TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
NỘI DUNG 2
1. Lý do chọn đề tài: 2
2. Cơ sở lý luận 2
2.1. Khái niệm, đặc điểm, và vai trò của thu NSNN: 2
2.1.1. Khái niệm: 2
2.1.2 Đặc điểm thu NSNN 2
2.2. Nội dung thu ngân sách nhà nước và phân loại các khoản thu NSNN: 3
2.2.1 Nội dung thu ngân sách nhà nước: 3
2.2.2 Phân loại thu NSNN: Có hai cách phân loại phổ biến là: 4
2.3. Thất thu thuế 5
3. Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp 5
3.1. Thực trạng 5
3.2. Nguyên nhân 7
3.3. Giải pháp chống gian lận, tăng thu NSNN 9
4. Kết luận 11
Sinh viên: NGUYỄN THỊ NHUNG MSSV:10011243 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM
NỘI DUNG
1. Lý do chọn đề tài:
Thuế không chỉ là công cụ quan trọng của nhà nước để quản lý nền kinh
tế mà còn là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước.Thông qua việc thu
thuế nhà nước có thể tập trung một phần nguồn lực xã hội vào tay mình để
có thể thực hiện chức năng của mình. Hiện nay nước ta ngày càng hội nhập
sâu với kinh tế thế giới do vậy nhiều loại thuế đang được cắt giảm theo
những hiệp định đã ký kết nhất là các loại thuế xuất nhập khẩu, đồng nghĩa
với việc cắt giảm các loại thuế này là NSNN sẽ mất đi một khoản thu đáng
kể do vậy mà việc chống thất thu thuế ngày càng trở nên cấp thiết. Vì vậy
em chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp tăng cường chống thất thu thuế
- Phí và lệ phí: Phí và lệ phí là khoản thu có tính chất bắt buộc. Phí
và lệ phí thực chất là khoản tiền mà mọi công dân trả cho nhà nước khi họ
hưởng thụ các dịch vụ do nhà nước cung cấp. Tính pháp lý của phí và lệ phí
thấp hơn nhiều so với thuế. Phí gắn liền với với vấn đề thu hồi một phần hay
toàn bộ chi phí đầu tư đối với hàng hóa dịch vụ công cộng hữu hình. Lệ phí
gắn liền với việc thụ hưởng những lợi ích do việc cung cấp các dịch vụ hành
chính, pháp lý cho các thể nhân và pháp nhân.
- Các khoản thu từ các hoạt động kinh tế của nhà nước: Thu nhập
từ vốn góp của nhà nước vào các cơ sở kinh tế có vốn góp thuộc sở hữu nhà
Sinh viên: NGUYỄN THỊ NHUNG MSSV:10011243 3
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM
nước;Tiền thu hồi vốn tại các cơ sở của nhà nước; Thu hồi tiền cho vay của
nhà nước.
- Thu từ hoạt động sự nghiệp: Các khoản thu có lãi và chênh lệch
từ các hoạt động của các cơ sở sự nghiệp có thu của nhà nước.
- Thu từ bán hoặc cho thuê tài nguyên, tài sản thuộc sở hữu nhà
nước: Khoản thu này mang tính chất thu hồi vốn và có một phần mang tính
chất phân phối lại, vừa có tính chất phân phối lại, vừa có tác dụng nâng cao
hiệu quả sử dụng tài sản quốc gia vừa tăng nguồn thu cho ngân sách nhà
nước.
- Thu từ phạt, tịch thu, tịch biên tài sản: Các khoản thu này cũng là
một phần thu quan trọng của thu ngân sách nhà nước và được pháp luật quy
định
2.2.2 Phân loại thu NSNN: Có hai cách phân loại phổ biến là:
- Phân loại theo nội dung kinh tế:
+ Nhóm thu thường xuyên có tính chất bắt buộc, gồm thuế, phí, lệ phí
với nhiều hình thức cụ thể do luật định.
+ Nhóm thu không thường xuyên bao gồm các khoản thu từ hoạt động
kinh tế của Nhà nước, thu từ hoạt động sự nghiệp, thu tiền bán hoặc cho thuê
tài sản thuộc sở hữu Nhà nước và các khoản thu khác.
thực trạng trốn thuế và gian lận thuế ngày càng tinh vi và phức tạp. Theo báo
cáo của Tổng cục Thuế, số thu NSNN của ngành Thuế trong 8 tháng đầu
Sinh viên: NGUYỄN THỊ NHUNG MSSV:10011243 5
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM
năm 2013 ước đạt 390.712 tỷ đồng, tương đương 60,6% so với dự toán,
bằng 107,2% so với cùng kỳ năm 2012. Trong tháng 8/2013, Ngành thu ước
đạt 38.100 tỷ đồng, bằng 5,9% so với dự toán, bằng 101,8% so với thực hiện
cùng kỳ năm 2012. Kết quả thu thuế bị ảnh hưởng do một số nguyên nhân:
Tăng trưởng kinh tế đạt mức thấp, GDP 6 tháng đầu năm mới tăng 4,9%;
doanh nghiệp phá sản, giải thể, gặp khó Bên cạnh đó, một nguyên nhân
không kém phần quan trọng là không ít đối tượng tìm đủ mọi thủ đoạn trốn
thuế, gây thất thu cho ngân sách.
Những khó khăn chủ yếu tác động đến kết quả thu của ngành Thuế
bao gồm hàng hóa tiêu thụ chậm, lượng hàng tồn kho vẫn ở mức cao, tình
trạng doanh nghiệp ngừng hoạt động kinh doanh vẫn tiếp tục xảy ra, thị
trường bất động sản chưa có dấu hiệu phục hồi Không chỉ có vậy, lợi dụng
tình hình kinh tế khó khăn, không ít DN sử dụng nhiều để gian lận thuế
như: kê khai thu nhập giảm để nộp thuế ít, khai lỗ để trốn thuế, lập công ty
“ma” để tự in hóa đơn thuế giá trị gia tăng (GTGT) Đặc biệt, hiện tượng
DN FDI kê khai lỗ đang khá phổ biến (khoảng 50% tổng số DN FDI đang
hoạt động trên cả nước, trong đó có nhiều DN kê khai lỗ liên tục trong 3
năm). Từ năm 2006 đến nay, hiện tượng chuyển giá của các DN FDI ngày
càng tinh vi hơn, với việc điều chuyển lợi nhuận từ nơi có thuế suất cao sang
nơi có thuế suất thấp hơn để tránh thuế. Những vụ việc chuyển giá thời gian
qua của Coca - Cola, Adidas, Metro Cash & Carry, liên tục báo lỗ. Đối
tượng DN FDI bỏ trốn và nợ thuế chủ yếu tập trung ở các DN sản xuất xuất
khẩu.
Sinh viên: NGUYỄN THỊ NHUNG MSSV:10011243 6
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM
Trong 5 tháng đầu năm 2013, ngành Thuế đã thực hiện thanh, kiểm
để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, cá nhân cũng làm giảm thu NSNN.
- Nguyên nhân dẫn đến việc DN làm thủ tục xuất nhập khẩu nói chung
và DN FDI nói riêng, nợ thuế XNK gia tăng, theo ngành Hải quan là do, quy
định của Luật thuế Xuất nhập khẩu và Luật Quản lý thuế, hàng hóa nhập
khẩu để gia công được miễn thuế, hàng tạm nhập tái xuất và hàng hóa là
nguyên liệu vật tư phục vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu có thể được kéo dài
thời gian nộp thuế tới 275 ngày kể từ ngày mở tờ khai hải quan. Hàng hóa
tạm nhập tái xuất có thể được kéo dài thời gian nộp thuế tới 15 ngày kể từ
ngày hết hạn tạm nhập tái xuất. Trong thời gian được miễn thuế hoặc được
ân hạn thời gian nộp thuế, các DN FDI đã tranh thủ nhập số lượng lớn hàng
hóa, sau đó, tự ngừng hoạt động, chủ DN bỏ về nước. Hậu quả là cơ quan
hải quan không thể thu hồi được khoản nợ thuế bị treo lại của các đối tượng
này. Tuy nhiên, một số trường hợp DN lợi dụng để chây ỳ dẫn đến tình trạng
nợ thuế quá hạn, phải cưỡng chế, cơ quan hải quan khó có khả năng thu hồi
nợ đọng, nhất là những khoản nợ của DN FDI bỏ trốn về nước.
Bên cạnh những nỗ lực của toàn ngành Thuế trong công tác thu ngân
sách, chống thất thu gian lận thuế, thực tế trong hoạt động cũng vẫn còn tồn
tại một số hạn chế, cụ thể:
Sinh viên: NGUYỄN THỊ NHUNG MSSV:10011243 8
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM
Thứ nhất, do số lượng cán bộ công chức thuế còn ít nên chưa bao quát
hết tình trạng DN có hành vi trốn thuế và gian lận thuế ngày càng tinh vi.
Trong khi đó, tỷ lệ văn bản tồn đọng chưa giải quyết còn cao, dẫn đến công
tác giải đáp vướng mắc chưa kịp thời.
Thứ hai, hiện nay, lợi dụng sự thông thoáng trong chính sách quản lý,
sử dụng hoá đơn, không ít DN đã thực hiện mua, bán, sử dụng hóa đơn bất
hợp pháp, để khấu trừ thuế GTGT, chiếm đoạt tiền hoàn thuế.
3.3. Giải pháp chống gian lận, tăng thu NSNN
Một là, cần có những chế tài đủ mạnh để hạn chế tình trạng gian lận
thuế tích cực rà soát nhằm sửa đổi, bổ sung chính sách thuế cho phù hợp với
chuyển giá của các DN FDI và các ngành nghề kinh doanh mới như: Thương
mại điện tử, kinh doanh qua mạng, những hoạt động đang còn nhiều nghi
vấn. Phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, các cấp chính quyền địa phương
để ngăn chặn hành vi trốn thuế, gian lận thương mại, sử dụng hóa đơn bất
hợp pháp và chiếm đoạt tiền thuế GTGT thông qua khấu trừ, hoàn thuế.
Năm là, về vấn đề ngăn ngừa và kiểm soát nợ xấu từ khu vực DN FDI
cần sớm sửa đổi quy định về miễn thuế, hoàn thuế tại Luật Quản lý thuế,
Luật thuế XNK; rút ngắn thời gian được ân hạn thuế theo lĩnh vực sản xuất
xuất khẩu và gia công (chu kỳ 275 ngày như hiện nay là quá dài). Sửa thời
Sinh viên: NGUYỄN THỊ NHUNG MSSV:10011243 10
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM
hạn nộp thuế đối với hàng hóa XNK theo hướng quy định rõ người nộp thuế
phải nộp thuế trước thời điểm thông quan hoặc giải phóng hàng. Trường hợp
có bảo lãnh của ngân hàng thì được thông quan hoặc giải phóng hàng trước
khi nộp thuế nhưng sẽ tính lãi chậm nộp để hạn chế tình trạng lợi dụng ân
hạn nộp thuế, chây ỳ nợ thuế và phù hợp với thông lệ quốc tế Chỉ cho phép
ân hạn nộp thuế khi người nộp thuế có bảo lãnh; trong thời gian được bảo
lãnh.
Sáu là, triển khai đồng bộ các biện pháp thu hồi nợ đọng thuế, trong
đó tập trung bám sát những DN nợ thuế lớn; Kiểm tra, giám sát chặt chẽ kết
quả thu nợ thuế của các địa phương, đôn đốc nhắc nhở kịp thời những đơn vị
có tỷ lệ nợ thuế tăng cao; Phối hợp chặt chẽ với Kho bạc Nhà nước, ngân
hàng thương mại, tổ chức tín dụng trong công tác thu hồi tiền thuế nợ vào
ngân sách.
4. Kết luận
Thực tế hiện nay, khu vực kinh tế cá thể phát triển đa dạng, mạnh mẽ,
cùng với nhu cầu chi tiêu của NSNN ngày càng tăng đã làm cho công tác
thuế trở nên khó khăn và nặng nề hơn. Trong khi đó, thất thu thuế luôn là
vấn đề bức xúc cả xã hội quan tâm. Chống thất thu thuế có thể nói là một
mặt trận gay go quyết liệt, không chỉ giải quyết một sớm một chiều mà đòi