Nghiên cứu chế tạo và sử dụng hạt nano sắt từ để gắn kết với DNA - Pdf 22

Đồ án tốt nghiệp 1 GVHD : TS.Đặng Đức Long
MỞ ĐẦU
Trong lĩnh vực khoa học công nghệ nano, sắt kim loại kích thước nano
được quan tâm nghiên cứu rất nhiều, vì nó có ứng dụng rất đa dạng trong sản
xuất và đời sống. Gần đây hạt nano sắt từ đang được ứng dụng nhiều vào công
nghệ thông tin và truyền thông chế tạo linh kiện điện tử và cảm ứng. Một nhánh
quan trọng của công nghệ nano, đó là lý sinh học nano, trong đó, vật liệu nano
được sử dụng để chẩn đoán, điều trị bệnh và nghiên cứu trong sinh học phân tử.
Trong sinh học phân tử, người ta thường xuyên phải tách phân tử DNA,
RNA ra khỏi môi trường của chúng để làm tăng nồng độ khi phân tích hoặc cho
các mục đích khác. Công việc tách chiết DNA đảm bảo độ tinh sạch của nó rất
quan trọng nhưng với phương pháp thông thường phải sử dụng nhiều hóa chất,
dung môi hữu cơ, tốn nhiều thời gian. Trong khi đó, ở nước ngoài phân tách
DNA sử dụng các hạt nanô từ tính là một trong những phương pháp thường được
sử dụng. Vì nó làm giảm được thời gian xử lý, lượng hóa chất cần dùng, phân
tách dễ dàng bằng cách sử dụng một nam châm.
Ngoài ra, hạt nano từ tính còn được ứng dụng nhiều trong các xét nghiệm mẫu
máu của bệnh nhân nhiễm các loại virus như viêm gan B, bệnh ung thư, dẫn
truyền thuốc … Hạt nano từ tính được ứng dụng nhiều bởi độ nhạy cao, dễ ứng
dụng và có thể thu hồi lại được. Nhưng ở Việt Nam thì chưa có nhiều nghiên cứu
về công nghệ sản xuất hạt nano từ tính dùng trong công nghệ sinh học. Vì vậy
chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu chế tạo và sử dụng hạt nano sắt từ để
gắn kết với DNA”.
Mục tiêu của đề tài là tạo ra một loại vật liệu mới có thể ứng dụng trong công
nghiệp, y sinh học. Đồng thời cũng tiến hành thử nghiệm ứng dụng vào nghiên
cứu sinh học phân tử mà cụ thể là gắn kết với DNA cho nhiều mục đích nghiên
cứu khác nhau.
SVTH : Võ Thị Ái Lớp : 10SHLT
Đồ án tốt nghiệp 2 GVHD : TS.Đặng Đức Long
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

3
O
4
,
được nghiền cùng với CHHBM (a-xít Oleic) và dung môi (dầu, hexane).
CHHBM giúp cho quá trình nghiền được dễ dàng và đồng thời tránh các hạt kết
tụ với nhau. Sau khi nghiền, sản phẩm phải trải qua một quá trình phân tách hạt
rất phức tạp để có được các hạt tương đối đồng nhất.[3]
Phương pháp nghiền có ưu điểm là đơn giản và chế tạo được vật liệu với
khối lượng lớn. Việc thay đổi CHHBM và dung môi không ảnh hưởng nhiều đến
quá trình chế tạo. Tuy nhiên cũng có những nhược điểm là tính đồng nhất của các
hạt nanô không cao vì khó có thể khống chế quá trình hình thành hạt nanô. Hạt
nanô từ tính chế tạo bằng phương pháp này thường được dùng cho các ứng dụng
vật lý.[3]
SVTH : Võ Thị Ái Lớp : 10SHLT
Đồ án tốt nghiệp 4 GVHD : TS.Đặng Đức Long
1.1.1.2. Phương pháp đồng kết tủa
Phương pháp đồng kết tủa là một trong những phương pháp thường được
dùng để tạo các hạt ô-xít sắt. Có hai cách để tạo ô xít sắt bằng phương pháp này
đó là hydroxide sắt bị ô xi hóa một phần bằng một chất ô xi hóa nào đó và già
hóa hỗn hợp dung dịch có tỉ phần hợp thức Fe
+2
và Fe
+3
trong dung môi nước.
Phương pháp thứ nhất có thể thu được hạt nanô có kích thước từ 30 nm – 100
nm. Phương pháp thứ hai có thể tạo hạt nanô có kích thước từ 2 nm – 15 nm.
Bằng cách thay đổi pH và nồng độ ion trong dung dịch mà người ta có thể có
được kích thước hạt như mong muốn đồng thời làm thay đổi điện tích bề mặt của
các hạt đã được hình thành.[3]

ôxi hóa muối sắt và biến chúng thành magnetite Fe
3
O
4
. Sau khi phản ứng xảy ra
SVTH : Võ Thị Ái Lớp : 10SHLT
Đồ án tốt nghiệp 5 GVHD : TS.Đặng Đức Long
ta thu được hạt nanô Fe
3
O
4
với từ độ bão hòa có thể đến 80 emu/g, cao gần bằng
giá trị của Fe
3
O
4
ở dạng khối.[3]
Khi chiếu xạ siêu âm dung dịch chứa muối iron (II) acetate thì xuất hiện các phản
ứng sau:
H
2
O → H· + OH·
H· + H· → H
2
OH· + OH· → H
2
O
2

Fe(CH

Hình 1.1 : Bằng phương pháp hóa siêu âm có thể tạo các hạt que Fe
3
O
4
.[3]
1.1.1.5. Phương pháp điện hóa
Phương pháp điện hóa cũng được dùng để chế tạo hạt nanô ô xít sắt từ
tính. Dung dịch điện hóa là dung dịch hữu cơ. Kích thước của hạt nanô từ 3 – 8
nm được điều khiển bằng mật độ dòng điện phân. Sự phân tán của các hạt nanô
nhờ vào các CHHBM dương. Phương pháp này phức tạp và hiệu suất không cao
như các phương pháp khác nên ít được nghiên cứu. [3]
SVTH : Võ Thị Ái Lớp : 10SHLT
Đồ án tốt nghiệp 6 GVHD : TS.Đặng Đức Long
1.1.2. Yêu cầu hạt nano từ tính dùng trong y sinh học
Hạt nanô từ tính dùng trong y sinh học cần phải thỏa mãn ba điều kiện
sau:
- Tính đồng nhất của các hạt cao
- Từ độ bão hòa lớn
- Vật liệu có tính tương hợp sinh học (không có độc tính).[3]
Tính đồng nhất về kích thước và tính chất liên quan nhiều đến phương
pháp chế tạo còn từ độ bão hòa và tính tương hợp sinh học liên quan đến bản
chất của vật liệu. Trong tự nhiên, sắt (Fe) là vật liệu có từ độ bão hòa lớn nhất tại
nhiệt độ phòng, sắt không độc đối với cơ thể người và tính ổn định khi làm việc
trong môi trường không khí nên các vật liệu như ô-xít sắt Fe
3
O
4
được nghiên cứu
rất nhiều để làm hạt nanô từ tính. [3]
1.2. Giới thiệu về phân tử Deoxyribonucleic Acid (DNA )

cacbon 1'. Có 4 loại bazơ nitơ:loại Adenin (A) và Guanin (G) là các dẫn xuất của
bazơ purin; còn dẫn xuất của bazơ pyrimidin thì có Timin (T) và Xytozin (X).
Các nucleotit nối với nhau thành chuỗi polinucleotit qua nhóm photphat và
đường pentozơ. Mỗi gốc axit photphoric liên kết với nguyên tử cácbon 5' của
một gốc đường và với nguyên tử cacbon 3' của một gốc đường khác qua các liên
kết photphođieste.
Hai chuỗi polinucleotit xoắn lại với nhau thành chuỗi xoắn kép, trong đó bazơ
nitơ chuỗi này liên kết với chuỗi kia bằng liên kết hiđro theo nguyên tắc bổ sung.
Rõ ràng là DNA có cấu tạo đa phân, do nhiều đơn phân hợp lại, có cấu tạo nhiều
bậc. Sự đa dạng của sinh giới bắt nguồn từ đây. Ở từng loài riêng có trình tự sắp
xếp các nucleotit riêng trong phân tử DNA của loài, và cũng có cả đặc thù cùng
số lượng nucleotit riêng. Trong một loài virus đơn giản nhất cũng có đến 5000
nucleotit, còn trong 46 NST người thì có đến 5000 tỉ nucleotit. Trong 2 chuỗi
polinucleotit, đường pentozơ và photphat đều giống nhau, riêng 4 bazơ nitơ có
liên kết khác nhau.[27]
SVTH : Võ Thị Ái Lớp : 10SHLT
Đồ án tốt nghiệp 8 GVHD : TS.Đặng Đức Long
1.2.4. Tính chất của DNA
DNA có tính keo do phân tử lớn và có tính acid do có chứa gốc acid
phosphoric và tích điện âm.
Dưới tác dụng của các tác nhân như nhiệt hay các chất hóa học (formamide,
urea), hai sợi đơn của phân tử DNA bị tách rời do các liên kết hydro giữa các
bazơ bổ sung bị phá vỡ - hiện tượng này gọi là sự biến tính của DNA. (Các liên
kết hydro giữ hai chuỗi xoắn kép là những liên kết yếu khiến chúng dễ dàng
được tách ra nhờ enzyme (trong điều kiện in vitro) hoặc nhiệt độ trên 90°C (điều
kiện in vitro, PCR).
Giá trị trung bình của khoảng nhiệt độ trong quá trình biến tính gọi là nhiệt độ
nóng chảy của DNA (T
m
- melting Temperature). Sau khi hai mạch đơn của phân

1.3.2. Tách chiết DNA động vật và vi khuẩn
Có thể tách chiết DNA của động vật từ các nguyên liệu khác nhau như
máu, nước bọt, mô cơ, lông, tóc và các loại mô khác. Đối với vi khuẩn thì phải
tiến hành nuôi vi khuẩn để thu sinh khối tế bào. Có nhiều phương pháp tách chiết
SVTH : Võ Thị Ái Lớp : 10SHLT
Đồ án tốt nghiệp 10 GVHD : TS.Đặng Đức Long
khác nhau[4]. Tuy vậy tách chiết DNA của động vật và vi khuẩn đều có chung
một nguyên tắc gồm 3 giai đoạn cơ bản đó là :
1. Phá bỏ màng tế bào
Có thể phá bỏ màng tế bào và màng nhân bằng phương pháp hóa học, vật
lý hoặc cơ học. Đối với phương pháp hóa học thường sử dụng các chất tẩy rửa
như SDS, Triton 100 với nồng độ thích hợp. Đối với phương pháp vật lý người ta
thường sử dụng sóng siêu âm để phá vỡ màng tế bào.
2. Loại bỏ protein
Để thu nhận DNA tinh sạch, người ta cần loại bỏ những thành phần tạp nhiễm,
mà quan trọng nhất là protein. Sự tách chiết dựa trên nguyên tắc hòa tan khác
nhau của các phân tử khác nhau (nucleic acid/protein) trong hai pha không hòa
tan (phenol, chloroform/nước).
3. Tủa nucleic acid
Mục đích của công đoạn này là nhằm thu nhận nucleic acid dưới dạng cô đặc,
một mặt nhằm bảo vệ chúng khỏi sự phân hủy của các enzyme và khi cần có thể
hòa lại trong nước theo nồng độ mong muốn.[5]
Thông thường các phương pháp tách chiết DNA này đều sử dụng nhiều
hóa chất để xử lý và qua nhiều bước ly tâm nên sẽ mất nhiều thời gian.
1.4. Cở sở của việc cố định DNA lên hạt nano sắt từ
Bất cứ vật liệu nào đều có sự hưởng ứng với từ trường ngoài (H), thể hiện
bằng độ từ hóa (từ độ - M). Tỷ số c = M/H được gọi là độ cảm từ. Tùy thuộc vào
giá trị, độ cảm từ có thể phân ra làm các loại vật liệu từ khác nhau.
- Vật liệu có c < 0 (~ -10-6) được gọi là vật liệu nghịch từ.
- Vật liệu có c > 0 (~10-6) được gọi là vật liệu thuận từ.

1.5. Ứng dụng hạt nano từ tính trong y sinh học
Trong y sinh học, người ta thường xuyên phải tách một loại thực thể sinh
học nào đó ra khỏi môi trường của chúng để làm tăng nồng độ khi phân tích hoặc
cho các mục đích khác. Phân tách tế bào sử dụng các hạt nanô từ tính là một
trong những phương pháp thường được sử dụng. Quá trình phân tách được chia
làm hai giai đoạn: đánh dấu thực thế sinh học cần nghiên cứu; và tách các thực
thể được đánh dấu ra khỏi môi trường bằng từ trường. [29]
Việc đánh dấu được thực hiện thông qua các hạt nanô từ tính. Hạt nanô
thường dùng là hạt ô xít sắt. Các hạt này được bao phủ bởi một loại hóa chất có
tính tương hợp sinh học như là dextran, polyvinyl alcohol (PVA), Hóa chất bao
phủ không những có thể tạo liên kết với một vị trí nào đó trên bề mặt tế bào hoặc
phân tử mà còn giúp cho các hạt nanô phân tán tốt trong dung môi, tăng tính ổn
SVTH : Võ Thị Ái Lớp : 10SHLT
Hình 1.4 : Đánh dấu và tách tế bào bằng hạt nano[29]
Đồ án tốt nghiệp 13 GVHD : TS.Đặng Đức Long
định của chất lỏng từ. Giống như trong hệ miễn dịch, vị trí liên kết đặc biệt trên
bề mặt tế bào sẽ được các kháng thể hoặc các phân tử khác như các hoóc-môn,
a-xít folic tìm thấy. Các kháng thể sẽ liên kết với các kháng nguyên. Đây là cách
rất hiệu quả và chính xác để đánh dấu tế bào. Các hạt từ tính được bao phủ bởi
các chất hoạt hóa tương tự các phân tử trong hệ miễn dịch đã có thể tạo ra các
liên kết với các tế bào hồng cầu, tế bào ung thư phổi, vi khuẩn, tế bào ung thư
đường tiết niệu và thể golgi. [29]
Tách tế bào bằng từ trường đã được ứng dụng thành công trong y sinh học. Đây
là một trong những phương pháp rất nhạy để có thể phát hiện tế bào ung thư từ
máu, đặc biệt là khi nồng độ tế bào ung thư rất thấp, khó có thể tìm thấy bằng các
phương pháp khác.[15] Người ta có thể phát hiện kí sinh trùng sốt rét trong máu
bằng cách đo từ tính của kí sinh trùng đánh dấu từ[10] hoặc đánh dấu các tế bào
hồng cầu bằng chất lỏng từ tính.[16]
SVTH : Võ Thị Ái Lớp : 10SHLT
Tế bào

thể tích điện dương. Các DNA với khung Phosphate tích điện âm sẽ có xu hướng
hút vào hạt nano từ tính bọc silica. Sử dụng từ trường ngoài để tách tất cả các
DNA ra khỏi các vật phẩm sinh học khác bằng từ trường sẽ thu được các DNA
có dính các hạt nano từ tính. Sử dụng dung môi thích hợp, bề mặt của silica có
thể hấp phụ một gốc hydroxyl làm cho tích điện âm. Lúc này DNA sẽ rời khỏi
hạt nano từ tính do chúng có cùng điện tích. Loại bỏ hạt nano từ tính bằng từ
trường ngoài sẽ thu được dung dịch gồm toàn các DNA. Nhân bản DNA của siêu
SVTH : Võ Thị Ái Lớp : 10SHLT
Đồ án tốt nghiệp 15 GVHD : TS.Đặng Đức Long
vi viêm gan bằng PCR rồi xác định sự có mặt của chúng bằng phép đo diện di.
[29]
1.5.3. Hạt nano vàng để phát hiện tế bào ung thư vú
Hạt nano vàng, bạc được sử dụng trong y sinh học để đánh dấu tế bào.
Nhờ kích thước của hạt nano nhỏ hơn nhiều bước sóng ánh sáng chiếu vào mà
xuất hiện hiện tượng cộng hưởng Plasmon bề mặt làm cho khả năng tán xạ ánh
sáng của các hạt nano kim loại rất mạnh. Các hạt nano kim loại quý như vàng,
bạc, bạch kim bền trong môi trường làm việc, thân thiện với cơ thể là đối tượng
được ứng dụng nhiều nhất.
Nguyên tắc ứng dụng hạt nano kim loại quý trong đánh dấu tế bào như sau: hạt
nano vàng được gắn kết với kháng thể đặc hiệu kháng tế bào ung thư vú anti-
HER2, sau đó gắn lên mẫu bệnh có tế bào ung thư. Nhờ liên kết kháng nguyên-
kháng thể đặc hiệu mà hạt nano gắn lên bề mặt của tế bào. Chiếu ánh sáng lên tế
bào thì do khả năng tán xạ mạnh của hạt nano vàng mà các tế bào ung thư sẽ
được phân biệt với các tế bào thường không có khả năng tán xạ. Kết quả cho thấy
nếu không gắn với kháng thể kháng tế bào ung thư thì hạt nano vàng không gắn
lên tế bào ung thư. Khi có kháng thể gắn với hạt nano vàng, hạt nano vàng bám
lên các tế bào. Dưới ánh sáng hiển vi trường tối, các tế bào này phát sáng rất
mạnh, khác biệt hẳn với các tế bào khi không có hạt nano vàng gắn kết [29]
1.5.4. Dẫn truyền thuốc
Một trong những nhược điểm quan trọng nhất của hóa trị liệu đó là tính

Đồ án tốt nghiệp 19 GVHD : TS.Đặng Đức Long
2.1. Vật liệu và hóa chất
2.1.1. Các phân tử DNA, oligonucleotide
DNA được tách chiết từ vi khuẩn Bacillus subtilis được nuôi trên môi
trường lỏng ở Phòng thí nghiệm Bộ môn Công nghệ Sinh Học – Trường Đại học
Bách Khoa Đà Nẵng.
Hóa chất cần cho tách chiết DNA bao gồm :
- SDS (Sodium dodecyl sulfate – C
12
H
25
O
4
SNa, SIGMA, Mỹ)
- Tris base (C
4
H
11
NO
3
, SIGMA, Mỹ).
- EDTA (C
10
H
14
N
2
O
8
Na

O, dung dịch NH
4
OH 23% ÷ 25%, citric acid (CA), cồn 96
0
, giấy đo
pH, nước cất 2 lần và cồn 90
0
C [1,2,3]. Các hóa chất đó đều có nguồn gốc từ
Trung Quốc.
Hóa chất dùng để chức năng hóa bề mặt hạt sắt từ là ATPS, nước cất 2 lần.
2.1.3. Vật liệu và hóa chất điện di
- Agarose (SIGMA, Mỹ).
- TBE (BIO-RAD, Mỹ).
- Dung dịch tải mẫu 5X (Loading dye, BIO-RAD, Mỹ).
- Ethidium bromide (C
21
H
20
BrN
3
- EtBr).
- Thang DNA 1000bp (Marker, BIO-RAD, Mỹ)
2.1.4. Vật liệu và hóa chất dùng cho phản ứng PCR
SVTH : Võ Thị Ái Lớp : 10SHLT
Đồ án tốt nghiệp 20 GVHD : TS.Đặng Đức Long
- DNA vi khuẩn B.subtilis
- Primer
- dNTP
- Enzym polymerase : Pfu polymerase
- Dung dịch đệm : Pfu buffer

Fe
2+
và Fe
3+
(với tỉ số phân tử là 1:2) [2, 3] từ các dung dịch muối FeCl
2
.4H
2
O và
FeCl
3
.6H
2
O bằng cách phản ứng với dung dịch NH
4
OH 25%. Đây là phương
pháp đơn giản phù hợp với điều kiện phòng thí nghiệm của Bộ môn. Tiến hành
thí nghiệm với hai cách khác nhau đó là có gia nhiệt cùng với bổ sung citric acid
và không gia nhiệt. Nồng độ ion sắt (II) là 0,1; 0,05.
2.2.1.1. Tổng hợp hạt nano sắt từ không gia nhiệt và acid citric
Cân 3,98 g muối FeCl
2
.4H
2
O và 10,92 g muối FeCl
3
.6H
2
O rồi hòa vào
200ml nước cất (2 lần) để tạo được dung dịch có nồng độ 0,1 ion sắt (II). Hỗn

chúng trong nước để thu được dung dịch chất lỏng từ [2].
2.2.1.2. Tổng hợp hạt nano sắt từ có gia nhiệt và bổ sung acid citric
SVTH : Võ Thị Ái Lớp : 10SHLT
Đồ án tốt nghiệp 22 GVHD : TS.Đặng Đức Long
Tiến hành tổng hợp hạt nano từ tính bằng phương pháp đồng kết tủa có
gia nhiệt và bổ sung thêm acid citric để giúp sản phẩm hạt sắt từ phân tán tốt
trong dung dịch. Cách tiến hành như sau :
Cân 0,86g FeCl
2
.4H
2
O và 2,35g FeCl
3
.6H
2
O (tỉ lệ mol 1 :2) hòa hỗn hợp
muối vào 40 ml nước cất để tạo nồng độ 0,1 ion sắt (II) và đun nóng đến 80
o
C.
Khuấy mạnh hỗn hợp phản ứng bằng máy khuấy từ, thêm 5 ml NH
4
OH bằng ống
nhỏ giọt và tiếp tục đun nóng thêm 30 phút nữa.
Sau đó, thêm 1g CA trong 2 ml nước cất và nâng nhiệt lên 95
o
C, tiếp tục khuấy
trong 90 phút nữa. Lượng kết tủa sắt được hình thành. Phần CA dư được trung
hòa bằng NaOH [22]. Để kết tủa lắng một thời gian, hút bỏ phần phần nước ở
trên và thêm nước cất vào bảo quản ở nhiệt độ phòng.
2.2.2. Chức năng hóa bề mặt hạt nano sắt từ

- Pha loãng chủng gốc cấp độ lên 10
-3
, 10
-4
bằng lọ penicilin
- Cấy trải lên 2 đĩa petri
- Nuôi trong 28-30h trong 30
o
C
 Cấy chuyền vào môi trường lỏng:
Sau 30h lấy đĩa petri ra quan sát khuẩn lạc, khuẩn lạc màu trắng đục không dấu
hiệu bị nhiễm tạp ta cấy chuyền sang môi trường lỏng. Tiếp tục nuôi thu sinh
khối trong 24h ở 30
o
C có lắc .[17]
2.2.4. Tách chiết DNA vi khuẩn B.subtilis bằng phương pháp thông thường
1. Nồng độ tế bào vi khuẩn ở dịch nuôi ở bước 600 nm bằng 1,2
2. Hút 1,5 ml dịch nuôi vi khuẩn cho vào eppendof. Ly tâm 5000 vòng/phút trong
10 phút. Thu cặn tủa.
3. Hòa cặn tủa trong 500µl dung dịch TE, bổ sung thêm 50 µl NaCl 0,5 M và 50
µl SDS 10%. Huyền phù nhẹ nhàng. Ủ hỗn hợp ở 65
o
C trong 10 phút. Chuyển
hỗn hợp sang ủ trên đá trong 5 phút.
4. Thêm một thể tích (600 µl) dung dịch phenol : chloroform vào hỗn hợp trên.
Lắc mạnh bằng vortex trong 30 giây.
5. Ly tâm 12000 vòng/phút trong 10 phút ở 4
o
C. thu lấy phần dịch ở phía trên (là
pha nước có chứa DNA), nhẹ nhàng chuyển sang một eppendof khác

C trong 30 phút.
4. Bổ sung 2mg hạt amino - NP vào hỗn hợp trên. Lắc mạnh bằng vortex trong 1
phút.
5. Tách hạt cùng DNA ra khỏi dung dịch bằng nam châm.
6. Rửa hỗn hợp (hạt cùng DNA) 3 lần bằng dung dịch 20mM Tris-HCl, pH 7.
7. Tách DNA ra khỏi hạt sắt từ bằng dung dịch NaCl 2M. Vortex mạnh.
8. Thu lấy phần dịch nổi phía trên (là phần có chứa DNA) đưa đi đo quang phổ ở
bước sóng 260nm và 280 nm.[7]
9. Tủa DNA bằng etanol tuyệt đối và rửa tủa bằng etanol 70%. Để khô sau đó
hòa trong đệm TE. [5]
2.2.6. Xác định độ tinh sạch của DNA bằng phương pháp đo độ hấp thụ
Đối với nucleic acid do sự tương tác giữa các proton và các electron của
vòng purine và pyrimine mà nó có khả năng hấp thụ lớn nhất ở bước sóng 260
SVTH : Võ Thị Ái Lớp : 10SHLT
Đồ án tốt nghiệp 25 GVHD : TS.Đặng Đức Long
nm trong vùng tử ngoại và hấp thụ cực tiểu ở bước sóng 230 nm – 240 nm và
không hấp thụ ở vùng có bước sóng lớn hơn 310 nm. Dựa vào tính chất này mà
người ta có thể xác định được hàm lượng các nucleic acid bằng phương pháp đo
quang phổ hấp thụ ở bước sóng 260 nm.[5]
Trong mẫu DNA thường có lẫn phenol và protein. Những tạp chất này làm
tăng độ hấp thụ ở bước sóng 280nm vùng tử ngoại. Vì vậy độ tinh sạch của dung
dịch acid nucleic được đánh giá bằng tỉ lệ giữa độ hấp thụ ánh sáng ở hai bước
sóng 260nm và 280nm (A260 và A280). Được tính bằng công thức sau:
Độ sạch acid nucleic = A260/A280
Nếu tỉ lệ này nằm trong khoảng 1,8 đến 2 thì dung dịch DNA được xem là
tinh sạch. Tỉ lệ này thấp hơn 1,8 chứng tỏ mẫu có lẫn tạp chất. Đối với dung dịch
DNA sợi đôi, nếu tỉ lệ quá lớn thì chứng tỏ DNA có chứa trong mẫu bị biến tính
hay bị phân hủy [5].
Mẫu DNA thu được sau khi tách chiết được tiến hành đo độ hấp thụ ở các
bước sóng 260nm và 280nm trên máy đo quang phổ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status