Báo Cáo Khoa H cọ
Giáo Viên H ng D n: Nguy n Chí Th ngướ ẫ ễ ắ
Tên: Duy Khen L p: i n T 8Đỗ ớ Đ ệ ử
MSSV:13D520201022
NGHIÊN C U V TI M N NG PHÁT TRI NỨ Ề Ề Ă Ể
I N GIÓ VI T NAMĐ Ệ Ở Ệ
Theo Bộ Công Thương, nguồn năng lượng truyền
thống không tái tạo đang ngày càng cạn kiệt. Nếu không nhanh chóng tìm
ra phương án bù đắp vào sự thiếu hụt nguồn năng lượng này thì giai đoạn
tới, nước ta sẽ rơi vào tình trạng thiếu điện nghiêm trọng.
Đầu tư vào phát triển bền vững năng lượng tái tạo, trong đó có năng lượng gió
để kịp thời tạo nguồn bổ sung điện năng giai đoạn 2010- 2020 đang là hướng đi
đầy tiềm năng và nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ.
Tiềm năng lớn
Số liệu từ Ngân hàng Thế giới (WB) cho thấy, tiềm năng sản xuất điện gió của
Việt Nam lên đến 513.360 MW/năm. Các nhà khoa học cũng khẳng định, Việt
Nam có khoảng 17.400 héc ta rất thích hợp cho các dự án, công trình phát triển
năng lượng gió. Chỉ tính riêng địa bàn tỉnh Thừa Thiên –Huế đã có lượng gió đạt
tới vận tốc gió > 7m/s, xuất hiện ở cả vùng núi phía Tây và vùng ven biển. Một
số khu vực thuộc phía Đông của dãy Trường Sơn ở độ cao từ 800-1200 m so
với mực nước biển có vận tốc gió lên tới 8,5 - 9,5 m/s. Khu vực đồng bằng ven
biển ở phía Bắc Huế và Mũi Chân Mây trên độ cao 30m có vận tốc gió ở là 5,5-
6,0m/s. Điều đó cho thấy, tiềm năng phát triển các loại tua bin gió cỡ nhỏ và vừa
ở địa bàn Thừa Thiên Huế là rất khả thi. Tỉnh Bình Thuận cũng có trên 75 nghìn
ha có tiềm năng đưa vào quy hoạch sản xuất điện gió, tương đương tổng công
suất có thể lắp đặt khoảng 5.030 MW. Riêng các khu vực có vận tốc gió trung
bình tối thiểu 6,5 m/giây cũng tới hơn 23 nghìn ha với tổng công suất có thể lắp
đặt ước khoảng 1570 MW. Hiện nay, Bình Thuận đã dự kiến công suất lắp đặt
điện gió đến năm 2015 khoảng 1500 MW và sẽ đạt khoảng 3000 MW vào năm
2020. Ngoài ra, các vùng đảo ngoài khơi như Bạch Long Vĩ, đảo Phú Quý,
Trường Sa là những địa điểm gió có vận tốc trung bình cao, tiềm năng năng
mua điện từ nguồn năng lượng gió. Việc thu xếp vốn của các nhà đầu tư còn khó
khăn do còn thiếu các dịch vụ và khả năng tài chính để có thể vay vốn từ ngân
hàng hoặc từ tổ chức tài chính cho việc phát triển điện gió; Chưa có qui hoạch
và chính sách minh bạch, rõ ràng, thống nhất từ trung ương đến địa phương,
chưa có văn bản quy phạm pháp luật về khuyến khích phát triển năng lượng tái
tạo nói chung và điện gió nói riêng, đặc biệt là những quy định cụ thể nhằm quản
lý hoạt động đầu tư phát triển điện gió. Chưa kể sự hạn chế về trình độ kỹ thuật
để thiết kế, thi công, kể cả dịch vụ bảo quản, bảo trì, điều hành và quản lý công
trình. Việc cấp phép, triển khai đến nay vẫn còn thiếu quy hoạch cụ thể cũng như
việc bổ sung quy hoạch điện lực chung của địa phương và khu vực.
Sẽ có chính sách hợp lý
Hiện nay, hơn 60 quốc gia trên thế giới đã thành lập được cơ chế hỗ trợ cho
lĩnh vực điện gió. Đan Mạch là đất nước có sản lượng điện gió chiếm đến 30%
lượng điện của quốc gia đã có chính sách khuyến khích rất cụ thể: thời gian đầu,
Chính phủ trợ giá khoảng 3 cent/kWh, (giá điện của Đan Mạch ở mức 25
cent/kWh). Sau khi doanh nghiệp hòa vốn, Chính phủ bắt đầu giảm hỗ trợ,
doanh nghiệp cũng bắt đầu giảm giá bán điện để cạnh tranh.
Còn ở Việt Nam, lĩnh vực năng lượng tái tạo vẫn được khuyến khích chủ yếu ở
dạng “kêu gọi” mà chưa có nhiều chính sách hỗ trợ cần thiết. Tổ chức Hợp tác
Kỹ thuật Đức (GTZ) tại Hà Nội đã ký thỏa thuận hỗ trợ 1 triệu Euro cho Việt Nam
thực hiện dự án “Xây dựng khung pháp lý và hỗ trợ kỹ thuật cho điện gió nối lưới
tại Việt Nam” trong giai đoạn 2009-2011. Dự án sẽ giúp triển khai một số chương
trình như xây dựng khung pháp lý cho điện gió nối lưới và quy trình quy hoạch
điện gió, chương trình thúc đẩy tiến bộ khoa học về điện gió và tư vấn các dự án
điện gió tại Việt Nam. Đề xuất các cơ chế hỗ trợ phù hợp như miễn thuế thu
nhập doanh nghiệp; miễn thuế nhập khẩu thiết bị cho các dự án điện gió; có
chính sách trợ giá cho điện sản xuất từ gió và các nguồn năng lượng tái tạo
khác.
Mới đây, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã chỉ đạo Bộ Công Thương sớm
hoàn thiện cơ chế trình Chính phủ ban hành quy định hỗ trợ, tạo điều kiện,
Trên thế giới hiện nay, các loại bao bì an toàn và thân thiện với môi trường được phát triển
mạnh mẽ, các loại nhựa có nguồn gốc sinh học đang dần thay thế các loại nhựa có nguồn gốc
dầu mỏ. Các nghiên cứu nhằm tạo ra các loại bao bì có khả năng phân hủy sinh học và thân
thiện với môi trường đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhóm nghiên cứu. Các loại vật liệu
phân hủy sinh học như polylactic axit (PLA), polyhydroxybutyrat (PHB) được xem là các ứng cử
viên cho hướng phát triển này do có khả năng phân hủy trong tự nhiên, không gây ô nhiễm môi
trường, không phụ thuộc vào tăng giá do quá trình khan hiếm dầu mỏ.
Polylactic axit (PLA)/polylactide là một loại polyme nhiệt dẻo bán tinh thể, giòn và rắn, có nhiệt
độ thủy tinh hóa tương đối thấp (~60oC) và có nhiệt độ chảy mềm 175-180
o
C. PLA đang là đối
tượng được quan tâm và phát triển nhiều nhất trên thế giới bởi dễ dàng được gia công trong
các thiết bị gia công chất dẻo thông thường và cũng dễ dàng phân hủy theo con đường sinh
học, thích hợp để chế tạo ra bao bì, màng gói thực phẩm, các sản phẩm sử dụng một lần.
Ví Dụ Về Nghiên Cứu Cơ Bản
Đo cao vệ tinh trong nghiên cứu cấu trúc địa chất biển Đông Việt Nam
Biển Đông Việt Nam là một khu vực rộng lớn, có cấu trúc địa chất đa dạng, phức tạp và có một
tiềm năng khoáng sản rất lớn. Mặc dù đã trải qua nhiều năm thăm dò khảo sát nhưng trong khu
vực vẫn còn rất nhiều nơi mà cấu trúc địa chất chỉ mới được biết đến rất ít, hoặc mới được khảo
sát ở mức độ rất sơ lược. Sự hạn chế đó thường gây ra bởi bề dày lớp nước biển cũng như là
do các vấn đề nhạy cảm giữa các nước trong khu vực.
Vào những năm 80 của thế kỷ trước, đo cao vệ tinh đã bắt đầu trở thành một hướng tiếp cận
mới trong nghiên cứu biển. Từ đó đến nay đã có một số công trình nghiên cứu nhằm xây dựng
mạng lưới, cải thiện mức độ chính xác của số liệu đo cao vệ tinh. Tiêu biểu là Sandwell D.T., và
W.H.F.Smith (1997, 2009), GETECH (1996) tập hợp số liệu qua nhiều năm đo đạc bởi các vệ
tinh như GEOSAT, ERS-1, TOPEX/POSEIDON và đã xây dựng được một mạng lưới số liệu đo
cao vệ tinh 1’ x 1’ phủ đầy các đại dương. Nguồn số liệu đo cao vệ tinh đã và đang được khai
thác một cách có hiệu quả để lấp đầy những khoảng trống số liệu mà khảo sát bằng tàu trên
biển chưa thực hiện được
Nghiên cứu sinh học, sự phân bố và nơi sống của các loài bọ xít hút máu ở một số tỉnh,