TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
CƠ SỞ THANH HÓA – KHOA KINH TẾ
BÀI TIỂU LUẬN
MÔN HỌC: QUẢN TRỊ XUẤT NHẬP KHẨU
ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU CÁC PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN ĐANG
ĐƯỢC CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM ÁP DỤNG HIỆN NAY
GIẢNG VIÊN HD : TH.S. NGUYỄN NGỌC THỨC
SINH VIÊN TH : NHÓM 01
LỚP : CDQT13TH
THANH HÓA, THÁNG 02 NĂM 2014
Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh – Cơ sở Thanh Hoá
DANH SÁCH NHÓM 1
S
TT
HỌ VÀ TÊN MSSV LỚP
1 Lê Thị An ( Nhóm Trưởng) 11036073 CDQT13TH
2 Lê Thị Phương Anh 11018973 CDQT13TH
3 Nguyễn Thị Bích 11019083 CDQT13TH
4 Lê Thị Chinh 11015993 CDQT13TH
5 Lê Thị Duyên 11008843 CDQT13TH
6 Lê Thị Duyên 11028503 CDQT13TH
7 Đỗ Bá Đức 10013163 CDQT12TH
8 Lê Công Đức 11014333 CDQT13TH
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Người mua thanh toán bằng tiền mặt cho người bán khi người bán giao
hàng hoặc chấp nhận đơn đặt hàng của người mua
Phương thức này thực hiện đơn giản nhưng ít được sử dụng vì rủi ro cao và
hiệu qủa thấp.
1.1.2 phương thức ghi sổ
Khái niệm: người bán mở tài khoản (sổ) để ghi nợ người mua, sau khi giao
hàng, đến thời hạn quy định người mua trả tiền cho người bán.
Qui trình nghiệp vụ
1. Người bán giao hàng và gửi chứng từ cho người mua.
2. Người bán báo nợ trực tiếp cho người mua.
3. Đến kỳ hạn người mua chuyển tiền thanh toán cho người bán
(3)
(3) (3)
(2)
(1)
Trường hợp áp dụng
Phương thức này có lợi cho người mua.
1.1.3. Thanh toán trong buôn bán đối lưu
Nghiệp vụ barter: là nghiệp vụ hàng đổi hàng, không sử dụng tiền trong
thanh toán.
Nghiệp vụ song phương xuất khẩu: là nghiệp vụ có sử dụng một phần tiền
Nhóm thực hiện: Nhóm 01 - Lớp: CDQT13TH Trang 5
Ngân hàng bán
Ngân hàng mua
Người muaNgười bán
Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh – Cơ sở Thanh Hoá
để thanh toán.
Nghiệp vụ buy – back: một bên cung cấp máy móc thiết bị và mua lại sản
phẩm do máy móc thiết bị đó làm ra.
1.1.4. Phương thức nhờ thu
4- Ngân hàng thu hộ xuất trình hối phiếu theo đúng chỉ thị nhờ thu cho người trả
tiền
5- Người trả tiền tiến hành trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu
6- Ngân hàng thu hộ chuyển tiền hoặc hối phiếu đã được chấp nhận thanh toán cho
ngân hàng chuyển
7- Ngân hàng chuyển trả tiền hoặc hối phiếu đã được chấp nhận cho người XK
NHẬN XÉT: phương thức nhờ thu trơn rất ít được áp dụng trong thanh
toán tiền hàng vì không đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên: người XK và người
NK do việc nhận hàng và thanh toán tách rời nhau, vì vậy chỉ được sử dụng
trong thanh toán phí hoặc trong nhờ thu séc giữa các ngân hàng.
NHỜ THU KÈM CHỨNG TỪ
Quy trình nghiệp vụ
1- Người XK giao hàng cho người NK .
2- Lập chứng từ thương mại có hoặc không kèm hối phiếu và viết chỉ thị nhờ thu
gửi đến ngân hàng phục vụ mình nhờ thu hộ tiền từ người NK nước ngoài.
3- Ngân hàng chuyển bộ chứng từ và chỉ thị nhờ thu cho ngân hàng đại lý ở nước
người NK thu hộ.
4- Ngân hàng thu hộ xuất trình chứng từ theo đúng chỉ thị nhờ thu cho người NK.
5- Người NK tiến hành trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu để nhận chứng từ
đi nhận hàng.
6- Ngân hàng thu hộ chuyển tiền hoặc hối phiếu đã được chấp nhận cho ngân hàng
chuyển (nếu được yêu cầu, ngân hàng thu hộ có thể giữ lại hối phiếu đã được
chấp nhận, chờ khi đến hạn thanh toán sẽ thu tiền rồi chuyển trả tiền).
7- Ngân hàng chuyển trả tiền hoặc hối phiếu đã được chấp nhận cho người XK.
NHẬN XÉT: so với nhờ thu trơn, nhờ thu kèm chứng từ đảm bảo quyền lợi
cho người XK hơn bời lẽ ngân hàng trong phương thức này đã thay người XK
khống chế chứng từ hàng hóa, người NK có trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền mới
được nhận bộ chứng từ đi nhận hàng. Tuy nhiên, việc thu tiền của người XK vẫn
chưa chắc vì còn phụ thuộc hoàn toàn vào thiện chí của người NK.
1.1.5. Phương thức chuyển tiền
Ưu điểm: - thủ tục thanh toán đơn giản
Chuyển từ ngân hàng phục vụ người mua sang ngân hàng phục vụ người
bán nhanh.
Người bán thanh toán bằng phương thức này rất có lợi, giao hàng xong là
Nhóm thực hiện: Nhóm 01 - Lớp: CDQT13TH Trang 8
Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh – Cơ sở Thanh Hoá
được tiền ngay, Bộ chứng từ xuất trình đơn giản.
Nhược điểm: - người mua phải có đại diện hay chi nhánh ở nước người bán
vì phải xác nhận hàng hóa trước khi gửi.
Việc ký quỹ để thực hiện CAD sẽ dẫn đến ứ đọng vốn tại ngân hàng, nếu
người bán không giao hàng thì tiền kí quỹ sẽ không được hưởng lãi suất.
Phương thức thanh toán này áp dụng trong trường hợp:
Nhà nhập khẩu và xuất khẩu tin tưởng nhau
Hàng hóa thuộc loại khan hiếm
Nhà nhập khẩu có đại diện bên nước nhà xuất khẩu vì trong bộ chứng từ
mà nhà nhập khẩu yêu cầu nhà xuất khẩu xuất trình có giấy chứng nhận của đại
diện người mua về việc giao hàng hóa.
1.1.7. Phương thức tín dụng chứng từ
Khái niệm: phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một sự thõa thuận
mà trong đó một Ngân hàng (Ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của
khách hàng (người xin mở thư tín dụng) cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho
một người thứ ba (người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối
phiếu do người thứ ba ký phát trong phạm vi số tiền đó. Khi người thứ ba này
xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy
định đề ra trong thư tín dụng.
Quy trình nghiệp vụ
1- Cầu ngân hàng người mua làm đơn xin mở L/C/ giấy yêu cầu mở thư tín dụng
(application for Documentary credit) và gửi cho ngân hàng mở L/C yêu cầu
ngân hàng mở L/C cho người bán thụ hưởng.
2- Căn cứ vào đơn xin mở L/C, ngân hàng mở L/C tiến hành mở L/C và thông báo
không cần báo trước cho người hưởng lợi L/C; loại L/C có thể hủy ngang này
trong thanh toán quốc tế ít được sử dụng, bởi vì L/C này thực chất chỉ là lời hứa
trả tiền chứ không phải là sự cam kết trả tiền chắc chắn.
Thư tín dụng không thể hủy ngang: là loại L/C sau khi mở ra thì ngân hàng
mở L/C và người nhập khẩu không được sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ trong
thời hạn hiệu lực của nó, trừ khi có sự thõa thuận khác của nhà xuất khẩu và các
bên tham gia L/C.
Phân loại theo cách thức thực hiện L/C:
L/C có giá trị trực tiếp: là loại L/C yêu cầu chứng từ xuất trình trực tiếp tại
ngân hàng mở, do vậy, điạ điểm hết hạn hiệu lực là ngân hàng mở (tại quầy giao
dịch), trong L/C thường ghi presentation is made at our or before expiry date.
Cam kết trả tiền của ngân hàng mở chỉ có giá trị duy nhất đối với người hưởng.
L/C có giá trị chiết khấu: là loại L/C cho phép người hưởng có thể chiết
Nhóm thực hiện: Nhóm 01 - Lớp: CDQT13TH Trang 11
NGÂN HÀNG THÔNG
BÁO
NGƯỜI BÁN
NGƯỜI MUA
NGÂN HÀNG MỞ L/C
(5)
(6)
Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh – Cơ sở Thanh Hoá
khấu bộ chứng từ tại một ngân hàng được chỉ định hay tại bất kỳ ngân hàng nào.
Trong L/C ngân hàng mở cam kết hoàn trả tiền cho ngân hàng chiết khấu đã
được chỉ định hay bất kỳ ngân hàng chiết khấu nào được quy định của L/C.
Phân loại theo thời hạn trả tiền:
L/C trả ngay: ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền ngay cho người hưởng lợi
khi xuất trình bộ chứng từ hợp lệ. trong L/C có thể yêu cầu người hưởng lợi ký
phát hối phiếu trả ngay để đòi tiền.
L/C trả chậm: là loại L/C trong đó quy định việc trả tiền cho người bán sẽ
Đặc điểm nổi bật của L/C này là điều khoản thanh toán. Trong L/C quy
định việc chấp nhận và thanh toán của L/C này chỉ có hiệu lực sau khi ngân
hàng nhận đủ số tiền theo L/C số ngay do ngân hàng phat hành.
L/C tuần hoàn
Là loại L/C mà sau khi sử dụng xong lại tiếp tục có giá trị. L/C có thể tuần
hoàn theo 3 cách:
Tự động: Sau khi sử dụng xong lại L/C lại tự động có giá trị như cũ, không cần
sự thông báo của ngân hàng mở.
Bán tự động: sau khi sử dụng L/C trong một thời hạn nhất định, nếu không có
thông báo gì từ phía ngân hàng mở L/C thì một L/C mới với những điều kiện
tương tự lại tiếp tục có hiệu lực.
Hạn chế: phải có thông báo của ngân hàng mở về hiệu lực của một ngân hàng
L/C mới được tái lập thì L/C đó mới có giá trị.
L/C có thể tuần hoàn theo số tiền hoặc theo thời gian. Khi tuần hoàn theo
thời gian, L/C phải ghi rõ ngày hết hiệu lực của mỗi lần tuần hoàn, đông thời
phải quy định rõ L/C đó là tuần hoàn tích lũy hay không tích lũy.
RED CLAUSE
Là loại L/C có điều kiện cho phép người thụ hưởng được một khoản tiền
trước khi giao hàng trên cơ sở hối phiếu trơn hoặc hối hiếu kèm chứng từ giao
hàng chứng minh rằng đã có hàng để giao như biên lai kho hàng .
Stand- by L/C – L/C dự phòng
Là một loại L/C không thể hủy ngang trong đó ngân hàng mở cam kết trả
tiền cho người hưởng lợi nếu có sự vi phạm hợp đồng hay thõa thuận từ phía
người xin mở L/C
Nhóm thực hiện: Nhóm 01 - Lớp: CDQT13TH Trang 13
Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh – Cơ sở Thanh Hoá
Trong L/C dự phòng ngân hàng mở ghi rõ L/C này chỉ có giá trị thực hiện
khi có sự vi phạm nghĩa vụ của người xin mở L/C, ngược lại, nếu không có sự vi
phạm ấy, L/C dự phòng sẽ không được thực hiện. L/C dự phòng được sử dụng
như một hình thức bảo lãnh trong một phạm vi rất rộng bao gồm các hoạt động
ít khó khăn.
2.2. CÁC PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN ÁP DỤNG TRONG NGÀNH
Nhóm thực hiện: Nhóm 01 - Lớp: CDQT13TH Trang 15
Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh – Cơ sở Thanh Hoá
XUẤT KHẨU CÀ PHÊ
Cà phê tiếp tục là mặt hàng có mức giảm lớn nhất, với khối lượng xuất
khẩu càphê tháng 12 của năm 2013 ước đạt 156 nghìn tấn và có giá trị đạt 284
triệu USD đưa khối lượng xuất khẩu cà phê năm 2013 ước đạt 1,32 triệu tấn và
2,75 tỷ USD; giảm 23,6% về khối lượng và giảm 25,1% về giá trị so cùng kỳ
năm 2012. Đức và Hoa Kỳ tiếp tục là hai thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của
Việt Nam trong 11 tháng đầu năm với thị phần lần lượt là 13,12% và 11,01%.
Xuất khẩu trực tiếp thanh toán băng L/C với khách hàng lần đầu, bằng D/P
có đặt hoa hồng với khách hàng quen, đói tác tin cậy.
Thanh toán theo phương thức D/P
Thanh toán theo phương pháp này, nhà nhập khẩu phải đặt trước một số
tiền và phần còn lại được thanh toán sau khi đã nhận được hàng. Tuy nhiên, Do
năng lực tài chính có hạn nên nhà nhập khẩu thường đề nghị mua hàng trả chậm
từ 30 đến 90 ngày gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam.
Thanh toán theo phương thức L/C
Doanh nghiệp nên lựa chọn kỹ đối tượng khách hàng, tìm hiểu kỹ nguồn tài
chính của khách hàng và lưu ý các điều khoản hợp đồng, để tránh thiệt hại khi
xảy ra tranh chấp. Hiệp hội cũng khuyến cáo doanh nghiệp xuất khẩu nên mở
rộng mạng lưới thu mua cà phê trực tiếp từ người trồng cà phê, hạn chế việc
mua qua trung gian, ứng vốn không lấy được hàng.
2.3. CÁC PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN ÁP DỤNG TRONG NGÀNH
XUẤT KHẨU LÚA GẠO
Việt Nam là một nước có nền nông nghiệp phát triển, thực tế đã chỉ ra cho
chúng ta thấy rằng, trong khi tình hình kinh tế suy thoái diễn ra trên toàn cầu và
ảnh hưởng xấu đến tất cả các mặt khi tiêu dùng giảm, nhiều ngành bị suy thoái
nghiêm trọng nhưng nông nghiệp vẫn giữ được biên độ của mình. Với những
nhiên, trị giá trung bình của các hợp đồng thanh toán ở thị trường này không cao
do đây là thị trường các doanh nghiệp mới xâm nhập và đa số là khách hàng
mới.
Đối với thị trường châu Mỹ, là thị trường mới của các doanh nghiệp trong
những năm gần đây, với các đối tác mới nhưng các doanh nghiệp xác định đây
là những khách hàng có khả năng thanh toán ở mức độ chấp nhận nên các doanh
Nhóm thực hiện: Nhóm 01 - Lớp: CDQT13TH Trang 17
Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh – Cơ sở Thanh Hoá
nghiệp lựa chọn hình thức thanh toán bằng TT đối với những hợp đồng giá trị
thấp.
Đối với thị trường châu Á, Thị trường này tương đối ổn định về khả năng
thanh toán nên các doanh nghiệp lựa chọn phương thức LC thay vì TT.
Tóm lại, phương thức TT được sử dụng phổ biến ở hầu hết các thị trường
trừ thị trường châu Đại Dương với một số ít đối tác quen sử dụng phương thức
LC. Do đặc điểm của phương thức thanh toán TT khá đơn giản về thủ tục và ít
tốn chi phí nên phương thức này được các doanh nghiệp ưa chuộng sử dụng.
Thanh toán bằng phương thức L/C
Đây là hình thức tốn chi phí cao nhất trong ba thức thanh toán mà các
doanh nghiệp sử dụng. Các doanh nghiệp chỉ áp dụng hình thức thanh toán này
trong các trường hợp các hợp đồng xuất khẩu có giá trị lớn hoặc đối với những
khách hàng mới, ở những thị trường mà các doanh nghiệp mới xâm nhập.
Nhìn chung, phương thức LC được sử dụng linh hoạt ở các thị trường xuất
khẩu của các doanh nghiệp do đặc điểm của nó là chi phí tương đối cao hơn các
phương thức thanh toán khác và vì thế nó được áp dụng cho các hợp đồng giá trị
lớn để có hiệu quả kinh tế.
Tuy nhiên, phương thức này cũng có những nhược điểm không thể tránh
khỏi. Khâu chuẩn bị bộ chứng từ phù hợp để xuất trình cho ngân hàng để được
thanh toán là một khâu hết sức quan trọng trong thanh toán bằng phương thức
này. Vì ngân hàng chỉ giao dịch bằng chứng từ và kiểm tra sự hợp lệ trên bề mặt
chứng từ. Các doanh nghiệp có nhận được tiền thanh toán hay không đều phụ
tiến hành giao hàng và giao bộ chứng từ gốc cùng cho bên đối tác. Hơn thế,
trong trường hợp bên nhập khẩu đang gặp khó khăn về thanh toán tiền thì hiện
tượng chiếm dụng vốn là tất yếu. Một nhược điểm khác của phương thức thanh
toán này là chưa có cơ sở pháp lý rõ ràng khi tranh chấp có xảy ra.
Tóm lại, mỗi phương thức thanh toán đều có những ưu nhược điểm riêng
nên tùy từng đặc điểm của từng thị trường, đối tác mà các doanh nghiệp lựa
chọn các phương thức khác nhau để áp dụng. Nhìn chung, hiệu quả sử dụng
phương thức thanh toán TT trong hoạt động xuất khẩu gạo của các doanh nghiệp
vượt trội hơn các phương thức còn lại. Có thể nhận thấy điều này qua việc áp
dụng phổ biến phương thức thanh toán này của các doanh nghiệp. Do phương
Nhóm thực hiện: Nhóm 01 - Lớp: CDQT13TH Trang 19
Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh – Cơ sở Thanh Hoá
thức này mang lại hiệu quả về chi phí tương đối cao mặc dù có cao hơn so với
phương thức CAD, nhưng, phương thức CAD chỉ áp dụng được hạn chế ở một
số thị trường đặc biệt.
Nhóm thực hiện: Nhóm 01 - Lớp: CDQT13TH Trang 20
Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh – Cơ sở Thanh Hoá
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP
* Đối với phương thức chuyển tiền.
Trong Thanh toán quốc tế thì phương thức này chỉ nên dùng đối với những
nhà kinh doanh XNK, cung ứng dịch vụ có quan hệ thân tín, tin cậy lẫn nhau
* Đối với phương thức thanh toán nhờ thu để hạn chế những rủi ro, các
doanh nhiệp cần phải :
- Xác định rõ điều kiện uỷ thác thu.
- Quy định rõ trong hợp đồng trách nhiệm của các bên, các phương án giải
quyết:
+ Trường hợp hàng hoá đến trước chứng từ thì giải quyết như thế nào?
+ Trường hợp nhà nhập khẩu từ chối không trả tiền hoặc không nhận hàng
thì giải quyết như thế nào: Tiến hành giảm giá để khuyến khích người nhập khẩu
nhận hàng (thường do giá cả thị trường xuống hay do lỗi của người xuất
toán làm cơ sở cho đàm phán, ký kết hợp đồng ngoại thương
sao cho đạt được những thoả thuận có lợi về phía mình.
- Các doanh nhiệp cần phải xây dựng được đội ngũ cán bộ có
trình độ chuyên môn giỏi về hoạt động thanh toán quốc tế.
Để có được như vậy, Các doanh nhiệp cần :
+ Tổ chức các lớp học nghiệp vụ ngắn hạn và dài hạn để đào
tạo sâu hơn về chuyên môn thanh toán quốc tế trong đó quan
trọng nhất là thanh toán tín dụng chứng từ.
+ Mời các chuyên gia nước ngoài về giảng dạy để các nhân
viên thanh toán có điều kiện trau dồi cả nghiệp vụ cũng như
ngoại ngữ.
+ Cử người tham gia các cuộc hội thảo, hội nghị chuyên môn
Nhóm thực hiện: Nhóm 01 - Lớp: CDQT13TH Trang 22
Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh – Cơ sở Thanh Hoá
về thanh toán quốc tế trong nước cũng như nước ngoài để tiếp
cận với các kiến thức hiện đại.
+ Cử cán bộ đi học ở nước ngoài để tiếp thu, học hỏi những
kiến thức nghiệp vụ sâu rộng của họ.
+ Đối với những người có tài năng, có trình độ chuyên môn sâu
rộng, tâm huyết với công việc cần có chế độ đãi ngộ hợp lý để
có thể khuyến khích và phát huy tài năng của họ. Đồng thời tổ
chức việc đào tạo có trọng điểm theo những tiêu chuẩn nhất
định để tạo lập đội ngũ cán bộ nòng cốt cho Các doanh nhiệp.
+ Phát huy vai trò chủ động sáng tạo của các cán bộ trực tiếp
tham gia thực hiện công tác thanh toán, tích cực lắng nghe
những ý kiến của họ, khuyến khích họ trong công việc, rút kinh
nghiệm và đưa ra những bài học trong hoạt động thanh toán
để tránh những sai sót, rủi ro.
Các doanh nhiệp cũng cần thường xuyên liên kết, phối hợp
hoạt động thanh toán với các ngân hàng, đúng đắn trong việc