tài liệu nghiên cứu ở trong và
ngoài nước nghiên cứu về rơm, gỗ.
- Phương pháp chuyên gia: lấy ý kiến chuyên gia nhằm đánh giá chất
lượng rơm thông qua kiểm tra các tính chất vật lý và hóa học chủ yếu của
rơm.
- Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê toán học.


12

Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1. Đặc điểm của rơm
2.1.1. Đặc điểm cấu tạo và tính chất của cây lúa
Cây lúa là cây thuộc họ hoà tảo (Gramincae) có tên khoa học là Oia
Sativa, thời gian sinh trưởng ngắn (90 ÷ 100 ngày), nơi sinh trưởng chủ yếu là
các vùng đất ngập nước, chiều cao đạt được tại thời điểm làm đòng từ 0,6 ÷
2m. Có rất nhiều giống lúa khác nhau như: giống ngắn ngày, giống dài ngày,
giống cao cây, giống thấp cây,… Nhưng về đặc điểm cấu tạo chung và thành
phần hoá học cửa thân cây lúa khác nhau không đáng kể.

Hình 2.1: Cấu tạo cây lúa

Cấu tạo chung của cây lúa: Cây lúa được chia làm 3 phần chính là rễ
lúa, thân lúa và lá lúa.

nghiệp). Sự khác biệt giữa rơm và rạ chỉ là tương đối, các tên gọi này dùng để
phân biệt phần dưới (rạ) và phần trên (rơm) của thân cây lúa tính từ gốc. Tuỳ


14

theo phương pháp thu hoạch mà tỷ lệ giữa rơm và rạ là khác nhau. Xét về mặt
nguyên liệu, để sản xuất ván dăm hỗn hợp rơm - gỗ thì ta có thể hiểu đó là
phần thân của cây lúa.
Thân cây lúa có thành phần chính là cellulose, Hemincellulos, Lignin
bởi vì nó là loại thực vật sinh trưởng tự nhiên. Từ đó cho thấy rơm là loại vật
liệu không đồng chất, không đẳng hướng. Ngoài ra trong rơm có chứa một
lượng khá lớn các chất vô cơ như: SI, Ca, Na, Mn, Mg… đặc biệt là Silic
chiếm một tỷ lệ khá lớn (17,72%), [18].
Tỷ lệ thành phần các chất trong rơm (tính theo khối lượng rơm khô)
- Xenlulô, Heminxenlulô, Ligin: 75%
- Silic:17,72%
- Các chất vô cơ khác (Na, K, Ca, P, Fe…) : 6,03%
- Đường : 1,25%
Với diện tích trồng lúa hàng năm rất lớn khoảng 6.599.000 ha, tập
trung chủ yếu ở Đồng bằng Bắc Bộ và Đồng bằng Nam Bộ chúng ta sẽ thu
được một lượng nguyên liệu khổng lồ khoảng 65.980.000 tấn. Do vậy việc
tìm kiếm nguyên liệu tập trung cho sản xuất không còn là vấn đề khó khăn.
2.2. Nguyên lý hình thành ván dăm
Ván dăm là loại ván nhân tạo, được sản xuất bằng phương pháp ép các
dăm với nhau, có sự tham gia của chất kết dính trong một điều kiện về nhiệt
độ áp suất nhất định.
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều loại ván dăm, sự khác nhau cơ bản giữa
chúng là nguyên liệu tạo dăm, kích thước, hình dạng, sự phân bố của dăm
trong ván, lượng keo dùng, khối lượng thể tích của ván… tuy nhiên bất kỳ

Tế bào vách mỏng
Dạng

Dạng

que

ngoài que

6.1

40.4

Ống

TB biểu

mạch



1.3

6.2

Bạch đàn đỏ

58

25


Kíck thước
dăm

Kết cấu ván 3 lớp,
ván 1 lớp chất
lượng bề mặt cao,
hoặc ván kết cấu
tiệm biến

Chiều dài

Kết cấu ván 3
Ván dăm ép
lớp, ván 1 lớp
đùn (dăm
chất lượng
mịn)
lớp lõi thấp

Ván dăm ép
đùn (dăm
thô)

10 ~ 15

20 ~ 40

5 ~ 15


kích thước như sau:


17

Chỉ tiêu đánh giá kích thước dăm bằng hệ số hình học xác định theo công
thức:
S=

l
d

Các kết quả nghiên cứu cho thấy:
S < 150 thì cường độ uốn tĩnh của ván dăm tăng theo sự tăng của S.
S > 150 thì cường độ uốn tĩnh của ván dăm thay đổi không rõ rệt.
Đối với ván dăm ba lớp thì:
S = 100 ÷ 200 (với lớp mặt).
S = 60 (với lớp giữa).

Hình 2.2: Sơ đồ mối tương quan giữa Cường độ uốn tĩnh và kích thước dăm
- Khối lượng thể tích:
Khối lượng thể tích của nguyên liệu không chỉ ảnh hưởng tới tính chất
của sản phẩm mà còn liên quan đến cả quá trình sản xuất dăm. Rơm là loại
vật liệu có khối lượng thể tích thấp, xốp nên khả năng truyền nhiệt kém, kéo
dài thời gian gia nhiệt, ảnh hưởng đến quá trình đóng rắn của keo, sự đồng
đều theo chiều sâu. Khối lượng thể tích của rơm thấp phần nào khẳng định
cường độ của dăm không cao, dẫn đến cường độ của ván khó đạt được như sử
dụng các loại gỗ.
- Ảnh hưởng của độ ẩm dăm:
Độ ẩm của dăm trước khi trộn keo ảnh hưởng rất đáng kể tới chất

Ngoài ra rơm có tồn tại lượng sáp (wax) khá lớn ở thân, vỏ do đó khả năng
thấm ướt bề mặt kém, khiến cho các loại keo nhựa nhiệt rắn gốc
formaldehyde khó thấm đều và hình thành liên kết.


19

2.3.2. Ảnh hưởng của keo và chất phụ gia
- Lượng keo dùng:
Chất lượng của ván dăm tỷ lệ thuận với lượng keo dùng. Nếu lượng
keo dùng quá lớn sẽ liên quan đến vấn đề giá thành của ván bởi vì khi sản
xuất ra được 1m3 ván dăm giá thành của keo chiếm tỷ lệ 30 ÷ 35% tổng giá
thành sản phẩm.
- Loại keo dùng:
Keo là các hợp chất hoá học có khả năng kết dính các phần tử dăm gỗ
lại với nhau dưới điều kiện tác động của nhiệt và áp lực. Keo thông thường sử
dụng là: keo Urea - formaldehyde, keo Phenol - formaldehyde, keo Urea Melamine. Đây là 3 loại keo chủ yếu, các loại keo này có các ưu nhược điểm
riêng như:
+ Keo Urea - formaldehyde (UF) có cường độ dán dính cao, có mầu
sáng, khả năng chịu nước tốt, giá thành hạ, sản xuất đơn giản, nhược điểm dễ
lão hóa.
+ Keo Phenol - formaldehyde (PF) có cường độ dán dính cao, khả năng
chịu nước rất tốt, chịu nhiệt, sản xuất đơn giản, nhược điểm có mầu sẫm, độc
hại.
+ Keo Urea - Melamine (MF) có cường độ dán dính cao, có mầu sáng,
khả năng chịu nước tốt, có khả năng đóng rắn ở nhiệt độ thấp, chịu được mài
mòn, nhược điểm có tính ròn giá thành cao. Ngày nay trong công nghệ sản
xuất ván dăm, người ta hầu như chỉ sử dụng keo U-F (kể cả các loại keo biến
tính có nguồn gốc từ loại keo này) và keo P-F . Trong hai loại keo này thì keo
U-F được sử dụng rộng rãi hơn với lý do kinh tế, giá thành giảm, ít độc hại.

làm cho ván bị trương nở, làm giảm tính chất cơ lý. Để hạn chế khả năng hút
ẩm và hút nước của ván dăm trong quá trình trộn keo với dăm cho thêm chất
chống nước. Chất chống nước thường dùng là faraffine lỏng (nhũ tương và
faraffine nóng chảy). Tỷ lệ faraffine dùng ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng


21

ván, theo kết quả thực nghiệm trong phạm vi nhất định khả năng chống nước
của ván tăng lên theo tỷ lệ faraffine sử dụng, cường độ của ván giảm theo
chiều tăng của tỷ lệ faraffine dùng. Sử dụng chất phụ gia Praffin sẽ làm giảm
tính chất cơ lý của ván, vì vậy cần phải tính tỷ lệ chất phụ gia cho thích hợp.
Theo Hoàng Thúc Đệ (1993) thì lượng Praffin chiếm: 0,4  1,5% lượng dăm
khô.
+ Phụ gia chống cháy: Ván dăm được sản xuất từ gỗ nên dễ cháy, để
hạn chế khả năng cháy của ván dăm, người ta cho các chất phụ gia chống
cháy vào trong ván. Yêu cầu của chất phụ gia là: có khả năng chống cháy, ổn
định hoá học, không độc, không ảnh hưởng đến cường độ ván.
+ Phụ gia chống nấm và sinh vật hại gỗ: Ván dăm thường hay bị các
loài nấm, sâu, mọt phá hoại, vì vậy cần thiết phải cho thuốc bảo quản vào
trong ván. Thuốc bảo quản phải độc với sinh vật nhưng không độc với người
và gia súc, có tính ổn định cao, không ảnh hưởng đến khả năng dán dính,
không ảnh hưởng đến cường độ của ván.
2.3.3. Ảnh hưởng của các yếu tố công nghệ
2.3.3.1. Trộn keo
Muốn cho dăm kết dính tốt phải triệt để sử dụng keo rất hạn chế làm
cho keo phân bố đều trên bề mặt của dăm. Đối với vấn đề làm thế nào để keo
phân bố đều trên bề mặt của dăm hiện nay có hai quan điểm. Quan điểm thứ
nhất chủ trương làm cho keo phân bố đều thành màng mỏng liên tục. Quan
điểm thứ hai chủ trương đính những hạt keo nhỏ trên bề mặt của dăm. Qua

giảm thời gian ép đang được sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên khi cần chú ý khi ở
nhiệt độ ép quá cao dăm có thể chuyển sang dạng các-bon hóa, màng keo lớp
ngoài bị dòn. Nguyên liệu có khối lượng thể tích nhỏ, dăm xốp dẫn nhiệt kém,
khi ép có sự chênh lệch về mức độ, tốc độ đóng rắn của màng keo ở các lớp
ván dẫn đến cản trở sự thoát hơi nước, cường độ của ván sẽ giảm. Khi chọn
nhiệt độ ép cần quan tâm một số yếu tố sau:


23

- Nguyên liệu (chủng loại, chất lượng…).
- Độ ẩm của thảm dăm.
- Tính năng của keo.
- Chiều dày của thảm dăm.
- Phương pháp gia nhiệt.
- Thời gian gia nhiệt.
- Áp suất ép.
Trong sản xuất ván dăm hiện nay sử dụng T = 130 ÷ 2000C.
2.3.3.4 Thời gian ép
Tổng thời gian của một chu kỳ ép nhiệt được chia thành các khoảng
sau:
τ =

7



τi

1

Nếu độ ẩm của thảm dăm thấp thì có cường độ tương đối cao, thời gian ép
nhiệt ngắn, khó dính tấm lót, phân bố đều trên mặt cắt ngang nhưng nảy sinh
vấn đề như: tính hút nước của ván tăng lên, tính dẻo của ván giảm, bề mặt thô,
quá trình truyền nhiệt vào lớp giữa của thảm chậm. Chính vì vậy có thể xung
kích ẩm làm độ ẩm của lớp mặt cao hơn, khi ép nhiệt ở nhiệt độ cao nước
nhanh chóng thoát hơi và xung vào lớp giữa. Thông thường thời gian duy trì
áp suất lớn nhất biến động trong khoảng 0.5 – 1.0 phút/mm chiều dày.
2.3.3.5 Áp suất ép
Ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng ván. Trong quá trình ép ván, bàn ép
tạo ra lực chống lại sự đàn hồi của thảm, đối với nguyên liệu cứng hoặc rất
mềm thì điều này càng có ý nghĩa. Khi ép thảm dăm, không khí trong thảm
được loại bỏ ra ngoài nhờ áp suất ép, không khí tồn tại trong ván là một trong
các nguyên nhân gây nổ ván. Mặt khác áp suất ép tạo khả năng tiếp xúc giữa
các dăm tốt hơn, tạo điều kiện cho keo dàn trải, đóng rắn và do đó áp suất ép
giúp thảm dăm đạt đến chiều dày và khối lượng thể tích theo yêu cầu. Khả
năng tiếp xúc giữa các dăm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng ván, áp suất nhỏ


25

khả năng tiếp xúc giữa các dăm kém làm cường độ của ván thấp. Ngược lại
nếu áp suất ép quá cao, nó có thể phá vỡ các kết cấu của thảm dăm, khó khăn
trong việc tăng áp và giảm áp.
2.4. Đặc điểm chung của nguyên liệu rơm, gỗ trong sản xuất ván dăm
2.4.1. Cellulose cấu tạo và tính chất

Hình 2.3. Nguồn gốc và hình dạng các vi sợi cellulose
 Cấu tạo
- Cấu tạo hoá học: Cellulose là polysacharides đơn giản không tan
trong nước, là hợp chất cao phân tử mạch thẳng được cấu tạo bởi các gốc D glucose, liên kết với nhau bằng các liên kết glucosilic (1-H), có hình tia x


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status