Chiến lược phát triển sản phẩm của công ty sơn Top A - Pdf 22

LỜI NÓI ĐẦU
Chiến lược sản phẩm là một trong bốn chiến lược quan trọng mà bất
cứ công ty nào khi tham gia vào một thị trường nào đều phải thực hiện và
phải thực hiện tốt. Việc thực hiện tốt chiến lược sản phẩm là nền tảng thúc
đẩy cho các chiến lược còn lại phát huy tốt tác dụng của nó.
Với sản phẩm sơn, chất luợng của giá trị sử dụng của nó là cái mà
người tiêu dùng thật sự mong đợi từ phía nhà sản xuất và đó cũng là cái mà
công ty Sơn TopA đã đáp ứng rất tốt trong thời gian qua là điều tự hào của
thành phố cảng lớn nhất miền Bắc.
Trong thời gian thực tập tại công ty Sơn TopA với sự nhiệt tình giúp đỡ chỉ
bảo của nhân viên trong phòng marketing và cô giáo hướng dẫn Nguyễn Thị
Tâm cùng với những tài liệu thu thập được trong thời gian thực tập em xin
chọn đề tài là “Chiến lược phát triển sản phẩm của công ty Sơn TopA”.
1
PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM
1.Sản phẩm và các mức độ của sản phẩm
1.1. Sản phẩm.
Ta định nghĩa sản phẩm như sau:
Sản phẩm là mọi thứ mà ta có thể chào bán trên thị truờng để chú ý,
mua, sử dụng hay tiêu dùng, có thể thoả mãn được một mong muốn hay nhu
cầu.
Những sản phẩm được mua bán trên thị truờng bao
gồm sản phẩm vật chất, dịch vụ, địa điểm, tổ chức và ý
tưởng
1.2. Các cấp độ của sản phẩm.
Năm mức độ của sản phẩm của mình mà nhà kinh doanh cần suy nghĩ
đầy đủ về năm mức độ của sản phẩm. Mức cơ bản nhất là ích lợi cốt lõi,
chính là dịch vụ hay ích lợi cơ bản mà khách hàng thực sự mua.
Mức độ thứ hai là sản phẩm chung: Là dạng cơ bản của sản phẩm đó
Mức độ thứ ba là sản phẩm mong đợi: Tức là tập hợp những thuộc

gần đây của một số khách sạn thượng hạng mà ở khách có thể có nhiều
phòng ở là một sự đổi mới của sản phẩm khách sạn truyền thống.
1.3. Hệ thống thứ bậc của sản phẩm
Mỗi sản phẩm đều có môt quan hệ nhất định với các
sản phẩm khác. Các hệ thống thứ bậc sản phẩm trải ra từ
những nhu cầu cơ bản đến những mặt hàng cụ thể thoả mãn
những nhu cầu đó. Ta có thể xác định bảy thứ bậc của sản
3
phẩm. ở đây các bậc đó được định nghĩa và minh họa cho
trường hợp bảo hiểm nhân thọ:
1. Họ nhu cầu: Nhu cầu cốt lõi là nền tảng của họ sản phẩm, ví dụ: an toàn
2. Họ sản phẩm: Tất cả các lớp sản phẩm đều có thể thoả mãn một nhu cầu
cốt lõi với hiệu quả vừa phải, ví dụ tiền tiết kiệm và thu nhập
3. Lớp sản phẩm: Một nhóm sản phẩm trong một họ sản phẩm được thừa
nhận là có một quan hệ gắn bó nhất định về mặt chức năng,ví dụ các phương
tiện tài chính
4. Loại sản phẩm: Một nhóm sản phẩm trong cùng một lớp có quan hệ chặt
chẽ với nhau vì chúng hoạt động giống nhau hay cùng được bán cho cùng
một nhóm khách hàng hoặc được bán tại cùng một kiểu thị trường hay rơi
vào cùng một thàng giá,ví dụ: bảo hiểm nhân thọ
5. Kiểu sản phẩm: Những mặt hàng trong cùng một loại sản phẩm có một
trong số những dạng có thể có của sản phẩm,ví dụ: tuổi thọ
6. Nhãn hiệu: Tên gắn liền với một hay nhiều mặt hàng trong cùng một loại
sản phẩm, được sử dụng để nhận biết nguồn gốc hay tính chất của cùng một
mặt hàng,ví dụ: Frudential
7. Mặt hàng: một đơn vị riêng biệt trong cùng một nhãn hay loại sản phẩm
có thể phân biệt được theo kích thước, giá cả, vẻ ngoài hay thuộc tính nào
đó. Mặt hàng được gọi là một đơn vị lưu kho hay một phương án sản
phẩm,ví dụ: bảo hiểm nhân thọ có thể gia hạn được của Frudential
Một ví dụ khác: Nhu cầu” hy vọng” làm xuất hiện một họ sản phẩm

cạnh tranh và có những hình ảnh tích cực về sản phẩm của
mình trong tâm trí của khách hàng, yêu cầu này là cội
5
nguồn của chiến lược định vị sản phẩm và là công việc
cuối cùng và cũng là công việc khó khăn nhất mà doanh
nghiệp phải thực hiện và phần thắng luôn là những người
biết tìm cho mình một chỗ đứng phù hợp và có chiến lược
định vị tốt.
 Mối quan hệ giữa chiến lược sản phẩm và các chiến
lược khác.
Bốn chiến lược này có quan hệ mật thiết với nhau
chúng có quan hệ tương hỗ cho nhau. Ngày nay không có
một doanh nghiệp nào có thể tách rời và bớt đi được một
trong bốn chiến lược này. Nếu bốn chiến lược này được
thực hiện tốt thì nó là tiền đề cho doanh nghiệp có một
chiến lược định vị sản phẩm tốt.
2. Những quyết định về danh mục sản phẩm
Trước tiên chúng ta hãy xem xét những quyết định về danh mục sản
phẩm
Môt danh mục sản phẩm là môt tập hợp tất cả những loại sản phẩm và
mặt hàng mà môt người bán cụ thể đưa ra bán để bán cho những người mua.
Ví dụ, danh mục sản phẩm của Kodak bao gồm hai loại chính: các sản
phẩm thông tin liên lạc và máy tính. Michelin có ba loại sản phẩm: vỏ xe,
bản đồ và dịch vụ xếp loại nhà hàng.
Danh mục sản phẩm của công ty sẽ có chiều dài, chiều rộng, chiều sâu
và mật độ nhất định
Chiều rộng: Thể hiện công ty có bao nhiêu loại sản phẩm khác nhau
Chiều dài: Là tổng số mặt hàng trong danh mục sản phẩm
Chiều sâu: Thể hiện bao nhiêu phương án của mỗi sản phẩm trong loại
6

- Doanh số bán và lợi nhuận của một loại sản phẩm.
Người quản lý loại sản phẩm cần biết doanh số
bán và lợi nhuận của từng mặt hàng trong loại sản phẩm mà
mình phụ trách và tình trạng của loại sản phẩm đó so với
các loại sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.
- Đặc điểm thị trường của loại sản phẩm.
Người quản lý sản phẩm cũng cần kiểm tra lại
xem loại sản phẩm của mình có vị trí như thế nào so với
loại sản phẩm của đối thủ cạnh tranh
 Chiều dài của loại sản phẩm
Một vấn đề được đặt ra đối với người quản lý loại sản phẩm là chiều
dài tối ưu của loại sản phẩm. Một loại sản phẩm được xem là có chiều dài
quá ngắn, nếu người quản lý có thể tăng lợi nhuận bằng cách bổ sung thêm
các mặt hàng. Một loại sản phẩm được coi là chiều dài quá lớn nếu người
quản lý loại sản phẩm có thể tăng lợi nhuận bằng cách loại bớt một số mặt
hàng.
Vấn đề chiều dài của loại sản phẩm chịu ảnh hưởng của những mục
tiêu của công ty. Những công ty đang tìm kiếm thị phần lớn và sự tăng
trưởng thị trường sẽ đưa ra những loại sản phẩm có chiều dài lớn hơn . Họ ít
quan tâm đến trường hợp có một số mặt hàng không đóng góp dược lợi
nhuận. Những công ty đang chú trọng đến khả năng sinh lời cao sẽ dưa ra
8
những loại sản phẩm có chiều dài ngắn hơn và chỉ gồm những mặt hàng
được chọn lọc kỹ.
Các loại sản phẩm đều có xu hướng phát triển dài thêm sau một thời
gian. Năng lực sản xuất dư thừa gây sức ép đối với những người quản lý sản
phẩm để phát triển thêm những mặt hàng mới. Lực lượng bán hàng và
những người phân phối cũng gây sức ép để có dược một loại sản phẩm đầy
đủ hơn để thoả mãn các khách hàng của mình, người quản lý sản phẩm sẽ bổ
sung thêm các mặt hàng để tăng doanh số bán và lợi nhuận.

Cũng có khi mặt hàng ở đầu thấp có thể kích động các đối thủ cạnh
tranh trả đũa bằng cách chuyển dịch về phía đầu trên. Hay các đại lý của các
công ty có thẻ chưua sãn sàng hoặc không đủ khả năng kinh doanh những
sản phẩm ở dầu dưới, bởi vì chúng có khả năng sinh lời nhỏ hơn hay làm lu
mờ hình ảnh của họ.
* Kéo dài lên phía trên
Những công ty ở đầu dưới của thị trường có thể suy tính đến việc xâm
nhập đầu trên của thị trường . Họ có thể bị hấp dẫn bởi tỉ lệ tưng trưởng cao
hơn, tiền lãi cao hơn hay chỉ là cơ may để tự xác lập mình như một người
sản xuất đủ một loại sản phẩm.
Quyết định kéo dài lên phía trên có thể chứa đựng nhiều rủi ro. đó
không chi là vì các đối thủ cạnh tranh ở đầu trên đã cố thủ vững chắc, mà
10
còn là vì họ có thể phản công bằng cách tiến xuống phía dưới. Các khách
hàng tương lai có thể không tin rằng những công ty ở dầu dưới lại có thể sản
xuất những sản phẩm chất lượng cao. Cuối cùng là những đại diện bán hàng
của công ty và những người phân phối có thể không đủ tài năng hay không
được huấn luyện kỹ để phục vụ đầu trên của thị trường.
* Kéo dài cả hai phía
Những công ty phục vụ phần giữa cảu thị trường có thể quyết định
kéo dài loại sản phẩm của minh về cả hai phía.
* Quyết định bổ sung loại sản phẩm.
Một số loại sản phẩm có thể được kéo dài bằng cách bổ sung thêm mặt
hàng mới trong phạm vi hiện tại của loại đó. Có một số động lực đã thúc đẩy
việc bổ sung loại sản phẩm: tìm kiếm lợi nhuận tăng thêm, cố gắng thoả mãn
những đại lý đã than phiền về doanh số thiệt hại do loại sản phẩm thiếu một
số mặt hàng, cố gắng thỏi mãn những đại lý đã than phiền về doanh số thiệt
hại do loại sản phẩm thiếu một số mặt hàng, cố gắng sử dụng năng lực dư
thừa có gắng trở thành công ty luôn luôn dẫn đầu và cố gắng lấp kín những
lỗ hổng dể ngăn ngừa các đối thủ cạnh tranh.

và chi phí. Thứ hai là sản phẩm cần thanh lọc khi công ty thiếu năng lực sản
xuất. Nhà quản trị phải tập trung vào sản xuất những mặt hàng đem lại lợi
nhuận nhiều hơn. Các công ty thường rút ngắn các loại sản phẩm khi nhu
cầu căng thẳng và kéo dài câc loại sản phẩm của mình khi nhu cầu thấp
12
4. Quyết định nhãn hiệu
Khi hoạch định chiến lược marketing cho từng sản phẩm người bán
phải đứng trước một quyết định nhãn hiệu. Việc gắn nhãn là một vấn đề
quan trọng trong chiến luợc sản phẩm. Mặt khác, việc phát triển một sản
phẩm có gắn nhãn đòi hỏi phải chi nhiều hơn cho việc đầu tư dài hạn, đặc
biệt là quảng cáo, khuyến mãi, bao bì đễ dàng hơn cho các nhà sản xuất nếu
chỉ sản xuất sản phẩm cho người khác gắn nhãn. Thế nhưng những nhà sản
xuất cuối cùng nhận ra rằng quyền lực nằm trong tay công ty có tên nhãn.
- Nhãn hiệu là gì?
Có lẽ kỹ năng đặc biệt nhất của những người làm marketing chuyên
nghiệp là khả năng của họ tạo ra, duy trì, bảo vệ và khuyếch trươnbg các
nhãn hiệu. Hiệp hội marketing Mỹ đã định nghĩa như sau:
Nhãn hiệu là tên, thuật ngữ, ký hiệu, biểu tượng hay kiểu dáng, hoặc là
một sự kết hợp những yếu tố đó nhằm xác định hàng hoá hay dịch vụ của
một người bán hay một nhóm người bán và phân biệt chúng vói những thứ
của đối thủ cạnh tranh.
Như vậy nhãn hiệu xác nhận người bán hay người sản xuất. Theo luật
đăng ký nhãn hiệu, người bán được đảm bảo độc quyền sử dụng tên nhãn đó
vĩnh viễn. điều này khác với những tài sản khác như bằng sáng chế và bản
quyền có ngày hết hạn. Nhãn hiệu về cơ bản là một sự hứa hẹn của người
bán đảm bảo cung cấp cho người mua một tập hợp nhất định những tính
chất, ích lợi, và dịch vụ. Những nhãn hiệu tốt nhất đều kèm theo sự đảm bảo
chất lượng. Song một nhãn hiệu thậm chí còn là một biểu tượng phức tạp
hơn thế nữa, một nhãn hiệu có thể mang tới sáu cấp độ ý nghĩa.
13

thái cực là nhãn hiệu mà hầu hết những người mua trên thị trường không
biết đến đồng thời có những nhãn hiệu mà mức dộ biết đến của người mua
khá cao (được đo bằng việc nhắc đến hay thừa nhận nhãn hiệu) tiếp dến là
những nhãn hiệu có mức độ chấp nhận cao, nghĩa là những người mua đều
không phản ứng việc mua chúng. Rồi đến những nhãn hiệu có mức độ chấp
nhận rất cao. Chúng được ưu tiên chọn lựa khi mua hơn những nhãn hiệu
khác. cuối cùng là những nhãn hiệu có mức độ trung thành cao. Tony OS
Reilly, một quan chức cao cấp của HJ.Heiz đã đưa ra sự trắc nghiệm sự
trung thành như sau"cách trắc nghiệm của tôi là nhằm theo dõi xem một bà
nội trợ mua sốt cà chua Heiz tại một cửa hàng nào đó, khi thấy ở đó đã hết
nhãn hiệu đó sẽ đi sang cửa hàng khác để mua hay chuyển sang mua một sản
phẩm nhãn hiệu khác.
Một nhãn hiệu mạnh là một nhãn hiệu có uy tín cao. Theo Aaker, uy
tín của nhãn hiệu càng cao thì sự trung thành với nhãn hiệu cao hơn, mức độ
biết đến tên tuổi, chất lượng được nhận thức càng cao hơn, sự gắn bó với
nhãn hiệu càng mạnh hơn và các tài sản khác như bằng sáng chế, nhãn hiệu
thương mại và các quan hệ theo kênh có giá trị cao hơn. Vấn đề là ở chỗ
nhãn hiệu là một tài sản trong chừng mức mà nó có thể đem bán hay mua
với giá nào đó.
Cách lượng định uy tín của một nhãn hiệu có phần tuỳ tiện. Aaker đã
mô tả năm cách khác nhau, bao gồm cách như căn cứ vào mức lời của giá,
giá trị chứng khoán, giá trị thay thế nhãn Theo Interbrand 10 nhãn hiệu siêu
manh nhất của thế gới là Coca - Cola, Kellog, MacDonald, Kodak, Malboro,
15
IBM, American Express, Sony, Mercedes, Nestcafe. Theo một tài liệu ước
tình thì giá trị uy tín nhãn hiệu marlboro là 31 tỷ USD, coca-cola là 24 tỷ
USD và Kodak là 13 tỷ nhưng cần lưu ý rằng nhưng người mua tiềm ẩn
khác nhau sẽ sử dụng nhãn hiệu đó theo những cách khác nhau và do đó sẽ
chi nhiều hơn hay ít hơn.
Uy tín cao của nhãn hiệu sẽ đem lại một lợi thế cạnh tranh cho một

phường hội thời Trung cổ yêu cầu thợ thủ công gắn nhãn thương mại trên
sản phẩm của mình để bảo vệ chính mình và khách hàng khỏi lẫn với những
sản phẩm chất lượng kém hơn, đối với các tác phẩm nghệ thuật cũng vậy
việc gắn nhãn bắt đầu từ việc các nghệ nhân ký tên trên tác phẩm của mình.
Ngày nay việc gắn nhãn đã trở thành một yếu tố cần thiết mà không
một loại hàng hoá nào lại không cần. Những nhãn hiệu mang tính toàn quốc
đã chống chọi với các mặt hàng phổ thông theo một số cách Ralston-Purina
đã nâng cao chất lượng của mình và hướng vào những người sở hữu vật nuôi
nôi tiếng cùng với những vật nuôi của họ và quan tâm đến chất lượng nhiều
nhất. Procter & Gamble đã đưa ra sản phẩm giấy của mình, một loạii sản
phẩm có chất lượng kém hơn những sản phẩm cùng loại nhưng tốt hơn
những loại phổ thông với giá cạnh tranh. Những Công ty khách chỉ cắt giảm
giá hàng của mình để cạnh tranh với loại hàng phổ thông. Tại sao những
người bán lại thích gắn nhãn cho sản phẩm của mình dù việc đó đòi hỏi phải
chi cho việc bao gói, làm nhãn, quảng cáo, bảo vệ hợp pháp và sẽ gặp rủi ro
17
nếu khách hàng không chấp nhận sản phẩm đó. Nguyên do là việc gắn nhãn
tạo cho người bán một số lợi thế.
- Tên nhãn làm người bán dễ dàng xử lý các đơn đặt hàng và tìm ra
các vấn đề, hơn nữa người bán thấy đễ dàng theo dõi đơn đặt hàng nếu số
hàng bị gửi bán lạc địa chỉ hay xác định các nguyên nhân về chất lượng sản
phẩm nếu khách hàng khiếu nại.
- Tên nhãn hiệu và dấu hiệu thương mại vủa người bán đảm bảo một
sự bảo hộ của pháp luật đối với tính chất độc đáo của sản phẩm nếu không
thì đã bị các đối thủ cạnh tranh nhái theo.
- Việc gắn nhãn đem lại cơ hội cho người bán thu hút một nhóm khách
hàng trung thành và có khả năng đem lại lợi nhuận cho Công ty. Sự trung
thành với nhãn hiệu sẽ tạo ra cho người bán một sự bảo vệ ở mức độ nào đó
chống lại các đối thủ cạnh tranh và khả năng kiểm soát tốt hơn trong khi xây
dựng chương trình Marketing của mình.

nhiều siêu thị đã đòi hỏi một số tiền lệ phí lớn như một diều kiện trước khi
chấp nhận một nhãn hiệu mới, cầm chắc trang trải đủ chi phí cho việc đăng
ký với bảo quản nó. Họ cũng đòi một khoản tiền riêng cho không gian trưng
bày nổi bật hơn cho những nhãn hiệu của mình và bảo đảm chúng được bảo
quản tốt hơn. Những người trung gian giờ đây đang tạo ra chất lượng tốt hon
19
cho những nhãn hiệu của cửa hàng mình, nhờ vậy mà tạo ra sự được sự hài
lòng khách hàng. Nhiều người đi mua sắm biết rằng nhãn hiệu của cửa hàng
thường do một trong nghững người sản xuất lớn làm ra. Các nhãn hiệu của
cửa hàng thường được định giá thấp hơn các nhãn hiệu của người sản xuất
khác, vì thế rất hấp dẫn đối với người mua sắm biết rõ túi tiền, đặc biệt là
thời kỳ lạm phát hay suy thoái. Rốt cuộc là những nhãn hiệu của người sản
xuất đã từng giữ vị trí khống chế đang bị suy yếu đi.
Những người sản xuất nhãn hiệu toàn quốc rất khó chịu trước tình
hình thế lực của những người bán lẻ ngày càng tăng. Kevin Prices nhận xét
rất đúng "cách đây một thập kỷ, người bán lẻ chỉ như một cái gai chích vào
gót chân của người sản xuất, một nỗi phiền muộn, nhưng chỉ gây một chút ít
khó chịu, bôi một ít thuốc rồi sẽ khỏi. Ngày nay đã trở thành một con bò
hung dữ và đang muốn húc gẫy cả chân lẫn tay bạn. Bạn muốn đánh gục nó,
thế nhưng bạn lại phải lo bảo vệ lấy thân mình nên không thể nghĩ đến
chuyện đó". Một số nhà bình luận Marketing đã dự đoán là các nhãn hiệu
của những người trung gian cuối cùng sẽ đánh gục tất cả những nhãn hiệu
khác, chỉ trừ những nhà sản xuất mạnh nhất.
Trong những năm qua người tiêu dùng đã thấy rằng các nhãn hiệu
trong mọi loại hàng hoá được xếp hạng thành một thang nhãn hiệu với các
nhãn hiệu ưa thích hàng đầu và những nhãn hiệu còn lại thì được xếp vào
các bậc thang giảm dần theo thứ tự mức độ ưa chuộng. Ngày nay càng thấy
rõ hơn các dầu hiệu cho thấy các bậc thang đó đang biến mất dần và được
thay thế bằng sự ngang nhau của các nhãn hiệu theo thứ tự cảm nhận của
khách hàng, nghĩa là nhiều nhãn hiệu tương đương nhau. Những khách hàng

21
tính chất mới và không ngừng nâng cao chất lượng. Họ phải duy trì chương
trình quảng cáo để đảm bảo mức độ biết đến nhãn hiệu cao và thái độ dứt
khoát chỉ dùng nhãn hiệu đó. Họ phải tìm cách "liên kết" với phần lớn
những người phân phối cùng tìm kiếm những chiến lược kinh tế và cạnh
tranh hợp lôgic nhằm nâng cao hiệu quả chung.
 Quyết định tên nhãn
Những nhà sản xuất đã gắn nhãn cho sản phẩm của mình còn phải tiếp
tục lựa chọn nữa.
1. Tên nhãn hiệu cá biệt
2. Tên họ chung của tất cả các sản phẩm
3. Tên họ riêng cho tất cả các sản phẩm
4. Tên thương mại của công ty kết hợp với tên cá biệt của sản phẩm
Chiến lược tên nhãn hiệu cá biệt có lợi thế ở điểm nào? Lợi thế chủ
yếu của công ty không ràng buộc thanh danh của mình với việc chấp nhận
sản phẩm đó. nếu sản phẩm đó bị thất bại hay xem ra có chất lượng kém thì
không làm tổn hại đến tên tuổi của Công ty. Chiến lược tên nhãn hiệu cá biệt
cho phép công ty tìm kiếm một cái tên hay nhất cho từng sản phẩm mới. Tên
mới tạo ra tên mới và niềm tin mới.
Tên họ chung cũng có những lợi thế. Chi phí phát
triển sẽ ít hơn, bởi vì không cần phải nghiên cứu"tên" hay
chi phí nhiều cho quảng cáo để tạo ra sự thừa nhận tên nhãn
hiệu. Hơn nữa, việc tiêu thụ sẽ mạnh nếu người sản xuất có
22
danh tiếng. Tuy nhiên, khi một Công ty sản xuất những sản
phẩm hoàn toàn khác nhau thì không nên sử dụng một tên
họ chung. Do vậy các Công ty thường hay sáng chế ra
nhưũng tên họ khác nhau cho những sản phẩm có chất
lượng khác nhau trong cùng một lớp sản phẩm. Cuối cùng
một số người lại gắn tên Công ty của mình với tên nhãn cá

 Quyết định chiến lược nhãn hiệu.
Một Công ty có 4 cách lựa chọn khi thực hiện chiến lược nhãn hiệu.
Công ty có thể quyết định mở rộng chủng loại sản phẩm (tên nhãn hiệu có
được mở rộng sang kích cỡ mới, hương vị mới, v.v trong loại sản phẩm
hiện có, mở rộng nhãn hiệu (các tên nhãn được mở rộng sang những loại sản
phẩm mới), sử dụng nhiều nhãn hiệu (những tên nhãn hiệu mới được đưa
vào cùng một loại sản phẩm ) và sử dụng nhãn hiệu mới (dùng tên nhãn mới
cho loại sản phẩm mới). ở đây ta sẽ khảo sát cơ sở hợp lý của từng chiến
lược nhãn hiệu:
Loại sản phẩm
24
Hiện có Mới
Hiện có Mở rộng chủng
loại
Mở rộng nhãn
hiệu
Mới Nhiều nhãn hiệu Nhãn hiệu mới
4. Chiến lược nhãn hiệu
+ Mở rộng chủng loại
Mở rộng chủng loại xảy ra khi Công ty bổ sung thêm những mặt hàng
vào cùng một loại sản phẩm dưới cùng một tên nhãn, như mặt hàng có
hương vị mới, hình thức mới, màu sắc, thành phần, kích thước bao gói mới,
v.v Việc mở rộng chủng loại có thể là đổi mới, bắt chước (sao chép đối thủ
cạnh tranh) hay bổ sung (kích cỡ bao gói khác).
Tuyệt đại bộ phận hoạt động phát triển sản phẩm mới là mở rộng chủng loại.
Năng lực sản phẩm dư thừa thường dẫn công ty đến chỗ bổ sung thêm
những mặt hàng mới. Công ty muốn đáp ứng nguyện vọng khách hàng về sự
đa dạng. Công ty có thể nhận thấy một mong muốn tiềm ẩn của người tiêu
dùng và cố gắng khai thác điều đó. Công ty có thể muốn theo kịp việc mở
rộng thành công chủng laọi sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Nhiều Công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status