nghiên cứu khả năng hấp phụ một số ion kim loại nặng trong môi trường nước của than vỏ lạc và thử nghiệm xử lý môi trường - Pdf 22



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ NHƯ QUỲNH
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG HẤP PHỤ
MỘT SỐ ION KIM LOẠI NẶNG
TRONG MÔI TRƯỜNG NƯỚC CỦA THAN VỎ LẠC
VÀ THỬ NGHIỆM XỬ LÝ MÔI TRƯỜNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ: HÓA HỌC PHÂN TÍCH

THÁI NGUYÊN - 2010

Thái Nguyên, năm 2010 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được hoàn thành tại phòng thí nghiệm Hoá lý, tổ Hoá lý,
khoa Hoá học – trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên.
Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy giáo –
PGS.TS. Lê Hữu Thiềng, người đã giao đề tài, tận tình hướng dẫn chỉ
bảo, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Em xin gửi lời cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Hoá học, đặc
biệt các thầy cô trong tổ bộ môn Hoá phân tích đã tạo điều kiện cho em
hoàn thành luận văn này.
Tôi xin cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè, người thân đã quan tâm
động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn.

Thái Nguyên, tháng 08 năm 2010.
Học viên Nguyễn Thị Như Quỳnh


vào pH.
36
Hình 6:
Sự phụ thuộc của dung lượng hấp phụ vào thời gian hấp phụ.
38
Hình 7:
Sự phụ thuộc của dung lượng hấp phụ vào khối lượng TVL.
40
Hình 8:
Đường đẳng nhiệt hấp phụ Langmuir đối với Cu
2+
của TVL.
42
Hình 9:
Sự phụ thuộc của C
cb
/q vào C
cb
đối với Cu
2+
của TVL.
42
Hình 10:
Đường đẳng nhiệt hấp phụ Langmuir đối với Fe
3+
của TVL.
42
Hình 11:
Sự phụ thuộc của C
cb

đối với Cu
2+
của than HG/T3491-1999.
45
Hình 16:
Đường đẳng nhiệt hấp phụ Langmuir đối với Fe
3+
của than HG/T3491-1999.
45
Hình 17:
Sự phụ thuộc của C
cb
/q vào C
cb
đối với Fe
3+
của than HG/T3491-1999.
45
Hình 18:
Đường đẳng nhiệt hấp phụ Langmuir đối với Ni
2+
của than HG/T3491-1999.
45
Hình 19:
Sự phụ thuộc của C
cb
/q vào C
cb
đối với Ni
2+

Tiêu chuẩn của Bộ Tài nguyên môi trường về giới hạn hàm
lượng sắt, đồng, niken trong môi trường nước.
5
Bảng 3:
Các điều kiện đo phổ F-AAS của Fe, Cu, Ni.
27
Bảng 4:
Sự phụ thuộc của mật độ quang vào nồng độ Cu.
28
Bảng 5:
Sự phụ thuộc của mật độ quang vào nồng độ Fe.
29
Bảng 6:
Sự phụ thuộc của mật độ quang vào nồng độ Ni.
30
Bảng 7:
Ảnh hưởng của pH đến dung lượng hấp phụ Cu
2+
, Fe
3+
, Ni
2+
của TVL.
34
Bảng 8:
Ảnh hưởng của thời gian hấp phụ đến dung lượng hấp phụ của TVL.
37
Bảng 9:
Ảnh hưởng của khối lượng TVL đến dung lượng hấp phụ của TVL.
39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
MỞ ĐẦU

Nước sạch là một yếu tố không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt của con
người và sinh vật. Sự ô nhiễm nguồn nước bởi các kim loại nặng như: Cd, Cu,
Fe, Pb, Ni và Zn là vấn đề đang được quan tâm trên toàn thế giới. Kim loại đi
vào hệ sinh thái hiện nay chủ yếu là do hoạt động khai thác mỏ, tinh chế quặng,
xử lý bùn, tro từ lò đốt, mạ kim loại, hay sản xuất thiết bị điện, sơn, hợp kim…
Sự có mặt của lượng lớn ion kim loại nặng trở thành mối đe doạ do độc tính và
xu hướng tích luỹ sinh học trong các mô sống, gây ra nhiều bệnh và các rối loạn
trong suốt chuỗi thức ăn. Mục tiêu chính hiện nay là nghiên cứu và áp dụng
phương pháp thích hợp và để phát triển các kỹ thuật phù hợp hoặc để ngăn ngừa
ô nhiễm hoặc làm giảm nồng độ các kim loại nặng trong môi trường nước xuống
mức cho phép là việc làm cần thiết hiện nay.
Loại bỏ kim loại theo phương pháp truyền thống như: phương pháp trao
đổi ion, phương pháp kết tủa, phương pháp chiết, thẩm thấu ngược… nhưng hầu
hết các phương pháp này không hiệu quả, không kinh tế khi kim loại ở nồng độ
cao, rất tốn kém và thường kèm theo sự ô nhiễm thứ cấp. Những năm gần đây,
việc sử dụng than hoạt tính để loại bỏ kim loại trong môi trường nước khá phổ
biến và có thể dễ dàng tái sử dụng. Sau khi liên tục sử dụng, than hoạt tính có thể
không để lại bất kỳ tác động nào đến môi trường. Tuy nhiên, than hoạt tính đang
sử dụng trên thị trường được chế tạo từ các nguyên liệu đắt tiền khó có thể tái tạo

, Ni
2+
và Zn
2+

tốt hơn so với than hoạt tính hiện có trên thị trường.

Xuất phát từ thực tế đó chúng tôi thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu khả năng
hấp phụ một số ion kim loại nặng trong môi trường nước của than vỏ lạc và
thử nghiệm xử lý môi trường”.
Thực hiện đề tài này chúng tôi tập trung nghiên cứu về:
- Chế tạo vật liệu hấp phụ than từ vỏ lạc.
- Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hấp phụ của TVL.
- So sánh khả năng hấp phụ của TVL với than hoạt tính hiện có trên thị trường.
- Khảo sát khả năng tách loại và thu hồi ion kim loại nặng bằng TVL theo
phương pháp hấp phụ tĩnh.
- Sử dụng TVL xử lý mẫu nước thải chứa Ni
2+
. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
các bệnh viện và cơ sở y tế lớn chưa có hệ thống xử lý nước thải; một lượng rác
thải rắn lớn trong thành phố không thu gom hết được… là những nguồn quan
trọng gây ra ô nhiễm nguồn nước. Hiện nay, mức độ ô nhiễm trong các kênh,
sông, hồ ở các thành phố lớn là rất nặng [32].
1.1.2. Các nguồn gây ô nhiễm nguồn nước do kim loại nặng
Kim loại nặng như Hg, Cd, Pb, As, Sb, Cr, Cu, Zn, Mn, Fe thường không
tham gia hoặc ít tham gia vào quá trình sinh hoá của các sinh vật và thường tích luỹ
trong cơ thể chúng. Vì vậy, chúng là các nguyên tố độc hại với sinh vật. Hiện tượng
nước bị ô nhiễm kim loại nặng thường gặp trong các lưu vực nước gần các khu công
nghiệp, các thành phố lớn và khu vực khai thác khoáng sản. Ô nhiễm kim loại nặng
biểu hiện ở nồng độ cao của các kim loại nặng trong nước. Trong một số trường hợp,
xuất hiện hiện tượng chết hàng loạt cá và thuỷ sinh vật. Nguyên nhân chủ yếu gây ô
nhiễm kim loại nặng là quá trình đổ vào môi trường nước nước thải công nghiệp và
nước thải độc hại không xử lý hoặc xử lý chưa được triệt để. Ô nhiễm nước bởi kim
loại nặng có tác động tiêu cực tới môi trường sống của sinh vật và con người. Kim
loại nặng tích luỹ theo chuỗi thức ăn thâm nhập vào cơ thể người. Nước mặt bị ô
nhiễm sẽ lan truyền các chất ô nhiễm vào nước ngầm, vào đất và các thành phần môi
trường liên quan khác.
Thực tế có rất nhiều nguồn gây ô nhiểm môi trường nước. Nước bị ô
nhiễm kim loại nặng chủ yếu là do việc khai thác mỏ. Do nhu cầu sử dụng của
con người ngày càng tăng làm cho việc khai thác kim loại cũng tăng lên. Tuy
nhiên, việc xử lý nguồn nước thải từ việc khai thác mỏ chưa được quan tâm đúng
mức càng làm cho kim loại nặng phát tán vào môi trường.
Ngoài ra, việc gây ô nhiễm môi trường bởi các ion kim loại nặng còn ở
việc sản xuất quặng và sử dụng thành phẩm. Quá trình sản xuất này cũng làm
)
mg/l
0,30
3.
Hàm lượng Niken
mg/l
0,02

Bảng 2: Tiêu chuẩn của Bộ Tài nguyên môi trường về giới hạn hàm lượng sắt,
đồng, niken trong môi trường nước.
STT
Tên chỉ tiêu
Đơn vị
Giá trị giới hạn tối đa cho phép
Chất lượng
nước ngầm
Chất lượng
nước mặt
Nước thải
công nghiệp
1
Đồng
mg/l
1,0
0,1
2,0
2
Niken
mg/l
-

da, thuốc nhuộm, y học…[21, 23].
* Sắt (Fe)
Sắt là một trong những thành phần chính của thạch quyển (khoảng 5%).
Sắt thường được phát hiện trong chất thải sinh hoạt, đặc biệt ở các thành phố có
các nhà máy sản xuất sắt thép. Sắt dễ dàng tạo phức sunfat trong các lớp trầm
tích và trên nước mặt.
Sự có mặt của sắt trong nước uống làm thay đổi mùi vị. Các mùi vị của sắt
có trong nước uống có thể dễ dàng phát hiện ngay cả ở nồng độ thấp khoảng 1,8
mg/l. Có rất nhiều vấn đề mà kết quả là do độc tính của sắt. Chúng bao gồm chán
ăn, chứng tiểu ít, tiêu chảy, hạ thân nhiệt, thậm trí tử vong. Thêm vào đó, bệnh
nhân có thể bị tắc nghẽn mạch máu của đường tiêu hoá, gan, thận, não, tim, trên
thận và tuyến ức. Với ngộ độc sắt cấp tính, phần lớn xảy ra với đường tiêu hoá
và gan. Kết quả là lưu trữ sắt bệnh, gan bị xơ gan [23, 30].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
* Niken (Ni)
Niken là nguyên tố vi lượng đối với gia súc, thực vật, vi sinh vật. Niken có
trong huyết tương người.
Niken được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp luyện kim, công
nghiệp mạ điện, sản xuất thuỷ tinh, gốm sứ… Niken có trong nước thải của mạ
điện và trong không khí các khu thủ công nghiệp.
Nhiễm niken gây ngộ độc dẫn đến chóng mặt, nhức đầu, buồn nôn và nôn mửa,
đau ngực, ho khan và khó thở, thở nhanh và chứng xanh da, làm tăng khả năng mắc

mạnh hoặc nếu không có các tương tác đặc thù khác thì lực khuếch tán chiếm ưu
thế. Lực khuếch tán giảm nhanh theo khoảng cách cho nên lớp hấp phụ thứ nhất
được giữ chặt trên bề mặt chất hấp phụ, lớp thứ 2, lớp thứ 3 được giữ yếu hơn. Khi
khoảng cách giữa hai phân tử giảm đến một mức độ nhất định sẽ xuất hiện lực đẩy.
Một đặc điểm khác của hấp phụ vật lý là phân tử không bị hấp phụ không phải chỉ
tương tác với một nguyên tử, mà với nhiều nguyên tử trên bề mặt chất hấp phụ, ở
đây tương tác tổng cộng của phân tử bị hấp phụ với toàn bộ bề mặt gây ra bởi lực
khuếch tán bao giờ cũng lớn hơn so với một nguyên tử của bề mặt.
Trong một hệ hấp phụ, ở trạng thái cân bằng, năng lượng tương tác được
mô tả bằng phương trình Lennard-Jones:

6 12
i i r
E A r B r E

   

(1.1)
Trong đó:
E: năng lượng tương tác ở trạng thái cân bằng.
A: hằng số đặc trưng cho lực hút.
B: hằng số đặc trưng cho lực đẩy.
r
i
: khoảng cách giữa phân tử chất bị hấp phụ và phân tử i của bề mặt.
E
r
: các dạng năng lượng khác.
Nhiệt lượng toả ra khi hấp phụ vật lý vào khoảng 2 ÷ 6 kcal/mol.
Trong quá trình hấp phụ vật lý không đòi hỏi sự hoạt hoá phân tử, do đó

1.2.2. Cân bằng hấp phụ - Một số phương trình đẳng nhiệt hấp phụ
Đối với một hệ hấp phụ xác định, dung lượng hấp phụ là một hàm của
nhiệt độ và áp suất hoặc nồng độ chất bị hấp phụ trong pha thể tích:
a = f(T, p) hoặc a = f(T, C) (1.2) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
Ở một nhiệt độ xác định, dung lượng hấp phụ phụ thuộc vào áp suất (nồng độ):
a = f
t
(p) hoặc a = f
t
(C) (1.3)
gọi là đường hấp phụ đẳng nhiệt. Mối liên hệ a = f
t
(p) hoặc a = f
t
(C) được mô tả qua
các phương trình đẳng nhiệt hấp phụ Langmuir, Henry, Freundlich…[6, 9, 13].
Dung lượng hấp phụ cân bằng là khối lượng chất bị hấp phụ trên một đơn vị khối
lượng chất hấp phụ ở trạng thái cân bằng dưới các điều kiện nồng độ và nhiệt độ cho trước.
Dung lượng hấp phụ được tính theo công thức:




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
Phương trình đẳng nhiệt Langmuir được xây dựng cho hệ hấp phụ rắn -
lỏng (trong môi trường) có dạng:

cb
cb
m
Cb
Cb
q
q
.1
.



(1.5)
Trong đó:
q : lượng chất bị hấp phụ ở trạng thái cân bằng (mg/g).
q
m
: lượng chất bị hấp phụ bão hoà đơn lớp (mg/g).
θ : độ che phủ.
C
cb
: nồng độ chất bị hấp phụ ở trạng thái cân bằng hấp phụ (mg/l).
b : hằng số Langmuir.
Mức độ che phủ bề mặt là tỉ lệ của lượng chất bị hấp phụ tại trạng thái cân bằng

C
.
11

(1.6) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
Xây dựng đồ thị biểu diễn sự phụ của C
cb
/q vào C
cb
sẽ xác định được các
hằng số b, q
m
trong phương trình.
Phương trình hấp phụ đẳng nhiệt Freundlich
Phương trình hấp phụ đẳng nhiệt Freundlich được xây dựng trên cơ sở kinh
nghiệm, có xét đến tính không đồng nhất của bề mặt chất bị hấp phụ và sự phân bố
của các tâm hoạt động và năng lượng của chúng theo quy luật hàm số mũ:

1/
.
n
f


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
Phương trình này chỉ áp dụng trong vùng áp suất hoặc nồng độ không cao.
1.3. Chất hấp phụ than
Than là chất có khả năng hấp phụ tốt và được sử dụng rộng rãi. Than có
thành phân hoá học chủ yếu là cacbon, có thể dùng than ở dạng hạt hoặc bột để làm
chất hấp phụ. Tính chất của than có liên quan chặt chẽ với nguồn nguyên liệu ban
đầu cũng như quá trình hoạt hoá chúng. Nguồn nguyên liệu dùng để sản xuất than
rất phong phú và đa dạng, các chất có nguồn gốc xenlulozơ như: vỏ trấu, vỏ lạc, bã
mía, lõi ngô…các nguyên liệu chứa cacbon như: than đá, than bùn…
Phương pháp chế tạo than thường được tiến hành theo hai giai đoạn [9]:
* Than hoá: thường được tiến hành ở nhiệt độ 400 – 500
o
C. Quá trình này nhiệt
độ làm bay hơi và phân huỷ các thành phần không phải là cacbon. Trong quá trình này
cần khống chế nhiệt độ và oxi để sự cháy và phân huỷ mạch cacbon là ít nhất.
* Hoạt hoá than: được thực hiện bằng cách nung than trong môi trường hoá học ở
một nhiệt độ xác định. Trong quá trình này nhựa, các chất hữu cơ và một phần than sẽ bị
khí hoá bớt để tạo ra độ xốp cần thiết cho than. Bề mặt riêng của than hoạt tính dao động
trong khoảng 300 – 1000 m
2
/g, đường kính lỗ nhỏ từ 30 – 90 Å. Thường chọn nhiệt độ
cho quá trình này là 750 – 950
o
C [9].
Ngoài ra, có thể sử dụng axit sunfuric đặc tác nhân hoá học để chế tạo than. Axit
sunfuric đặc hấp thụ mạnh hơi nước. Nó có thể lấy nước của nhiều hợp chất hữu cơ như
xenlulozơ, đường và biến chúng thành cacbon gọi là sự than hoá [8].

của các mao quản. Song có bốn loại mao quản được thừa nhận là: mao quản hình
trụ, hình cầu, hình khe, hình chai.
Phân bố kích thước của mao quản hay phân bố lỗ xốp dựa trên những giả
thuyết về hình dáng mao quản. Chúng được xác định theo sự biến đổi của thể
tích hay diện tích bề mặt của mao quản với kích thước mao quản.
Trong quá trình hấp phụ, yếu tố quan trọng đầu tiên để đánh giá khả năng
hấp phụ của than là diện tích bề mặt riêng. Thường thì diện tích bề mặt càng lớn thì
khả năng hấp phụ của chất hấp phụ càng cao., do có nhiều trung tâm hấp phụ trên
bề mặt. Kích thước của mao quản và sự phân bố kích thước cũng là những yếu tố
quan trọng để chọn các loại than cho phù hợp với mục đích sử dụng. Theo quy định
của IUPAC, có thể chia mao quản thành ba loại dựa vào kích thước [13].
Mao quản lớn: đường kính mao quản trung bình d > 50 nm.
Mao quản trung bình: đường kính mao quản trung bình d < 50 nm.
Mao quản nhỏ: đường kính mao quản trung bình d < 2nm.
1.3.2. Đặc tính hoá học bề mặt của than
Khả năng hấp phụ của than không chỉ phụ thuộc vào cấu trúc xốp của
than, mà còn phụ thuộc vào đặc tính hoá học bề mặt than. Ngoài thành phần
chính là cacbon, than hoạt tính còn chứa các nguyên tố khác (chiếm 5 – 10%
khối lượng than). Các nhóm chức chứa oxi trên bề mặt than gọi là các nhóm
chức bề mặt. Trong quá trình hoạt hoá, tác nhân hoạt hoá phá huỷ một phần Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
mạng cacbon tinh thể tạo nên độ xốp. Các nguyên tử cacbon trên bề mặt chưa bị
bão hoà giá trị tạo ra các gốc tự do. Các gốc tự do là trung tâm tạo ra các nhóm

16
1.4. Hấp phụ trong môi trường nước
1.4.1. Đặc điểm chung của hấp phụ trong môi trường nước
Hấp phụ trong môi trường nước thường diễn ra khá phức tạp. Vì trong hệ
có ít nhất ba thành phần gây tương tác là nước - chất hấp phụ - chất bị hấp phụ.
Hấp phụ trong môi trường nước (có sức căng bề mặt lớn) ưu việt hơn so với
dung môi hữu cơ (có sức căng bề mặt nhỏ).
Do sự có mặt của dung môi nên trong hệ sẽ xảy ra quá trình hấp phụ cạnh
tranh và có chọn lọc giữa chất bị hấp phụ và dung môi. Thông thường, nồng độ
chất tan trong dung dịch là nhỏ nên khi tiếp xúc với chất hấp phụ, các phần tử
nước lập tức chiếm chỗ trên toàn bộ bề mặt chất hấp phụ. Các chất bị hấp phụ
chỉ có thể đẩy phân tử nước để chiếm chỗ trên bề mặt chất hấp phụ. Điều này
xảy ra khi tương tác giữa chất bị hấp phụ và chất hấp phụ mạnh hơn tương tác
giữa chất hấp phụ và nước.
Khả năng hấp phụ của chất hấp phụ đối với chất bị hấp phụ còn phụ thuộc
vào tính tương đồng về độ phân cực giữa chúng. Chất hấp phụ và chất bị hấp phụ
đều phân cực hoặc không phân cực thì sự hấp phụ xảy ra tốt hơn.
Hấp phụ trong môi trường nước còn bị ảnh hưởng nhiều bởi pH của
môi trường. Sự biến đổi pH dẫn đến sự biến đổi bản chất của chất bị hấp phụ.
Các chất có tính axit yếu, bazơ yếu hoặc lưỡng tính sẽ bị phân ly, tích điện âm,
dương hoặc trung hoà. Ngoài ra sự biến đổi pH cũng ảnh hưởng đến các nhóm
chức bề mặt của chất hấp phụ do sự phân ly các nhóm chức [1, 2].
Tính chọn lọc và cạnh tranh của quá trình hấp phụ trong môi trường nước
bị ảnh hưởng bởi tính tương đồng của chất hấp phụ và chất bị hấp phụ. Một quy
luật thường gặp là các chất phân cực dễ hấp phụ trên bề mặt phân cực, còn các
chất không phân cực dễ hấp phụ trên bề mặt không phân cực. Tính chọn lọc và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

18
tử tự do của các nguyên tố cần phân tích mẫu để chúng có khả năng hấp thụ bức xạ đơn
sắc. Đây là giai đoạn quan trọng nhất và quyết định kết quả của phép đo F - AAS.
3. Chọn nguồn phát tia sáng có bước sóng phù hợp với nguyên tố phân
tích và chiếu vào đám hơi nguyên tử đó. Phổ hấp thụ sẽ xuất hiện.
4. Nhờ một hệ thống máy quang phổ, thu toàn bộ chùm sáng sau khi đi
qua môi trường hấp thụ, phân li chúng thành phổ và chọn một vạch phổ cần đo
của nguyên tố phân tích hướng vào khe đo để đo cường độ của nó. trong một
giới hạn nhất định về nồng độ, giá trị cường độ này phụ thuộc tuyến tính vào
nồng độ của nguyên tố cần phân tích theo phương trình:
A
λ
= k.C.L (1.9)
Trong đó:
A
λ
: Cường độ vạch phổ hấp thụ.
k : hằng số thực nghiệm.
L : chiều dài môi trường hấp thụ.
C : nồng độ nguyên tố cần xác định trong mẫu đo phổ.
5. Thu và ghi kết quả đo cường độ vạch phổ hấp thụ [7, 11].
1.5.2. Điều kiện nguyên tử hoá mẫu
Nguyên tử hoá mẫu là công việc quan trọng nhất của phép đo phổ hấp thụ
nguyên tử. Mục đích của quá trình này là tạo ra đám hơi nguyên tử tự do từ mẫu



(1.10)
Trong đó:
I, I
o
: cường độ bức xạ điện từ trước và sau khi hấp phụ.
K
υ
: hệ số hấp thụ nguyên tử của vạch phổ tần số υ.
L : độ dày lớp hơi nguyên tử.
N: số nguyên tử trong môi trường hấp thụ.
Gọi A
λ
là mật độ quang hay độ tắt nguyên tử của chùm tia sáng cường độ
I
o
sau khi qua môi trường hấp thụ. A
λ
được tính theo công thức:

LNK
I
I
A
o
303,2log


(1.11)

mà với mọi giá trị:
C > C
o
thì 0 < b < 1, lúc này A
λ
không phụ thuộc tuyến tính C.
C < C
o
thì b = 1, lúc này A
λ
phụ

thuộc tuyến tính C theo phương trình (1.17)
là sự kết hợp của (1.15) và (1.16):
A
λ =
a.C
b
( với a = K.k) (1.17)
Trong đó a là hằng số thực nghiệm [7, 11].
1.5.4. Phương pháp đường chuẩn
Để xác định nồng độ của nguyên tố trong mẫu phân tích theo phép đo phổ
hấp thụ nguyên tử, ta có thể tiến hành theo phương pháp đường chuẩn hoặc
phương pháp thêm tiêu chuẩn. Thực hiện đề tài này, chúng tôi tiến hành theo
phương pháp đường chuẩn.
Cơ sở của phương pháp: Dựa trên sự phụ thuộc của cường độ vạch phổ hấp thụ
(hay độ hấp thụ nguyên tử) vào vùng nồng độ nhỏ của cấu tử cần xác định trong mẫu
theo phương trình A
λ
=a.C


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status