1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
1.1. Trải hơn một ngàn năm lịch sử, đã có biết bao công trình nghiên cứu,
khám phá cái hay, cái đẹp của thơ Đường nhưng thơ Đường vẫn là một thế giới
còn nhiều điều bí ẩn, vẫn luôn tràn đầy sinh lực và hấp dẫn. Lựa chọn nghiên
cứu đề tài này chúng tôi mong muốn khám phá thêm một vùng đất màu mỡ còn
ẩn chứa nhiều điều thú vị trong thế giới rộng lớn của Đường Thi.
1.2. Mảng thơ khuê phụ ở Trung Quốc đã được quan tâm nghiên cứu
nhưng đến nay chưa hoàn toàn thống nhất về tên gọi, về nội hàm khái niệm, vì
vậy vẫn còn một vài điểm trống khoa học cần bổ sung. Mặt khác, nghiên cứu
sâu về mảng thơ khuê phụ này sẽ góp phần giúp độc giả yêu thơ Đường có cái
nhìn đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về diện mạo phong phú của Đường thi.
1.3. Việt Nam cũng như một số dân tộc phương Đông có mối quan hệ mật
thiết với nền văn hóa Trung Hoa, trong quá trình xây dựng ngôn ngữ thơ ca của
mình đều ít nhiều tiếp thu ảnh hưởng của thơ Đường. Vì vậy, nghiên cứu mảng
thơ này cũng có cơ sở để nghiên cứu sâu hơn mảng thơ cùng đề tài trong văn
học Việt Nam.
1.4. Hiện nay, thơ Đường vẫn được giảng dạy trong chương trình đại học,
cao đẳng và THPT ở Việt Nam. Với việc thực hiện đề tài này chúng tôi hy vọng
sẽ bổ sung một lượng kiến thức nhất định về thơ Đường, đặc biệt là về đề tài
của thơ Đường cho thực tiễn nghiên cứu và giảng dạy thơ Đường trong các nhà
trường hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu
2.1. Kiến giải những nhân tố đặc thù tạo nên sự hưng thịnh của thơ khuê
phụ đời Đường.
2.2. Nghiên cứu những đặc trưng nổi bật về nội dung và nghệ thuật của
mảng thơ khuê phụ để khẳng định vị trí và dấu ấn đặc biệt của mảng thơ này
trong toàn cảnh thơ Đường.
2.3. Khẳng định sự trưởng thành và tiến bộ trong nhận thức và tình cảm
của thi nhân đời Đường về con người và cuộc đời qua việc khám phá thế giới
Trong giới hạn đề tài, chúng tôi tổng hợp khảo cứu được 234 bài thơ về
hình tượng khuê phụ, từ các tuyển tập thơ Đường được tuyển chọn và dịch ở
Việt Nam. Ngoài ra, từ gợi ý của một số chuyên luận nghiên cứu liên quan đến
mảng thơ này chúng tôi có tham khảo thêm một số bài từ nguyên tác tiếng Hán
trong Toàn Đường thi (Bành Định Cầu).
4.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Nghiên cứu tổng thể thơ khuê phụ rất rộng, là việc làm công phu, vì vậy
chúng tôi chỉ tập trung vào những vấn đề rất cơ bản như:
- Nội dung tư tưởng chủ đạo của thơ khuê phụ qua việc “giải mã” nét đặc
trưng của chủ thể trữ tình và nhân vật trong thơ.
- Đặc trưng hình thức nghệ thuật của thơ khuê phụ trong tính cách là một
mảng đề tài của thơ Đường.
5. Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi thực hiện Luận án này dựa trên sự phối hợp của hai cách tiếp
cận: thi pháp học và văn hóa, trong đó cách tiếp cận từ thi pháp học là chủ đạo.
Đồng thời chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp liên ngành.
- Phương pháp thống kê, phân loại.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp.
- Phương pháp so sánh.
6. Cấu trúc của Luận án
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, thư mục tài liệu tham khảo, phụ lục,
phần nội dung chính của Luận án được trình bày trong 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
3
Chương 2: Sự hưng thịnh của thơ khuê phụ đời Đường
Chương 3: Chủ thể trữ tình trong thơ khuê phụ đời Đường
Chương 4: Nghệ thuật thể hiện nhân vật trong thơ khuê phụ đời Đường
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
dung sơ bộ về diện mạo của mảng thơ này.
Từ sau Ngũ Tứ, phương pháp khoa học mới tràn vào Trung Quốc, giới
nghiên cứu dần dần thoát khỏi việc phê bình kiếu ấn tượng thời kỳ trước, bắt
tay vào chỉnh lý, biên tập tài liệu một cách hệ thống. Từ đây, có nhiều luận văn
khoa học và chuyên luận nghiên cứu sâu, rộng hơn về thơ Đường, cả dưới góc
tiếp cận liên ngành.
4
Một là, các bài viết tổng hợp về cuộc sống của người phụ nữ trong thơ
Đường, trong đó cũng đề cập đến cuộc sống (nhất là cuộc sống tinh thần) của
những người phụ nữ chốn khuê phòng. Tuy nhiên, các bài viết này mới tổng
hợp hình ảnh người phụ nữ dưới thời nhà Đường thông qua thơ Đường từ góc
nhìn vĩ mô, còn những thiếu thốn, mất mát của của họ trong cuộc sống riêng tư
hay những nhu cầu khát vọng cá nhân của họ chưa được bàn đến một cách thấu
đáo. Có một số chuyên luận nghiên cứu đã trực tiếp bàn về các vấn đề liên quan
đến nội dung, nghệ thuật của thơ khuê phụ dưới tên gọi khá phổ biến là thơ
khuê oán, tuy nhiên các công trình nghiên cứu chỉ chủ yếu khám thơ khuê phụ ở
phương diện khách thể, chưa đi sâu lý giải từ phương diện chủ thể, nhất là chủ
thể trữ tình nhập vai – một đặc trưng thi pháp của mảng thơ này.
1.1.4. Về các nhà thơ tiêu biểu của thơ khuê phụ
Hình tượng nhân vật khuê phụ đã đi vào sáng tác của rất nhiều nhà thơ
đời Đường, cũng làm nên nhiều tác phẩm có giá trị trong sự nghiệp thơ ca của
những nhà thơ ấy. Vì vậy, khi tìm hiểu về các nhà thơ tiêu biểu đời Đường, các
nhà nghiên cứu không thể không nhận ra vị trí của những bài thơ thuộc mảng đề
tài này trong số những tác phẩm của họ. Từ những tư liệu tiếp cận được, chúng
tôi nhận thấy, các nhà nghiên cứu thơ Đường đều có quan điểm khá thống nhất:
Một là số lượng nhà thơ sáng tác thơ khuê phụ khá nhiều, từ thời Sơ Đường đến
thời Vãn Đường đều có nhà thơ nổi tiếng sáng tác đề tài này và để lại những tác
phẩm có giá trị. Trong đó, nhà thơ có số lượng thơ khuê phụ nhiều nhất và
thành công nhất là Lý Bạch và Bạch Cư Dị.
Mặc dù chỉ là những nhận định riêng lẻ, không mang tính hệ thống, khái
Phi đã nghiên cứu khá kĩ lưỡng và công phu thơ ca cổ Trung Quốc, trong đó có
mảng thơ khuê phụ đời Đường này. Bởi như đã nói ở trên, vì nghiên cứu rất kỹ
nên tác giả đã hiểu rõ vì sao cùng miêu tả chiến tranh khá nhiều mà thơ Đỗ Phủ,
Bạch Cư Dị để lại dấu ấn trong khúc ngâm ít hơn nhiều so với thơ Lý Bạch. Do
vậy, dù không trực tiếp bàn về mảng thơ khuê phụ đời Đường, nhưng những tài
liệu nghiên cứu về Chinh phụ ngâm trên đây của các nhà nghiên cứu Việt Nam
đã cung cấp cho chúng tôi những tư liệu quý giá cho việc thực hiện đề tài luận
án này.
Ngoài ra, nội dung và nghệ thuật của thơ khuê phụ cũng thường được
nhắc đến trong các phần giới thiệu khái quát về thơ Đường, về các tác giả cụ thể
trong các tuyển tập thơ. Một số chuyên luận nghiên cứu như của Mai Thị Thanh
Loan (2006) với đề tài Biệt ly trong thơ Đường cũng có bàn đến một số bài thơ
miêu tả nỗi niềm ly biệt của vợ chồng; Luận văn thạc sỹ của tác giả Nông Thị
Nhâm (2009) nghiên cứu trực tiếp về Thơ khuê oán đời Đường đã bàn luận đến
một vài khía cạnh nội dung, nghệ thuật của thơ khuê oán đời Đường nhưng mới
khám phá ở phương diện khách thể - nhân vật trong thơ và trong phạm vi khảo
cứu 45 bài thơ đã dịch ở Việt Nam.
1.2.3. Bàn về thơ khuê phụ trong sáng tác của một số nhà thơ tiêu biểu
đời Đường
Cũng như ở Trung Quốc, các bài thơ khuê phụ thường được bàn đến khi
nghiên cứu về các nhà thơ cụ thể. Các học giả đều nhận định: Những bài thơ
khuê phụ là một trong những đề tài sáng tác thể hiện rõ nhất tinh thần nhân đạo,
nhân văn sâu sắc của các nhà thơ. Và một trong những đại diện tiêu biểu nhất
cho đề tài thơ này là nhà thơ Lý Bạch.
Việc nghiên cứu thơ Đường ở các nước phương Tây như Nga, Mỹ hay
ở các quốc gia Châu Á khác như Nhật Bản, Hàn Quốc khá phát triển, nhưng vì
một số hạn chế nhất định, đến nay chúng tôi chưa thể tiếp cận được với những
tư liệu nghiên cứu về mảng thơ khuê phụ trong thơ Đường ở những kho tư liệu
này.
Chương 2
của một gia đình, đó cũng là hiện tượng đáng chú ý của xã hội đương thời.
2.1.1.3. Quan điểm danh lợi, phong khí du ngoạn dưới thời Đường và
những người vợ của du tử, sĩ tử, quan lại
Cũng có hoàn cảnh tương tự như những người vợ chinh nhân, thương
nhân, những người vợ có chồng làm quan nơi xa, vợ của những sĩ tử ham mê
khoa cử, vợ của những chàng du tử (những người đi du ngoạn tứ phương)
phải một mình cô quạnh nơi phòng vắng, với số lượng lớn, cũng là một hiện
tượng xã hội đáng chú ý ở thời nhà Đường. Điều này có nguyên nhân từ chính
sách khoa cử cởi mở và quan niệm về công danh sự nghiệp của người thời
Đường. Đến vương triều nhà Đường, con đường làm quan chủ yếu thông qua
khoa cử, trưng tập hoặc tham gia mạc phủ. Tuy nhiên, điều kiện để theo đuổi
công danh sự nghiệp như vậy khiến nhiều người phải dời quê hương bản quán,
vợ con để đi xa, mà con đường quan tước không phải lúc nào cũng thuận lợi,
7
ngược lại còn khó khăn muôn trùng, khó lòng thành hiện thực. Một nguyên
nhân nữa khiến rất nhiều người vợ trẻ buộc phải sống trong cảnh xa chồng biền
biệt là phong khí du ngoạn đặc biệt thịnh ở thời Đường. Du ngoạn liên quan đến
công danh sự nghiệp và du ngoạn để thưởng lãm núi sông, kết giao bè bạn.
Vì thế những người vợ của họ, lại đa số là phụ nữ trẻ, phải sống trong nỗi
sầu khổ của ly biệt tương tư, để tuổi xuân trôi qua uổng phí.
2.1.1.4. Địa vị xã hội của phụ nữ đời Đường và những người phụ nữ bị
chồng ruồng bỏ
Địa vị xã hội của phụ nữ trong xã hội phong kiến Trung Quốc tương đối
thấp. Đến thời kỳ nhà Đường với sự phát triển thịnh vượng của xã hội, địa vị
của người phụ nữ cũng được nâng lên đáng kể song quan niệm nam tôn nữ ti
vẫn thâm căn cố đế, nam giới vẫn có quyền khống chế tuyệt đối trong hôn nhân.
Pháp luật và mọi quy định trong xã hội đều không bảo vệ người phụ nữ. Hơn
nữa, thời nhà Đường, xã hội phát triển, kinh tế phồn thịnh, văn hóa cởi mở, đàn
ông càng có dịp giao lưu bên ngoài, du ngoạn tứ phương mở rộng tầm mắt. Vì
thế họ cũng có nhiều cơ hội để ruồng bỏ người vợ cũ, tìm hạnh phúc mới. Mặc
thậm chí lạc quan nơi biên cương, sa trường để tìm kiếm đường đi.
Với vốn sống nhiều, thâm nhập đời sống thực tế sâu, rộng và nỗi lòng “ưu
thời mẫn thế” của các thi nhân đời Đường đã khiến họ lắng nghe, thấu cảm,
đồng điệu với những khuê phụ bất hạnh, thôi thúc họ viết nên những bài thơ về
đề tài này một cách sâu sắc, cảm động nhất. Đó là một lý do quan trọng để thơ
khuê phụ có thể đến với quảng đại quần chúng, có sức sống lâu bền, được lưu
truyền rộng rãi.
2.2. Thơ Khuê phụ trong dòng chảy thơ ca Trung Quốc
2.2.1. Thơ khuê phụ trong Kinh thi
Nếu xem Kinh Thi là ngọn nguồn của thơ ca Trung Quốc thì cũng có thể
nói Kinh thi là ngọn nguồn của dòng thơ “khuê phụ”. Trong Kinh thi, thơ khuê
phụ chủ yếu tập trung ở Quốc phong (18 bài) và Tiểu nhã (3 bài). Những bài
thơ hay nhất diễn tả những nhớ thương, đau khổ vì sinh ly tử biệt của người phụ
nữ cô đơn nơi phòng khuê phải kể đến Bá hề (Vệ phong); Quân tử vu dịch
(Vương Phong); Ân kỳ lôi (Thiệu Nam); Quyển nhĩ (Chu Nam); Cát sinh
(Đường Phong)…
Trong thời đại Kinh thi, nỗi oán hận sầu thương của bao nhiêu phụ nữ vì
vợ chồng ly biệt không chỉ có nguyên nhân từ chiến chinh, lao dịch. Đôi khi
những người vợ buộc phải xa chồng, sống trong cảnh phòng không, gối lạnh
còn vì một hệ lụy của chế độ đa thê: Bị chồng ruồng bỏ. Là tập thơ đầu nguồn
của thơ ca Trung Quốc, Kinh thi với cách biểu hiện rất hồn nhiên, thuần phác đã
lần đầu tiên phác thảo dòng tâm tư thầm kín của những người phụ nữ cô đơn
nơi phòng khuê với tình điệu bi thương ai oán. Nhưng chính cái tình điệu bi
thương ai oán ấy đã tạo nên vẻ đẹp riêng cho dòng thơ “khuê phụ”. Bởi như Kê
Khang trong Cầm phú, tự có viết: “Cầm phú kỳ thanh âm, tắc dĩ bi ai vi chủ;
thi mỹ kỳ cảm hóa, tắc dĩ thùy thế vi quý” (tiếng đàn hay vì âm thanh bi ai, lời
thơ cảm động vì khiến người rơi lệ).
2.2.2. Thơ khuê phụ trong thơ ca Tần Hán
Tiếp nối mạch nguồn trong sáng, thuần khiết từ Kinh thi, dòng thơ khuê
phụ đến dân ca nhạc phủ đời Hán đã phát triển thêm một bước mới.
hoặc Tạ Diểu có bài Ngọc giai oán, một bài thơ xinh xắn mà sau này Lý Bạch
chịu ảnh hưởng sâu sắc khi sáng tác bài thơ cùng tên…
Như vậy, thơ khuê phụ đến Lục triều đã có những bước đột phá với
những hình ảnh, ý tượng thơ mới mẻ, sáng tạo, tâm lý nhân vật được lột tả tinh
tế, sâu sắc. Đặc biệt, với cách tự sự khách quan: nhân vật ở ngôi thứ nhất, thế
giới tâm trạng của nhân vật tự bộc lộ một cách tự nhiên, chân thực. Nói chung,
thơ khuê phụ đến thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều đã tạo được khuôn hình rõ nét,
tạo đà cho sự phát triển rực rỡ ở thời Đường.
2.2.4. Thơ khuê phụ ở đời Đường
Với nền móng mà những thế hệ đi trước đặt ra, các thi nhân nhà Đường
đã dần phát triển, mở rộng đề tài thơ khuê phụ và đạt được những thành tựu rực
rỡ không chỉ trong nội dung sáng tác mà cả về biện pháp nghệ thuật. Số lượng
các nhà thơ lấy “khuê phụ” làm đề tài sáng tác tăng gấp nhiều lần các thời kỳ
trước, trong đó có những nhà thơ nổi tiếng như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị,
Vương Xương Linh
Ngay từ thời kỳ đầu, thơ khuê phụ đời Đường mặc dù chưa thoát khỏi lối
thơ ca phù hoa diễm lệ thời trước, nhưng trong lời thơ vẫn có thể nhận ra được
khí phách và hơi thở của Đường thi. Tiêu biểu như bài Xuân giang hoa nguyệt
dạ của Trương Nhược Hư; Khuê oán của Từ Ngạn Bá; Tạp thi, Cổ ý của Thẩm
Thuyên Kỳ…Đến thời Thịnh Đường, Trung Đường thơ khuê phụ phát triển và
có nhiều thành tựu rực rỡ: Số lượng nhiều, nội dung tư tưởng sâu sắc tiến bộ,
mở rộng không gian biểu hiện thơ, phản ánh hiện thực phong phú, khách quan.
10
Thơ không chỉ giới hạn trong khuê các mà đã hòa vào một số vấn đề xã hội,
tình cảm biểu hiện sâu sắc hơn đã thoát li khỏi khuôn mẫu thơ khuê phụ Nam
triều. Nhiều tác phẩm miêu tả nhân vật tinh tế, điêu luyện, biểu hiện rõ khí chất
cá nhân và thế giới tinh thần khác biệt của con người, như Khuê oán của Vương
Xương Linh; Xuân tứ, Xuân oán, Trường Can hành…của Lý Bạch; Khuê phụ
của Bạch Cư Dị; Xuân oán của Kim Xương Tự; Dạ địch từ của Thi Kiên
Ngô…Thời Vãn Đường, như phong cách chung của thơ ca thời kỳ này, thơ
trực tiếp ở mảng thơ này chính là các nhà thơ nữ và chủ yếu, những câu chuyện
được kể trong thơ là những câu chuyện, những cảm xúc mà họ đã trải nghiệm
trong cuộc đời thực. Tuy nhiên, số lượng bài thơ có biểu hiện của chủ thể trữ
11
tình trực tiếp không nhiều, tỷ lệ rất ít so với kiểu chủ thể trữ tình nhập vai. Ở
mảng thơ này, một hiện tượng phổ biến là “nam tử tác khuê âm” (những nhà
thơ nam nói thay lời của những người phụ nữ trong phòng khuê). Việc nhiều
nhà thơ nam ở đời Đường đã lựa chọn mảng đề tài về người phụ nữ trong khuê
phòng để sáng tác chứng tỏ nhận thức về phụ nữ, về xã hội ở thi nhân đời
Đường đã thay đổi.
3.2. Chủ thể trữ tình trong sáng tác của nữ thi nhân
3.2.1. Chủ thể trữ tình trực tiếp
3.2.1.1. Điểm nhìn của chủ thể trữ tình
Ở đây, chủ thể trữ tình trực tiếp là hiện tượng tự thuật tâm trạng, người
khuê phụ tự bạch nỗi lòng (khuê phụ nhân làm khuê phụ thi). Do đó cái nhìn
của chủ thể trữ tình trùng khít với cái nhìn của chủ thể sáng tác, mang đậm đặc
trưng giới. Khi viết về chính mình, về mong muốn của mình, nữ giới ít khi ca
ngợi vẻ đẹp của bản thân. Họ thường say sưa với con người bên trong của mình,
nhìn sâu vào con người bên trong của mình, muốn thể hiện tâm tư, khát vọng
của mình, thơ thường đặc tả chi tiết nội tâm. Vì vậy, nữ giới thường tập trung
vào tất cả những gì xung quanh họ, không gian đều bị bó hẹp hơn so với cái
nhìn của nam giới, họ gần như không đụng chạm đến các vấn đề xã hội, chỉ chú
trọng tình cảm cá nhân. Tình cảm của người khuê phụ được chôn nén tận đáy
lòng. Dù là diễn đạt sự đau khổ nhưng họ vẫn giữ thái độ nhẹ nhàng, lễ tiết.
Hầu hết họ đều mong muốn tìm được một bờ vai để nương tựa, quay về với
những trật tự xã hội cũ. Họ oán nhưng không giận, bất bình nhưng lại nhớ
nhung, dịu dàng, bao dung. Vẻ đẹp đầy nữ tính (chủ yếu là vẻ đẹp tâm hồn) vì
thế luôn được bộc lộ một cách tự nhiên, chân thực. Đó là cái đẹp đặc trưng của
tình yêu người phụ nữ, một cái đẹp hiền dịu và bi kịch.
3.2.1.2. Thông điệp từ chủ thể trữ tình
nhan sắc. Đỗ Thu Nương trong Kim lũ y đã trình bày trọn vẹn quan điểm
này.Với những người phụ nữ bé nhỏ ấy, người chồng và hạnh phúc gia đình
mới là mối quan tâm đặc biệt, những vấn đề chính trị, xã hội hiếm khi xuất hiện
trong thơ của họ, nếu có cũng là vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống cá
nhân.
3.2.2. Nhà thơ nữ nhập vai khuê phụ
Trong xã hội mà nam quyền là trung tâm, tiếng nói của phụ nữ bị trói
buộc bởi những tiêu chuẩn thẩm mỹ, tiêu chuẩn giá trị và tiêu chuẩn đạo đức
mà xã hội đó bắt người phụ nữ phải tuân theo. Vì thế, trong văn học cổ Trung
Quốc, rất nhiều nhà thơ nữ khi sáng tác hoặc là đặt bản thân mình vào vị trí lệ
thuộc vào đàn ông để ngâm xướng nỗi khổ tương tư, oán hận bi thương; hoặc là
làm mờ bản chất phụ nữ bắt chước theo tiếng nói của đàn ông, nhằm thích ứng
với “quy tắc đàn ông”, hay chính xác là để được giống như đàn ông, để có thể
thực hiện được lý tưởng của mình. Trong số những nữ thi nhân đời Đường, Lý
Trị (Lý Kỷ Lan) và Tiết Đào là những người theo phong cách thứ hai, thơ ca
mang đậm phong cách nam nhi. Do đó, điểm nhìn của chủ thể trữ tình trong
sáng tác của Tiết Đào, Lý Trị không trùng với điểm nhìn của chủ thể sáng tác.
Điểm nhìn của chủ thể trữ tình vẫn là điểm nhìn của người khuê phụ nhưng
được khúc xạ qua hai lớp: nhà thơ nữ vị trí đàn ông khuê phụ. Ở đây, nhà
thơ nữ đã làm mờ bản chất giới tính của mình, mượn vị trí một người đàn ông,
phong cách đàn ông để nhập vai khuê phụ, diễn tả tâm tình của người khuê phụ.
Nếu các nhà thơ nam giới khi nói thay lời khuê phụ thường cố gắng để
nói giống lời khuê phụ, thơ ca thường “nữ tính hóa” thì những nhà thơ nữ mượn
vị trí đàn ông mà vào vai khuê phụ lại cố gắng nói cho giống phong cách của
nhà thơ nam giới, thơ ca vì thế mạnh mẽ, phóng khoáng khác hẳn cái nhìn nữ
giới bình thường.
3.3. Chủ thể trữ tình nhập vai - “nam tử tác khuê âm”
3.3.1. Nguyên nhân của hiện tượng nam tử tác khuê âm (Nhà thơ nam
giới viết thay lời người nơi khuê phòng)
13
được khúc xạ qua lăng kính của nam thi nhân nên mang những dáng vẻ, đường
nét theo quan điểm của những người đàn ông trong xã hội đương thời. Đó là lí
do ta thường gặp hình ảnh những khuê phụ với những vẻ đẹp rất truyền thống:
dáng điệu mềm mại, tha thướt như liễu, như hoa, dịu dàng, ôn hòa như ánh
trăng và nhất là vẻ thuần khiết, cao thượng, nhẫn nại, hy sinh. Một điểm đáng
chú ý nữa là, chủ thể trữ tình trong các sáng tác của nhà thơ nam giới thường để
lộ tâm thái tự xót thương mình rất rõ nét, điều này ít gặp ở các sáng tác của nhà
thơ nữ. Đây rõ ràng là tâm thái được phản chiếu từ điểm nhìn của chủ thể sáng
tác, những nhà thơ nam giới đã đồng cảm, xót thương cho những người phụ nữ
cô đơn nơi phòng khuê và giọng điệu cảm thương trở thành giọng điệu chính
trong mảng thơ này.
14
Mặt khác, được phản chiếu dưới góc nhìn đàn ông, điểm nhìn của chủ thể
trữ tình không chỉ giới hạn ở cái nhìn phụ nữ. Nội dung thơ thường được mở
rộng phạm vi biểu hiện, không chỉ phản ánh đời sống tình cảm cá nhân người
khuê phụ mà còn hàm chứa các vấn đề xã hội. Đó là lý do mà các tác phẩm của
nhà thơ nam giới thường có bối cảnh không gian rộng lớn, khoáng đạt, tạo được
những ý cảnh nghệ thuật đặc sắc, điều hiếm gặp trong sáng tác của nữ thi nhân.
Cũng xuất phát từ góc nhìn đàn ông nên điểm nhìn tâm lý ở chủ thể trữ tình
trong sáng tác của nam giới bao giờ cũng thẳng thắn, táo bạo hơn trong thơ nữ
giới. Cũng ở mảng thơ này, nhưng trong sáng tác của các tác giả nữ những “ám
ảnh tình dục” ít được bộc lộ hơn các nhà thơ nam giới. Nhu cầu bản năng ở các
nhà thơ nữ thường bộc lộ rất xa xôi mờ nhạt, chưa dám trực diện phản ánh
những đòi hỏi tự nhiên này như trong thơ nam giới. Điều này một phần do số
lượng nhà thơ nữ còn khá khiêm tốn trên thi đàn, số lượng sáng tác của mỗi nhà
thơ cũng ít ỏi, hơn nữa về mặt tư tưởng lại bị ràng buộc nhiều hơn so với các
nhà thơ nam giới. Các nhà thơ nữ chủ yếu là khẳng định các giá trị nữ tính: sự
yếu mềm, sự hy sinh, tình yêu sâu sắc thủy chung, bao dung, như một cách thu
hút sự chú ý của nam giới (người chồng của mình). Các nhà thơ nam giới bao
giờ cũng có thể chủ động hơn, lại có một khoảng cách an toàn nhờ “mặt nạ nữ
Ngoài những ngụ ý về mối quan hệ giữa bề tôi với quân vương, các nhà
thơ còn ký thác tâm sự về những vấn đề chính trị xã hội khác được nhiều người
chú ý trong xã hội đương thời, chẳng hạn sự bất công trong xã hội, nhất là một
vấn đề chính trị đầy tính thời sự và nhức nhối dưới thời Đường mà các thi nhân
đặc biệt quan tâm là vấn đề chiến tranh.
Có thể nói rằng, những bài thơ thể hiện rõ ngụ ý chính trị của tác giả như
các sáng tác của Bạch Cư Dị không nhiều. Tuy nhiên, căn cứ hoàn cảnh sáng
tác của bài thơ, những tư liệu về chân dung và cuộc đời tác giả, nhất là qua thơ
ta có thể liên tưởng đến những tâm sự về thời cuộc mà tác giả có thể đã gửi gắm
vào hình tượng nhân vật khuê phụ.
3.3.4. Chủ thể trữ tình nhập vai
3.3.4.1. Mục đích và ý nghĩa của sự nhập vai
Chủ thể trữ tình nhập vai là hiện tượng độc đáo và phổ biến của mảng thơ
khuê phụ đời Đường. Tuy nhiên, không phải tất cả các tác phẩm viết thay, nói
hộ của nhà thơ nam giới đều có chủ thể trữ tình nhập vai. Trong một số tác
phẩm, chủ thể trữ tình chỉ là người kể chuyện, nói hộ tâm trạng của nhân vật
trong thơ, thường có xen lẫn cảm xúc, sự bình giá của chủ thể trước câu chuyện
của nhân vật. Cũng có những tác phẩm, chủ thể trữ tình thể hiện ở cả hai cấp
độ: Người dẫn dắt câu chuyện và nhập vai như trong bài Khuê oán của Vương
Xương Linh. Ở hai câu đầu, chủ thể trữ tình vẫn ở vị trí người kể chuyện, người
nói hộ nhưng đến hai câu cuối, bắt đầu từ chữ “hốt kiến” chủ thể trữ tình đã
nhập vai, cùng trải nghiệm cảm xúc đốn ngộ thực sự với người khuê phụ. Chính
sự nhập vai đột ngột này đã tạo ra sức hút của bài thơ, bất ngờ tạo nên cái thần
cho nhân vật khuê phụ, khiến nhân vật trở nên sống động, tự nhiên, chân thực.
Như vậy, sự nhập vai của chủ thể trữ tình là có chủ đích, có chủ công của tác
giả, nhằm mang đến cho hình tượng nhân vật sự chân thực, tự nhiên, sống động,
làm mờ bản chất viết thay, nói hộ của tác phẩm. Những vấn đề được phản ánh
trong tác phẩm là những vấn đề trung thực, khách quan nhất, giàu hiện thực và
khái quát nhất.
Mặt khác, sự nhập vai của chủ thể trữ tình có ý nghĩa như một cách trải
âm. Bởi lẽ, hoàn cảnh, địa vị của nam giới khác nữ giới, họ trưởng thành hơn
nữ giới trong nhận thức và tình cảm. Do đó họ nói được cả những vấn đề cần
thiết cho phụ nữ mà phụ nữ không dám nói, không dám mơ ước hoặc thậm chí
chưa thể nghĩ đến.
3.3.5. Những quan niệm nhân sinh mới mẻ
Trước tiên, ý thức về nỗi thống khổ của cuộc sống nhân sinh, đặc biệt là
cuộc sống của những người phụ nữ trong xã hội đương thời, những nhà thơ nam
giới, với trách nhiệm của người nghệ sĩ và cả dưới góc độ nam tính đã bày tỏ sự
đồng cảm, tình thương sâu sắc đối với những người phụ nữ phải sống trong ly
biệt. Không hiểu và cảm thông cho nỗi lòng người khuê phụ, các nhà thơ không
thể phân tích, lý giải những diễn biến tâm lí phức tạp, tinh tế của nhân vật: nhớ
thương, sầu hận, oán hờn và cả những khát khao âm thầm, mãnh liệt của người
phụ nữ chốn phòng the. Các nhà thơ đã quan sát rất tỉ mỉ mọi hành động, cử
chỉ, sinh hoạt hàng ngày của người khuê phụ để chia sẻ và đặt mình vào cảnh
ngộ của họ mà thổ lộ tâm tư.
Với những người nghệ sĩ, xót thương cho nỗi khổ đau của người phụ nữ
không chỉ là xót thương cho nỗi khổ đau của con người, đó còn là sự xót
thương cho cái Đẹp, vì phụ nữ là hiện thân cho cái Đẹp. Đây chính là một biểu
hiện của tinh thần nhân văn mới mẻ, tiến bộ của thi nhân đời đường.
17
Không dừng lại ở cảm hứng xót thương thấm đượm tinh thần nhân đạo
cao cả các nhà thơ đời Đường còn gửi gắm một quan niệm nhân sinh tiến bộ:
Bênh vực cho quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc cá nhân của người
phụ nữ. Các nhà thơ Đường ca tụng vẻ đẹp của nữ giới mang một màu sắc duy
mỹ, thể hiện sự trân trọng, yêu mến đối với người phụ nữ và cả sinh mệnh con
người. Vì thế, những khuê phụ đã xuất hiện trong mảng thơ này với bao vẻ đẹp
thuần khiết, cao thượng. Vì lẽ đó, khi những con người ấy không được hưởng
một cuộc sống bình thường các nhà thơ đã lên tiếng đòi quyền sống, quyền
được hưởng hạnh phúc cá nhân cho họ. Ở đây, các nhà thơ nam giới đã lựa
chọn phản ánh những nhu cầu hạnh phúc rất riêng tư, rất đời thường: Hạnh
18
Trong truyền thống thi ca Trung Quốc, phương thức dùng cảnh ngụ tình,
hài hòa giữa cảnh và tình để tạo nên những cảnh giới nghệ thuật đặc sắc “tình
cảnh giao dung” được xem là một phạm trù thẩm mỹ quan trọng. Thơ khuê phụ
đời Đường cũng không nằm ngoài phương thức nghệ thuật ấy. Những cảnh vật
trong thơ khuê phụ là những cảnh có đặc điểm, cá tính như tâm trạng của người
khuê phụ, giúp chủ thể trữ tình có thể dễ dàng diễn đạt những tâm tư sâu kín,
khó nói nhất.
Hình ảnh tương đồng thường xuất hiện trong thơ để lột tả hoàn cảnh, thân
phận lẻ loi, cô đơn của người khuê phụ như: bối cảnh mùa thu, mùa đông với
những phai tàn, lạnh giá; những đêm trăng khuya; những sự vật đơn lẻ, một
mình…Trong phạm vi 234 bài thơ khuê phụ, bối cảnh mùa thu đã xuất hiện
trong 37 bài, hình ảnh đêm trăng xuất hiện trong 42 bài, thời gian đêm khuya
xuất hiện trong 61 bài. Mùa thu lạnh lẽo, phai tàn thường tương cảm với nỗi cô
đơn sầu muộn nơi lòng người khuê phụ. Mỗi đêm trăng khuya lạnh càng làm
nổi rõ hơn tình cảnh buồn thương của người vợ thiếu vắng chồng.
Những hình ảnh đối lập được miêu tả nhiều là bối cảnh mùa xuân (xuất
hiện trong 45 bài) và các sự vật có đôi có cặp, quấn quýt. Mùa xuân là biểu
tượng cho tuổi trẻ, tình yêu, hạnh phúc, mùa xuân bao giờ cũng ngập tràn sức
sống, nó hoàn toàn đối lập với cuộc sống hoang vắng, ngưng bế, thiếu sinh khí
của người khuê phụ, làm tăng thêm mối sầu hận, xót thương trong lòng họ.
4.2.1.2. Thủ pháp lấy “mộng” nói thực
Phải làm gì để thoát khỏi nỗi khổ đau? Đó là câu hỏi muôn thuở của con
người muôn đời. Trong nghệ thuật và thi ca nói riêng, mơ ước và tưởng tượng
là cách hóa giải đẹp nhất mọi bi kịch. Đường Đắc Dương trong Cội nguồn văn
hóa Trung Hoa từng nhận xét: “Nhân tố giải tỏa ý thức bi kịch của Trung Quốc
chủ yếu có tiên, giới tự nhiên, rượu và mộng”. Vì thế, không phải ngẫu nhiên,
những khuê phụ khổ sầu trong thơ Đường lại hay giả tưởng, hay “mộng”.
Như vậy, để diễn tả nỗi nhớ mong chồng da diết của thiếu phụ, thi nhân
không cần kỳ công phân tích nội tâm nhân vật mà khai thác tính thống nhất
biểu tượng Gió trong văn hóa. Người Trung Quốc xưa cũng quan niệm Gió có
chức năng mang thông tin, Gió đồng nghĩa với Khí, vì thế Gió đã trình hiện
trong mảng thơ “khuê phụ” đời Đường như một nhân vật đặc biệt: Khi là ngọn
gió xuân dạt dào xúc cảm yêu đương, khi là ngọn gió thu cô đơn, lạnh giá, khi
là ngọn gió đông đau đớn thét gào… Với người khuê phụ, Gió là bạn mà Gió
cũng là người đưa thư. Chỉ có Gió mới có thể vượt mọi trở ngại về không gian,
mang nỗi niềm của người vợ trẻ đến bên chồng.
Nếu Gió có chức năng mang thông điệp, thậm chí có lúc được đồng nhất
với người chồng thì Trăng là “âm” là “biểu tượng của bản nguyên thụ động
nhưng giàu sức sinh sản, của đêm, trí tưởng tượng, mộng mơ, khả năng thụ
cảm, nữ giới”. Vầng trăng trong tâm thức văn hoá Trung Hoa có nhiều lớp
nghĩa tương tự: vầng trăng viên mãn tượng trưng cho sự đoàn viên, trăng còn
liên quan chặt chẽ tới tình yêu và hôn nhân, trăng cũng hiện thân cho nữ tính,
cho cái đẹp; hình ảnh trăng khuyết, trăng tròn cũng là sự chảy trôi của thời
gian…Vì thế Trăng đi vào thơ Khuê phụ đời Đường như một nhân vật sống
động, được đồng nhất với những người tư phụ: cũng đẹp mà cô đơn. Trăng là
thiên thể của ban đêm, sáng trong nhất giữa không gian mênh mông tăm tối. Và
đêm, cũng là khi nỗi nhớ nhung, sầu muộn trào dâng mãnh liệt nhất trong lòng
người khuê phụ. Khi ấy Trăng – vầng sáng của đêm (hay của tâm hồn con
người) được xem như một tri kỷ, thấu cảm nỗi lòng, tình cảnh của người khuê
phụ cô đơn.
Biểu tượng Hoa: Hoa từ thế giới tự nhiên đi vào thơ cổ Trung Hoa đã
thành biểu tượng về thời gian, là cảm thức về thời gian; hoa cũng được đồng
nhất với người phụ nữ, với nhan sắc, tuổi xuân của người phụ nữ. Ngắm nhìn
nhan sắc của hoa đào mà quặn lòng nghĩ tới tuổi xuân nhan sắc của mình cũng
20
đang trôi đi vô nghĩa. Người khuê phụ đặc biệt nhạy cảm với sự “nở’, “tàn” của
hoa, vì nó thường ám chỉ bước đi khắc nghiệt của thời gian, sự hữu hạn của đời
người, của tuổi xuân và nhan sắc.
Biểu tượng Chim: Ở Trung Quốc xưa, do địa hình cách trở, đi lại khó
trong văn học mà còn được sử dụng nhiều trong sân khấu, điện ảnh. “Cảnh
huống” là cảnh ngộ, tình trạng nào đó mà con người gặp phải trong cuộc sống.
Đó thường là những sự kiện, tình thế bất thường, thậm chí là bi kịch của cuộc
sống, nó đòi hỏi con người phải có những ứng xử, lựa chọn phù hợp, do đó nó
cũng góp phần làm nổi bật tính cách, tâm trạng con người. Cảnh huống nghệ
thuật là những cảnh huống đời thường được nhà văn, người nghệ sĩ lựa chọn
đưa vào tác phẩm phục vụ cho ý đồ nghệ thuật của tác giả.
21
Trong mảng thơ khuê phụ đời Đường, cảnh huống nghệ thuật là những
dòng sự kiện, những khoảnh khắc điển hình được lựa chọn để làm nổi bật tâm
trạng, nhận thức và thân phận đáng thương của những khuê phụ, tiêu biểu là:
các hành động tựa cửa, lên lầu, khóc, soi gương, giặt áo, may áo, gửi áo.
Theo thống kê của chúng tôi, hình ảnh lên lầu, tựa cửa xuất hiện trực tiếp
trong 25 bài; khóc, lệ (nước mắt, biểu hiện của khóc) đã xuất hiện trong 50 bài;
soi gương và gương đã xuất hiện trong 27 bài, đập áo, may áo, gửi áo…xuất
hiện trong 25 bài.
4.2.3.1. Lên lầu, tựa cửa
Đây là cảnh huống thường xuyên xuất hiện trong cuộc sống của những
khuê phụ xa chồng, là biểu hiện của tâm trạng mong ngóng tin chồng. Khoảnh
khắc tựa cửa, lên lầu đều tôn nổi tâm trạng chờ đợi hoài mong, trông ngóng tin
chồng của người khuê phụ nhưng tựa cửa còn vẽ ra một dáng vẻ khác, dáng vẻ
của những thiếu phụ u buồn, thẫn thờ. Cũng ngóng trông đấy nhưng hình như
đã chứa đầy tuyệt vọng, chán nản vì nỗi ngóng trông đã quá dài…
4.2.3.2. Khóc
Nước mắt và khóc là biểu hiện của nỗi đau khổ bật ra bên ngoài. Người
phụ nữ vốn dĩ yếu mềm, khó kìm nén được những khổ đau, sầu muộn bên trong
nên thường hay rơi lệ. Hình ảnh lệ như mưa, lệ như suối hay lệ đầm gối chăn…
là đặc tả những nỗi khổ đau mà khuê phụ đang phải chịu đựng.
4.2.3.3. Soi gương
“Gương” và “soi gương” lại phản ánh tâm trạng bi thương ở một góc độ
xa. Vì thế hình ảnh giặt áo, may áo, gửi áo đã trở thành hình ảnh điển hình gắn
với người chinh phụ dưới thời Đường. Nhất là “tiếng đập áo” (đảo y thanh) đã
trở thành một biểu tượng đẹp không chỉ khi xây dựng hình tượng nhân vật
chinh phụ mà nó còn xuất hiện nhiều trong thế giới Đường thi với những cảm
khái đặc biệt.
PHẦN KẾT LUẬN
1. Kết luận khoa học chủ yếu:
Thơ khuê phụ là mảng thơ có nét khác lạ trong vườn thơ ca cổ điển Trung
Quốc. So với các mảng đề tài khác như tống biệt, biên tái, sơn thủy, điền viên…
thơ khuê phụ chiếm một số lượng khiêm tốn hơn. Song, với tên tuổi của những
nhà thơ không chỉ nổitiếng ở thời kỳ nhà Đường như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch
Cư Dị, Vương Xương Linh…cùng những bài thơ có giá trị, sống mãi với thời
gian, thơ khuê phụ đã tạo được một dấu ấn đậm nét trên thi đàn đời Đường.
Dựa trên những phân tích, kiến giải cụ thể và kết quả khảo cứu 234 bài thơ,
chúng tôi đi đến một số kết luận khoa học chủ yếu như sau:
1.1. Như một dòng chảy nhỏ xuyên suốt, thơ khuê phụ xuất hiện từ Kinh
thi đến Đường thi thì gặt hái được những thành tựu rực rỡ. Ngoài nguyên nhân
nội tại: sự phát triển tự thân của văn học, bối cảnh xã hội rộng lớn với bầu
không khí sôi nổi, phát triển mạnh mẽ, đa dạng, nhiều màu sắc cũng là nguồn
chất liệu dồi dào tạo nên sức sống cho thi ca. Con người đời Đường không chỉ
quan tâm đến lý tưởng, hoài bão, những biến động lớn lao của thời đại, họ còn
lắng nghe, nhìn thấu cả những câu chuyện riêng tư nhất của đời sống cá nhân.
Khi bên ngoài xã hội rộng lớn là sự tham dự sôi nổi của những người đàn ông
trong bước đường mưu sinh và mưu cầu lý tưởng, thì nơi phòng khuê chật chội,
tù túng, những người vợ bị bỏ lại một mình với nỗi cô đơn sầu muộn lớn dần
theo ngày tháng. Nỗi buồn thương của những con người bé nhỏ, không được
nắm bắt được vận mệnh của chính mình khi ở vào phạm vi thương tâm nhất của
kiếp người đã chạm đến đáy sâu lòng trắc ẩn của các nhà thơ. Và bằng tấm
lòng, tài năng của mình, các nhà thơ đã ghi lại những câu chuyện ấy làm xúc
động lòng người, khiến xã hội cũng quan tâm chú ý. Từ đó người ta cũng quan
thể nói, trong xã hội mà mọi quyền lợi, địa vị đều nghiêng về nam giới, pháp
luật không bảo vệ người phụ nữ, việc rất nhiều nhà thơ nam giới đã đồng cảm
sâu sắc, chia sẻ những đau khổ, bất hạnh và nói hộ những khát vọng riêng tư
thầm kín rất phụ nữ, rất con người của những khuê phụ đã thể hiện sự trưởng
thành vượt bậc trong nhận thức tư tưởng và tình cảm của các thi nhân đời
Đường.
1.4. Xuất phát từ những quan niệm nghệ thuật về con người và cuộc đời
có nhiều điểm mới mẻ, giàu tinh thần nhân đạo và nhân văn cao cả các nhà thơ
Đường đã xây dựng được những hình tượng nhân vật khuê phụ thành công
nhất, có những điển hình cho nghệ thuật miêu tả nhân vật trong thơ ca cổ điển
Trung Quốc. Điểm thành công tạo nên sự khác biệt trong nghệ thuật xây dựng
nhân vật của các nhà thơ Đường như Lỗ Tấn nhận xét “xưa nay chưa từng có”
24
là biện pháp phân tích diễn biến tâm lý tinh tế, hàm súc mà sau này vẫn quen
gọi là “phép biện chứng tâm hồn”.
Với hệ thống nhân vật phong phú, đông đảo người đọc có thể nhận thấy
góc quan sát đời sống sâu sắc và toàn diện của các nhà thơ. Dưới con mắt thẩm
mỹ trực quan, các nhà thơ miêu tả khá chính xác diện mạo, tâm trạng của từng
đối tượng nhân vật tiêu biểu cho một bộ phận phụ nữ trong xã hội. Có những
nét đặc trưng thống nhất nhưng vẫn có những nét riêng biệt, cá tính của mỗi
thân phận, ở mỗi hoàn cảnh khác nhau. Đó là điểm tạo nên nét chân thực sống
động cho nhân vật và sức hấp dẫn cho thơ.
1.5. Tóm lại, từ việc tìm hiểu những con người cá nhân đau khổ trong
mảng thơ khuê phụ này chúng ta phần nào khám phá được vẻ đẹp quyến rũ của
vườn thơ Đường rộng lớn. Thông qua hình tượng nhân vật khuê phụ, các nhà
thơ không chỉ “phản ánh, lý giải hiện thực thực tại" mà còn “tạo ra một thế giới
ứng với những nhu cầu và định hướng về tinh thần của con người”. Có lẽ, lần
đầu tiên ở một xã hội vốn không coi trọng phụ nữ, không cởi mở với chữ Tình
(tình yêu nam nữ), ý thức về cá nhân và những nhu cầu rất Người đã trỗi dậy.
Đặc biệt, tiếng nói thống thiết của những người phụ nữ bất hạnh ấy lại chủ yếu