Tiểu luận Nghiệp vụ Ngân hàng trung ương GVHD:
DANH SÁCH NHÓM
SV Thực hiện:
Tiểu luận Nghiệp vụ Ngân hàng trung ương GVHD:
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
SV Thực hiện:
Tiểu luận Nghiệp vụ Ngân hàng trung ương GVHD:
MỤC LỤC
DANH SÁCH NHÓM 2
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN 3
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CHÍNH
SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 3
1.1: KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 3
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ỔN ĐỊNH TỶ GIÁ CỦA NGÂN
HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008-2011 21
3.1. ĐỊNH HƯỚNG CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TRONG TIẾN
TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 21
3.1.1. Chính sách tỷ giá phải được điều chỉnh linh hoạt và theo hướng thị
trường hơn 21
3.1.2. Chính sách tỷ giá Việt Nam điều chỉnh theo hướng tách rời sự neo
buộc vào đồng USD 22
3.2. GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VIỆT NAM 23
3.2.1. Nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng nhà nước trên thị
trường ngoại hối 23
3.2.2. Hoàn thiện thị trường ngoại hối 24
3.2.3. Phá giá nhẹ đồng Việt Nam 26
3.2.4. Thực hiện chính sách đa ngoại tệ 27
3.2.5. Tạo điều kiện để đồng Việt Nam có thể chuyển đổi được 27
3.2.6. Phối hợp đồng bộ chính sách tỷ giá với các chính sách kinh tế vĩ mô
khác 28
KẾT LUẬN 30
SV Thực hiện:
Tiểu luận Nghiệp vụ Ngân hàng trung ương GVHD:
MỞ ĐẦU
Tỷ Giá Hối Đoái luôn gắn liền với các nền kinh tế thị trường mở, do đó trước nhu
cầu hội nhập quốc tế, đòi hỏi chúng ta phải có sự am hiểu thấu đấu về lĩnh vực này,
đặc biệt là những kiến thức hiện đại đang được áp dụng phổ biến trên thế giới. Tỷ Giá
Hối Đoái là một trong những vấn đề phức tạp, nhạy cảm và là một yếu tố vô cùng
quan trọng. Không ít nền kinh tế lâm vào tình trạng khó khăn do Tỷ Giá Hối Đoái gây
ra.
Tỷ Giá Hối Đoái đang tạo ra một sự chú ý đặc biệt đối với các nhà kinh tế, các nhà
chính trị và nó đã trở thành một chủ đề thảo luận sôi nổi và kéo dài không chỉ ở Việt
Nam mà cả trên thế giới. Trong một loạt các chính sách tài chính - tiền tệ, thì chính
cho Việt Nam.
SV Thực hiện: Trang 2
Tiểu luận Nghiệp vụ Ngân hàng trung ương GVHD:
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
1.1: KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
1.1.1: Sự hình thành của tỷ giá hối đoái
Sự hình thành tỷ giá hối đoái là quá trình tác động của yếu tố chủ quan và khách
quan. Nhưng nhìn chung có ba yếu tố tác động đến tỷ giá hối đoái, đó là mối quan hệ
cung cầu về ngoại tệ, độ lệch giữa lãi suất và lạm phát giữa các nước
1.1.2: Ngoại tệ và ngoại hối
1.1.2.1: Ngoại tệ:
Là đồng tiền của nước ngoài hoặc đồng tiền chung của một nhóm nước. Công cụ
thanh toán bằng ngoại tệ: đây là công cụ thanh toán được ghi bằng tiền nước ngoài như
séc, hối phiếu, lệnh phiếu, thẻ ngân hàng, giấy chuyển ngân
1.1.2.2: Ngoại hối:
Là phương tiện thiết yếu trong quan hệ kinh tế, chính trị, văn hoá, giữa các quốc
gia trên thế giới.
Ngoại hối là những ngoại tệ (tiền nước ngoài) vàng tiêu chuẩn quốc tế,các giấy tờ
có giá và các công cụ thanh toán bằng tiền nước ngoài.Trong đó đặc biệt là ngoại tệ có
vai trò,nó là phương tiện dự trữ của cải, phương tiện để mua, để thanh toán và hạch
toán quốc tế.
Trong điều kiện nền kinh tế ngày càng phát triển, quan hệ quốc tế ngày càng mở
rộng thì bất cứ một quốc gia nào cũng không thể tự mình khép kín mọi hoạt động,
cũng không thể phát triển đất nước một cách đơn độc,riêng lẻ đặc biệt giai đoạn hiện
nay,khi nền kinh tế thị trường đang ngày một sôi động,luôn đòi hỏi sự hợp tác,liên
minh giữa các quốc gia. Do vậy việc dự trữ ngoại hối là một trong những mục tiêu
kinh tế có ý nghĩa chiến lược quan trọng,có dự trữ ngoại hối cần thiết tức là nhà nước
đã nắm được trong tay một công cụ quan trọng để thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ
trong nước với thế giới bên ngoài, biết được đồng tiền quốc gia này là bội số hay
ước của số của đồng tiền quốc gia kia.
SV Thực hiện: Trang 4
Tiểu luận Nghiệp vụ Ngân hàng trung ương GVHD:
Qua chức năng so sánh sức mua của các tiền tệ, TGHĐ trở thành công cụ
quan trọng trong việc hoạch định các chính sách kinh tế đối ngoại, định hướng
phát triển các hoạt động ngoại thương, dịch vụ đối ngoại và các ngành kinh tế
khác trong nước.
1.1.5.2. Chức năng điều chỉnh xuất nhập khẩu và thu chi quốc tế:
Thông qua việc ổn định TGHĐ, Nhà nước sẽ có những tác động trực tiếp
đến hoạt động xuất, nhập khẩu theo hướng khuyến khích hoặc hạn chế, từ đó
điều chỉnh quan hệ thu chi quốc tế, cải thiện cán cân thương mại và cán cân
thanh toán quốc tế.
1.1.5.3. Chức năng phân phối:
Nhà nước có thể sử dụng TGHĐ như một công cụ để điều tiết, phân phối lại
thu nhập giữa các lĩnh vực hoạt động kinh tế đối ngoại.
Tóm lại, TGHĐ là một công cụ kinh tế hết sức quan trọng. Do đó, chính
sách tỷ giá đã trở thành một bộ phận cấu thành chính sách tiền tệ quốc gia.
1.2: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
Sau khi chế độ tiền tệ Bretton Woods sụp đổ năm 1971, quan hệ tiền tệ giữa
các nước được “thả nổi”, trong đó, điển hình nhất là cơ chế "tỷ giá thả nổi" của
các đồng tiền quốc gia tư bản chủ nghĩa. Với cơ chế này, hàng ngày trên thị
trường do ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố:
1.2.1: Mức chênh lệch lạm phát của hai nước ảnh hưởng đến sự biến động
của tỷ giá.
Qua đó, có thể nhận thấy tỷ giá biến động do lạm phát phụ thuộc vào mức
chênh lệch lạm phát của hai đồng tiền và nước nào có mức độ lạm phát lớn hơn
thì đồng tiền nước đó sẽ giảm sức mua hơn.
Ngoại hối có giá cả, bởi vì ngoại hối cũng là một loại hàng hoá đặc biệt. Giá
cả của ngoại hối cũng chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố làm cho nó biến động
SV Thực hiện: Trang 6
Tiểu luận Nghiệp vụ Ngân hàng trung ương GVHD:
Là chính sách của NHNN dùng cách thay đổi tỷ suất chiết khấu của ngân
hàng mình để điều chỉnh TGHĐ trên thị trường. Khi TGHĐ lên cao đến mức
nguy hiểm muốn cho tỷ giá hạ xuống thì NHNN nâng cao tỷ suất chiết khấu
lên, do đó lãi suất trên thị trường cũng nâng lên, kết quả là vốn ngắn hạn trên thị
trường thế giới sẽ chạy vào nước mình để thu lãi cao. Lượng vốn chạy vào sẽ
góp phần làm dịu sự căng thẳng của cầu ngoại hối, do đó, TGHĐ sẽ có xu
hướng hạ xuống.
Chính sách chiết khấu cũng chỉ có ảnh hưởng nhất định và có hạn đối với
TGHĐ, bởi vì giữa tỷ giá và lãi suất không có quan hệ nhân quả, lãi suất không
phải là nhân tố duy nhất quyết định sự vận động vốn giữa các nước.
Lãi suất biến động do tác động của quan hệ cung cầu của vốn cho vay. Lãi
suất có thể biến động trong phạm vi tỷ suất lợi nhuận bình quân và trong một
tình hình đặc biệt có thể vượt quá tỷ suất lợi nhuận bình quân. Còn TGHĐ thì do
quan hệ cung cầu về ngoại hối quyết định mà quan hệ này lại do tình hình của
cán cân thanh toán dư thừa hay thiếu hụt quyết định. Như vậy là nhân tố hình
thành lãi suất và tỷ giá không giống nhau, do đó mà biến động của lãi suất
không nhất định đưa TGHĐ biến động theo.
Lãi suất lên cao có thể thu hút vốn ngắn hạn của nước ngoài chạy vào,
nhưng trong tình hình chính trị, kinh tế và tiền tệ trong nước đó không ổn định
thì không nhất thiết thực hiện được, bởi vì đối với vốn nước ngoài, vấn đề lúc đó
đặt ra là sự đảm bảo an toàn cho số vốn chứ không phải là vấn đề thu được lãi
nhiều.
Tuy nhiên, không nên hoàn toàn coi thường chính sách chiết khấu. Nếu tình
hình tiền tệ của các nước đều đại thể như nhau thì phương hướng đầu tư ngắn
hạn vẫn hướng vào những nước có lãi suất cao. Do đó, hiện nay, chính sách
chiết khấu vẫn còn có ý nghĩa của nó.
1.3.2: Chính sách hối đoái
SV Thực hiện: Trang 7
Tiểu luận Nghiệp vụ Ngân hàng trung ương GVHD:
xuất và lưu thông hàng hoá, các nước đã thành lập các quỹ bình ổn hối đoái để
điều tiết tỷ giá của đồng tiền nước mình.
Kinh nghiệm đã chỉ ra rằng, tác dụng của quỹ bình ổn hối đoái rất có hạn, vì
một khi đã bị khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng ngoại hối, lượng dự trữ theo
quỹ đó cũng giảm đi và không đủ sức điều tiết tỷ giá. Quỹ này chỉ có tác dụng
khi hùng hoảng ngoại hối ít nghiêm trọng và có nguồn tín dụng quốc tế hỗ trợ,
ví dụ như tín dụng “SWAP”.
1.3.4. Phá giá tiền tệ.
Trong những điều kiện của cuộc đấu tranh về kinh tế, chính trị của các nước
vì thị trường ngoài nước, cũng như trong những điều kiện mức độ lạm phát rất
khác nhau ở các nước đã phát sinh, vấn đề cần thiết phải xem xét lại tỷ giá tiền
tệ của nước này hoặc của nước khác.
Trong tình trạng nghiêm trọng của khủng hoảng ngoại hối, khi mà sức mua
của tiền tệ giảm sút mạnh và không thể đại biểu cho sức mua danh nghĩa của nó,
khi mà trong suốt thời gian dài TGHĐ biến động mạnh thì vấn đề xác định lại
TGHĐ là điều không thể tránh khỏi, song các nhà nước không thừa nhận điều
đó, họ phá giá tiền tệ lúc nào, mức độ ra sao là phụ thuộc vào mục đích kinh tế
và chính trị của họ. Phá giá tiền tệ đã trở thành một chính sách kinh tế, tài chính
của nhà nước để tác động đến TGHĐ và cán cân thanh toán quốc tế.
Phá giá tiền tệ là sự tụt sức mua của tiền tệ nước mình so với ngoại tệ thấp
hơn sức mua thực tế của nó.
Tác dụng của phá giá tiền tệ đối với nước tiến hành phá giá có thể là:
- Khuyến khích xuất khẩu hàng hoá, hạn chế nhập khẩu hàng hoá, do đó có
tác dụng khôi phục lại sự cân bằng của cán cân ngoại thương, nhờ vậy góp phần
cán cân thanh toán quốc tế.
- Khuyến khích nhập khẩu vốn, kiều hối và hạn chế xuất khẩu vốn ra bên
ngoài cũng như chuyển tiền ra ngoài nước, do đó có tác dụng làm tăng khả năng
cung ngoại hối, giảm nhu cầu về ngoại hối, nhờ đó TGHĐ sẽ giảm xuống.
SV Thực hiện: Trang 9
Nâng giá tiền tệ trong những điều kiện hiện nay thường xảy ra dưới áp lực
của nước khác mà các nước này mong muốn tăng khả năng cạnh tranh hàng hoá
của mình vào nước có cán cân thanh toán và cán cân thương mại dư thừa.
Những nước có nền kinh tế phát triển quá “nóng” như Nhật Bản, muốn làm
“lạnh” nền kinh tế để tránh khủng hoảng cơ cấu thì sẽ dùng biện pháp nâng giá
tiền tệ để giảm xuất khẩu hàng hoá, giảm đầu tư vào trong nước.
Việc nâng giá đồng Yên Nhật Bản cũng tạo điều kiện để Nhật Bản chuyển
vốn đầu tư ra bên ngoài nhằm xây dựng một nước Nhật “kinh tế” trong lòng các
nước khác, nhờ vào đó mà Nhật giữ vững được thị trường bên ngoài, một vấn đề
sống còn đối với Nhật Bản.
SV Thực hiện: Trang 11
Tiểu luận Nghiệp vụ Ngân hàng trung ương GVHD:
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CHÍNH
SÁCH ĐIỀU CHỈNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2008 – 2011
Việc quản lý tỷ giá hối đoái là yếu tố rất quan trọng vì nó sẽ giúp kiểm
soát được lạm phát, ổn định được kinh tế vĩ mô và cán cân thương mại. Và ở
Việt Nam cũng đang rất chú trọng vấn đề này, Việt Nam đã có nhiều thay đổi
trong cơ chế áp dụng chế độ tỷ giá và chế độ tỷ giá hiện nay (2008-2011) là chế
độ neo tỷ giá với biên độ được điều chỉnh.
Ở Việt Nam đồng USD gần như là được mặc định là đồng neo tỷ giá và tỷ
giá được ngân hàng nhà nước(NHNN) công bố là VND/USD. Căn cứ vào tỷ giá
giữa USD và các đồng tiền khác mà các ngân hàng thương mại sẽ xác lập tỷ giá
giữa các ngoại tệ đó với VND. Trong thời gian qua tỷ giá VND/USD đã có
nhiều biến động và nó ảnh hưởng rất nhiều đến các hoạt động kinh tế cũng như
các hoạt động thương mại mà cụ thể ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất nhập
khẩu của Việt Nam.
2.1: GIAI ĐOẠN NĂM 2008 – 2009
Đầu năm 2008, nền kinh tế vừa kết thúc giai đoạn suy thoái và khủng hoảng
bắt đi vào sự ổn định.
còn giữ USD như trước mà chuyển sang mua vàng hoặc giữ tiền đồng để gửi tiết
kiệm hưởng lãi suất cao. Những nhà đầu tư nước ngoài bán USD lấy VND rồi
đem gửi tiết kiệm sẽ thu lại được lợi nhuận hơn. Nhà đầu tư càng được lợi cao
hơn khi lãi suất ở VN đang tăng chóng mặt còn tỉ giá VND/USD thì giảm mạnh.
Kiều bào nước ngoài cũng gửi tiền về cho người thân ở Việt Nam đầu tư mà chủ
yếu là gửi tiết kiệm để hưởng lãi suất. Các NHTM một mặt phải chạy đua lãi
suất với nhau, diễn ra một cuộc cạnh tranh gây gắt nhằm thu hút lượng VND để
đủ tiền mua tín phiếu bắt buộc của NHNN, mặt khác phải cầu cứu NHNN mua
SV Thực hiện: Trang 13
Tiểu luận Nghiệp vụ Ngân hàng trung ương GVHD:
bớt ngoại tệ để khai thông dòng chảy cho đồng USD, giải ngân để lấy tiền đồng
hỗ trợ thanh khoản khi cung vốn cạn dần.
Tỷ giá VND/USD từ tháng 7/2008 có xu hướng tăng nhưng ổn định hơn.
Trong tháng 7/2008 chênh lệch giữa ngoại tệ liên ngân hàng và ngoại tệ trên thị
trường tự do không quá cách biệt. Nguyên nhân là do ngân hàng nhà nước công
bố nguồn dự trữ ngoại tệ nên tâm lý của người dân được cải thiện hơn nên người
dân giảm gim giữ ngoại tệ và đầu cơ ngoại tệ nên tỷ giá lúc này khá ổn định.
Mặc khác lạm phát lúc này đã được kiểm soát mức tăng lạm phát được kiềm
hãm ở mức 1.13% so với tháng trước. Sang các tháng cuối năm biến động
nhưng không nhiều, tỷ giá VND/USD trong 8/2008 biến động nhích lên theo
từng tuần. Cụ thể tỷ giá bình quân liên ngân hàng từ 16.489 đồng lên 16.493
đồng và tăng đến 16.496 đồng trong 2 tuần cuối tháng 8. Tỷ giá trên thị trường
tự do ổn định hơn.
Tháng 9/2008 biến động mạnh nhất vào giũa tháng 9 tỷ giá tăng mạnh từ
16.620 lên 16.740 sau đó giảm xuống còn 16.630 VND/USD vào cuối tháng.
Nguyên nhân là do cuộc khủng hoảng tài chính ở Mĩ, các tập đoàn tài chính của
Mĩ bị phá sản làm cho tỷ giá biến động bất ngờ. Đến tháng 10/2008 tỷ giá tiếp
tục được ổn định và đến cuối tháng tỷ giá lại bất ngờ tăng vọt lên mốc 16.800
VND/USD trong khi tỷ giá liên ngân hàng vẫn ổn định. Tuy nhiên sau đó thì tỷ
giá này cũng giảm nhẹ. Nguyên nhân là do cuối tháng 9 các nhà đầu tư nước
VND tăng, làm cho giá VND tăng. Đồng thời, gói kích cầu cũng làm cho nhu
cầu USD giảm, lãi suất huy động USD giảm, làm cho giá USD giảm. Tuy nhiên
tỷ giá USD/VNĐ lại tiếp tục tăng trong các tháng tiếp theo, tỷ giá niêm yết tại
các ngân hàng vẫn không đổi, nhưng trên thị trường tự do tỷ giá USD/VND có
nơi đã lên đến 18.000đ. Trong hệ thống ngân hàng đã xảy ra tình trạng thiếu
USD, khiến cho nhiều người có nhu cầu không thể đổi được ngoại tệ. Mặt khác
do việc chênh lệch tỷ giá giao dịch giữa ngân hàng và thị trường tự do đã khiến
cho những người dân hay doanh nghiệp có USD không bán cho các ngân hàng
SV Thực hiện: Trang 15
Tiểu luận Nghiệp vụ Ngân hàng trung ương GVHD:
mà bán trên thị trường tự do điều đó buộc NHNN thực hiện nới rộng biên độ tỷ
giá lên +/-5% khiến cho tỷ giá ngoại tệ liên NH đã có đợt tăng đột biến và giao
dịch trên thị trường tự do tiến sát mức 18000đồng/USD.
Trong điều kiện 4 tháng đầu năm 2009 lượng ngoại tệ ròng vào Việt Nam
dương tuy nhiên tỷ giá lại tăng và nguyên nhân chủ yếu vẫn là do các chủ thể
găm giữ ngoại tệ. Trong năm 2009 tỷ giá VND/USD biến động mạnh trên cả thị
trường liên ngân hàng lẫn thị trường tự do. Cụ thể từ tháng 1/2009 đến tháng
3/2009 tỷ giá liên ngân hàng dao động trong khoảng17.450 - 17.700đồng/USD.
Từ tháng 10 đến cuối tháng 11/2009 tỷ giá biến động rất dữ dội, trên thị trường
tự do có lúc đạt đỉnh 20000 đồng/USD và 19750 đồng/USD trên thị trường liên
ngân hàng. Nguyên nhân chủ yếu vẫn là do hiện tượng găm giữ ngoai tệ của
người dân, các doanh nghiệp thì vì sợ tỷ giá sẽ tiếp tục tăng nên mặc dầu chưa
đến kỳ hạn trả nợ nhưng đã mua sẵn ngoại tệ để chuẩn bị cho việc trả nợ. Điều
đó đã làm cho cầu ngoại tệ tăng cao gây ảnh hưởng tỷ giá. Ngoài ra, do tâm lý
bất ổn của người dân và các doanh nghiệp nên họ lựa chon găm giữ ngoại tệ và
đồng thời do chính sách hỗ trợ lãi suất vay tiền đồng thấp cho các doanh nghiệp,
phạm vi và thời gian vay được mở rộng theo chủ trương của chính phủ nên các
doanh nghiệp muốn vay tiền đồng hơn mà không cần bán ngoại tệ để đổi ra
VND nữa. Đây là gói kích cầu mà nhà nước ta thực hiện tuy nhiên đã mang lại
ảnh hưởng lớn đến tỷ giá.
tích cực từ phía NHNN. Ngày 11/02 Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng tỷ giá
bình quân liên ngân hàng từ mức 17.941 VNĐ/USD lên mức 18.544 VND/USD.
Nguyên nhân do Ngân hàng Nhà nước có Quyếtđịnh số 74/QĐ-NHNN giảm
mạnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với cáctổ chức tín dụng. Việc
giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ từ 7% xuống 4%đối với kỳ hạn
dưới 12 tháng, từ 3% xuống 2% đối với kỳ hạn trên 12 tháng đã làm tăng nguồn
vốn khoảng 500 triệu USD (9.000 tỷ đồng) cho các ngân hàng thương mại để
cho vay trên thị trường, ngay sau đó NHNN tiếp tục ban hành thông tư số
SV Thực hiện: Trang 17
Tiểu luận Nghiệp vụ Ngân hàng trung ương GVHD:
03/2010/TT-NHNN quy định mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng USD của tổ chức
kinh tế tại tổ chức tín dụng là 1%/năm. Đây được xem là một “cú hích” mạnh
khi ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các tổ chức kinh tế có tiền gửi bằng
USD, khi lãi suất trước đó được hưởng có từ 4% - 4,5%/năm. Quy định này
được xem là đặt các tổ chức vào thế tự xử, phải tính toán lợi ích và xem xét bán
lại ngoại tệ, chuyển sang VND để có lãi suất tiền gửi cao hơn. Khớp với chính
sách này, các ngân hàng thương mại đồng loạt tăng giá USD mua vào để thu hút
nguồn ngoại tệ tiềm năng này. Chênh lệch lãi suất vay vốn bằng VND và USD
lớn khiến các doanh nghiệp cân nhắc và dịch chuyển sang vay USD. Đến các
tháng cuối năm 2010 thì tỷ giá vẫn tiếp thục tăng mạnh đặc biệt từ tháng 8/2010,
tỷ giá trên thị trường tự do lại tăng cao so với tỷ giá chính thức tại các ngân hàng
khiến NHNN phải tăng tỷ giá trên thị trường liên ngân hàng từ 18544 VND lên
18932 VND (tăng 2.1%). Và các NHTM vẫn tiếp tục áp dụng mức lãi suất kịch
trần. Đến khoảng cuối tháng 9/2010 tỷ vào khoảng 19500đồng/USD. Theo số
liệu từ bài viết của TS. Võ Đại Lược và TS. Lê Xuân Nghĩa trình bày tại hội
thảo “Ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng: Kinh tế Việt Nam năm 2010,
triển vọng năm 2011” ta thấy đồng nhân dân tệ của Trung Quốc định giá thấp
hơn 30% so với USD tuy nhiên VND lại định giá cao hơn 15% so với USD.
Điều đó cho thấy tỷ giá VND/USD được định giá quá cao so với cung cầu thực
tế về ngoại tệ. Cuối năm 2010 thì tỷ giá tiếp tục biến động tăng, các chủ thể vẫn
19/4-28/4/2011. Và 29/4 đã trở thành mốc sự kiện quan trọng khi Sở giao dịch
NHNN bất ngờ tăng mạnh giá mua vào USD và dự trữ ngoại tệ có sự cải thiện
nhanh chóng. Ngày 7/9/2011, 1 tháng sau khi tân Thống đốc tiếp nhận nhiệm vụ
điều hành, Ngân hàng Nhà nước tổ chức hội nghị ngành, và tại đây thông điệp
được đưa ra: nếu điều chỉnh tỷ giá USD/VND thì từ nay (tại ngày 7/9) đến cuối
năm không quá 1%. Với cam kết này NHNN sẽ khó thuyết phục niềm tin của thị
trường về tỷ giá tuy nhiên đến cuối 2011 NHNN vẫn giữ được cam kết. Các
chính sách đưa ra đã từng bước phát huy được hiệu quả, góp phần ổn định tỷ giá
SV Thực hiện: Trang 19
Tiểu luận Nghiệp vụ Ngân hàng trung ương GVHD:
bình quân liên ngân hàng thời gian dài ở mức 20.803 trong cả tháng 11, đến
ngày 14/12 mới điều chỉnh tăng lên 20.813 rồi 20.828. Đối với tỷ giá ở thị
trường chính thức và phi chính thức tính đến giữa tháng 12, tỷ giá ở thị trường
phi chính thức giảm đáng kể so với cuối tháng 11, giao động phổ biến trong
khoảng từ 21.150 đến 21.300; ở thị trường chính thức tỷ giá giao động phổ biến
từ 21.005 đến 21.036.
SV Thực hiện: Trang 20