MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Kí là một loại hình văn học chiếm vị trí quan trọng song rất khó có thể
xác định được đặc trưng bởi tính chất đa dạng và phức tạp của nó. Các tác phẩm
kí ra đời từ sớm, sáng tác kí bao hàm một phạm vi văn bản rất rộng (trong văn
học, những gì không thuộc các thể loại tự sự trữ tình, chính luận, kịch đều được
xếp vào thể loại kí). Kí lại gồm nhiều thể loại rất khác biệt, khó có thể tìm ra
một đặc trưng chung: bút kí, phóng sự, truyện kí, kí sự thiên về tự sự; tản văn,
tùy bút thiên về trữ tình; tiểu luận thiên về nghị luận. Trong lịch sử phát triển
lâu dài, diện mạo của kí lại không ngừng thay đổi, khiến những tác phẩm kí ra
đời muộn sau này như bút kí, phóng sự khác rất xa với các tạp kí, bi kí, kí sự
được hình thành ở chặng đầu phát triển của thể loại. Tất cả những lí do này
khiến cho việc xác định đặc trưng của loại hình văn học này trở thành một thách
thức không nhỏ đối với các nhà nghiên cứu.
1.2. Trong tư duy lí thuyết Việt Nam, từ trong các tự, bạt, khảo cứu thời
trung đại, đến các công trình phê bình văn học, văn học sử, lí luận văn học hiện
đại, người ta thường cho rằng ghi chép sự thật là đặc trưng quan trọng nhất của
kí. Tuy nhiên, vì sự thật thường được xác định trong quan hệ đối lập với hư cấu,
cho nên việc xác định tiêu chí đánh giá sự thực, mức độ và phạm vi hư cấu là
những vấn đề gây rất nhiều tranh luận, đặc biệt là hai cuộc tranh luận về nghệ
thuật tả chân những năm 1936-1939 và cuộc tranh luận về kí những năm 1960.
Mặt khác, cách kiến giải đặc trưng của kí theo cách này đã không thể giải quyết
một cách triệt để một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn sáng tác. Chính vì thế, thiết
nghĩ cần có một cách tiếp cận khác đối với loại hình văn học này.
1.3. Từ những năm đầu thế kỉ XX, trên thế giới, đã xuất hiện một bước
chuyển biến quan trọng trong tư duy lí thuyết của các ngành khoa học xã hội và
nhân văn, được gọi là khúc ngoặt ngôn ngữ. Trên cơ sở sự thức tỉnh sâu sắc về
vai trò, chức năng và bản chất của ngôn ngữ, các tư tưởng gia như M.Bakhtin,
Foucault, R.Barthes, J.Derrida đã cắt nghĩa lại rất nhiều những vấn đề cốt yếu
như thực tại, chủ thể, sự thật, căn tính Xuất phát từ nền tảng này, một mô hình
nghiên cứu văn học, văn hóa mới đã dần dần thay thế cho mô hình nghiên cứu
đến như một tư liệu đối sánh. Ngoài ra, để làm sáng tỏ các vấn đề lí thuyết,
2
chúng tôi cũng có những liên hệ nhất định với các tác phẩm kí trong văn học
nước ngoài.
3. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng triệt để những nguyên tắc phương pháp luận của lý thuyết
diễn ngôn và kí hiệu học văn hóa. Kí hiệu học văn hóa cho phép tác giả luận án
khẳng định văn học kí là một hiện tượng văn hóa mà thực chất là quá trình kí
hiệu học, nên chỉ có thể nghiên cứu nó dưới ánh sáng của kí hiệu học. Còn lý
thuyết diễn ngôn giúp tác giả luận án chứng minh, văn học kí là một cơ chế kiến
tạo văn bản chịu sự chi phối của nhiều mã văn hóa khác nhau.
4. Nhiệm vụ và ý nghĩa của luận án
a. Luận án lần đầu tiên đặt vấn đề nghiên cứu kí như một hình thức diễn
ngôn, một sự kiến tạo văn bản và kiến tạo sự thật dựa trên mã thể loại và mã tư
tưởng hệ
b. Phân tích văn học kí Việt Nam giai đoạn 1945-1975 như một lát cắt lịch
sử để làm sáng tỏ các vấn đề lý thuyết.
5. Cấu trúc nội dung của luận án
Luận án được cấu trúc làm 5 phần: phần mở đầu, phần nội dung, phần kết
luận, danh mục các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và thư
mục tham khảo. Nội dung chính của luận án được triển khai thành bốn chương
như sau:
Chương 1: Tổng quan
Chương 2: Mã thể loại và đặc trưng của văn học kí
Chương 3: Mã tư tưởng hệ và đặc trưng của văn học kí
Chương 4: Kí Việt Nam 1945-1975 như một lát cắt lịch sử
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
Trong phần tổng quan, chúng tôi cố gắng điểm qua những quan niệm
khác nhau về kí trong nghiên cứu văn học Việt Nam cũng như một số nước trên
thế giới như Trung Quốc, Nga, song vì những hạn chế về thời gian và điều kiện
tác, phê bình, nghiên cứu kí đương thời. Và công trình Kí viết về chiến tranh
Cách mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội của Hà Minh Đức có thể coi là hình
mẫu tiêu biểu của mô hình lí thuyết này.
4
- Từ những năm 1986 cho đến nay, phê bình nghiên cứu về kí vẫn tiếp tục
khai triển trên điểm tựa của hệ thống lí thuyết đã được xác lập trong giai đoạn
trước. Đối tượng nghiên cứu được mở rộng, nghiên cứu kí đi sâu vào các hướng
chính. Hướng thứ nhất tiếp tục xác lập một hệ thống lí thuyết về kí (trong giáo
trình Lí luận văn học). Hướng thứ hai là hướng nghiên cứu các loại hình lịch sử
kí như kí trung đại, kí Việt Nam từ đầu thế kỉ đến năm 1945 Hướng thứ ba tập
trung khảo sát sự hình thành, phát triển của các thể loại kí trong tiến trình lịch
sử. Hướng thứ tư quan tâm nghiên cứu các tác giả, tác phẩm cụ thể nhằm chỉ ra
những đặc điểm phong cách tác giả và giá trị của các tác phẩm. Sự mở rộng đối
tượng khảo sát này đã cho thấy diện mạo phong phú, đa dạng của loại hình văn
học này.
2. Kí trong một số tư liệu nước ngoài.
Ở Trung Quốc
Qua những thu thập còn chưa thể đầy đủ của chúng tôi, có thể nhận thấy,
trong văn học Trung Quốc, cũng có tồn tại một loại hình văn học có nội dung
ghi chép sự thật thường được gọi là kí (hay bằng những cái tên khác như thư kí,
tạp kí). Song tên gọi thể loại, nội hàm cũng như biên giới thể loại không rõ
ràng, cách phân chia thể loại trong văn học cổ trung đại Trung Quốc cũng khác
biệt rất nhiều so với cách phân chia thể loại trong nghiên cứu văn học Trung
Quốc hiện đại.
Ở Liên Xô
Ở Liên Xô, thể kí được quan tâm đặc biệt. Trong các giáo trình, từ điển lí
luận văn học, hầu hết các ý kiến đều thống nhất: kí miêu tả xác thực sự thật đời
sống. Các công trình lí luận như Nguyên lí lí luận văn học của Timofeep, Dẫn
luận nghiên cứu văn học của Gulaiep đều nhấn mạnh miêu tả sự thực và điển
hình hóa là nguyên tắc quan trọng nhất của thể loại. Những quan điểm của các
tác và nghiên cứu kí.
4. Diễn ngôn và một mô hình mới để xác lập lí thuyết văn học kí
Khái niệm diễn ngôn ra đời từ rất sớm, song trước thế kỉ XX, phạm vi sử
dụng của nó chủ yếu bó hẹp trong lĩnh vực ngôn ngữ học và diễn ngôn thường
được hiểu theo nghĩa là tu từ học. Từ thế kỉ XX, trong bối cảnh sự chuyển
hướng mạnh mẽ của hệ hình lý thuyết (hay còn gọi là khúc ngoặt ngôn ngữ),
diễn ngôn đã được bổ sung thêm những hàm nghĩa mới, gắn liền với một mô
6
hình nghiên cứu văn học văn hóa hoàn toàn mới, đồng thời trở thành một trong
những thuật ngữ mang tính chất chìa khóa trong các ngành khoa học xã hội và
nhân văn.
Những hàm nghĩa mới của diễn ngôn, có thể nói, có cội nguồn sâu xa từ
trong các trước tác của ba nhà tư tưởng lớn của thế kỉ XX: F.de Saussure,
M.Bakhtin và M.Foucault. Thứ nhất, đối với các nhà cấu trúc chủ nghĩa, diễn
ngôn được hiểu là cấu trúc của ngôn ngữ/ lời nói, đó là những nguyên tắc tổ
chức, sắp xếp ngôn từ trong hệ thống theo một qui luật nhất định. Thứ hai, đối
với nhà nghiên cứu M.Bakhtin, diễn ngôn được định nghĩa như là một loại lời
nói thấm đẫm tư tưởng hệ. Thứ ba, đối với M.Foucault, diễn ngôn được hiểu theo
nghĩa rộng là tất cả các nhận định nói chung có một lực tác động nào đó. Theo
nghĩa hẹp, diễn ngôn là một nhóm các nhận định cụ thể, được qui ước theo một
cách nào đó, đồng tồn tại trong cùng một bối cảnh, có chung một xuất xứ và
được nhóm lại dưới áp lực của một thiết chế. Ngoài ra, diễn ngôn còn được dùng
để chỉ một thực tiễn sản sinh ra vô số các nhận định và chi phối việc vận hành
của chúng, những qui tắc và cấu trúc tạo ra các phát ngôn và văn bản cụ thể
1
.
Tóm lại, ba cách tiếp cận trên về diễn ngôn đã cung cấp ba định nghĩa khác
nhau về diễn ngôn: diễn ngôn như là cấu trúc của ngôn ngữ/ lời nói, diễn ngôn
như là lời nói- tư tưởng hệ, và diễn ngôn như là công cụ để kiến tạo tri thức và
thực hành quyền lực. Đây là những nét nghĩa quan trọng nhất đã được bổ sung
chịu sự chi phối của những mã văn hóa. Trên cơ sở định nghĩa này, chúng tôi
xác định hai hạt nhân cấu trúc của diễn ngôn: mã thể loại và mã tư tưởng hệ.
CHƯƠNG 2: MÃ THỂ LOẠI VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA VĂN HỌC KÍ
2.1. Khái niệm mã, mã thể loại, mã thể loại của văn học kí.
- Mã: nguyên tắc xác lập mối quan hệ giữa thông tin và kí hiệu, trong giao
tiếp, mã là yếu tố xác lập nên mối quan hệ giữa người phát và người nhận, giữa
thông điệp và ý nghĩa. Mã là một ngôn ngữ, bởi nó cũng có những đơn vị và qui
tắc tổ chức các đơn vị ấy thành một hệ thống, giúp truyền đạt thông tin.
- Mã thể loại: nguyên tắc xác lập mối quan hệ giữa thông tin và thể loại, là
yếu tố trung gian trong cuộc giao tiếp giữa người viết và người đọc.
- Là một hình thức diễn ngôn, văn học kí chịu sự chi phối của hai mã: mã sự
thật và mã nghệ thuật.
2
Những luận điểm này đã được trình bày một cách chi tiết trong công trình nghiên cứu đã công bố của chúng tôi, xin
tham khảo Ba cách tiếp cận khái niệm diễn ngôn, Nguyễn Thị Ngọc Minh, sdd.
8
2. 2. Mã sự thật (ngôn ngữ sự thật) như là hạt nhân cấu trúc của văn học
kí
2.2.1. Người kể chuyện ngôi thứ nhất với tư cách là nhân chứng
Trong kí bao giờ cũng có một người kể chuyện xưng tôi, là người tận mắt
chứng kiến và bình luận về thế giới được miêu tả. Người kể chuyện này bao giờ
cũng được cụ thể hóa bằng những thông tin giống như tiểu sử tác giả. Để tăng
thêm mức độ tin cậy của người kể chuyện nhân chứng, tác giả thường tạo nên
những tình huống tiếp xúc, trong đó, người kể chuyện trực tiếp gặp gỡ, trò
chuyện với nhân vật.
2.2.2. Nhân vật, sự kiện, không gian, thời gian cụ thể, đơn nhất
Trong các tác phẩm kí, bao giờ cũng có những nhân vật, sự kiện, địa điểm,
thời gian cụ thể, đơn nhất, tạo thành lớp từ vựng của sự thật trong các tác phẩm kí,
khiến cho kí khác hẳn với các loại hình văn học khác. Lớp từ vựng của sự thật này
làm gia tăng tính thuyết phục cho các tác phẩm kí về tính chân thực của các sự
2.3.2. Khung truyện kể
- Các sự kiện trong kí bao giờ cũng được sắp xếp, tổ chức thành một văn
bản trần thuật có mở đầu, kết thúc. Cách mở đầu, kết thúc này lại thường tuân
theo một số qui luật, motip nhất định: các tác phẩm du kí thường mở đầu bằng
sự khởi hành của nhân vật người trần thuật xưng tôi, các phóng sự thường kết
thúc ở thời điểm kết thúc cuộc điều tra, các truyện kí thời trung đại viết về các
bậc quân vương, danh thần, thường mở đầu bằng motip sự sinh đẻ thần kì
- Các sự kiện trong kí tuy có mối quan hệ lỏng lẻo, song lại thường được
tổ chức thành một câu chuyện, làm bộc lộ một ý nghĩa nào đó. Các tác phẩm
phóng sự 1930-1945 thường tổ chức sự kiện thành câu chuyện về cái chung
cục, trong đó, mọi sự vật, nhân vật đều được miêu tả trong hành trình hướng tới
bóng tối, cái chết, sự tha hóa. Trong khi đó, các tác phẩm kí 1945-1975 lại
thường tổ chức chuỗi sự kiện thành câu chuyện về sự khởi đầu, trong đó, mọi
sự vật, hiện tượng được miêu tả trong hành trình đổi mới, hồi sinh.
- Các sự kiện tưởng chừng rời rạc trong tùy bút, tản văn thường được tổ
chức trong một khung truyện kể xoay quanh điểm nhìn của người trần thuật
xưng tôi. Sự xuất hiện của người trần thuật này khiến cho tác phẩm có một khả
năng mở rộng, co giãn linh hoạt song lại luôn có một sợi dây kết nối, một ý
nghĩa thống nhất. Thậm chí những số liệu báo cáo tưởng chừng hoàn toàn
10
khách quan, nhưng khi được sắp đặt theo một nguyên tắc nào đó, chúng vẫn có
khả năng tạo ra một câu chuyện, nói lên một ý nghĩa. Ngoài ra, nhịp điệu trần
thuật khi nhanh khi chậm, khi nhấn khi lướt cũng góp phần bộc lộ ý nghĩa.
Như vậy, quá trình tổ chức lớp từ vựng của sự thật thành một câu chuyện
đồng thời là quá trình xếp chồng lên tác phẩm một lớp nghĩa mới, dôi ra so với
lớp nghĩa chỉ vật. Ngôn ngữ sự thật chỉ là chất liệu để biểu đạt một ý nghĩa
nghệ thuật nào đó. Cách kết cấu này khiến cho các tác phẩm kí trở nên ý vị,
giàu triết lí.
2.3.3. Lớp lời văn phong cách hóa
- Khác với lời văn trung tính, khách quan của các thể loại lịch sử, báo chí,
nền văn hóa (kí trung đại chịu sự chi phối của diễn ngôn lịch sử, kí hiện đại lại
chịu ảnh hưởng của diễn ngôn báo chí, khoa học).
CHƯƠNG 3: MÃ TƯ TƯỞNG HỆ VÀ SỰ VẬN ĐỘNG,
PHÁT TRIỂN CỦA VĂN HỌC KÍ
3.1. Khái niệm tư tưởng hệ, mã tư tưởng hệ
- Tư tưởng hệ: hệ thống những quan điểm, thái độ, niềm tin chung cho một
nhóm người, mang tính chất trấn áp, được khách quan hóa bằng một bức tranh
thế giới, một khuôn mẫu biểu hiện của chủ thể.
- Mã tư tưởng hệ: nguyên tắc xác lập mối quan hệ của một nhóm chủ thể
với thực tại đời sống, nằm trong cấu trúc văn hóa của một thời đại, một cộng
đồng.
3.2. Mã tư tưởng hệ và đặc trưng của văn học kí
3.2.1. Cái tôi chứng kiến như một vai phát ngôn mang giá trị phổ quát
Cái tôi chứng kiến trong kí không phải chỉ phát biểu dưới tư cách cá nhân
mà thường nhân danh một lớp người, một cộng đồng, một thời đại, một nền văn
hóa. Trong mỗi thời đại, mỗi nền văn hóa, lại có một vai phát ngôn được công
nhận. Chủ thể của diễn ngôn sự thực trong kí buộc phải khuôn theo những vai
phát ngôn này, nếu không, tiếng nói của anh ta sẽ không được công nhận là hợp
thức (thời trung đại, chỉ sử gia mới có quyền lên tiếng về sự thật, thời hiện đại,
đó là nhà báo, nhà khoa học ). Vai phát ngôn xã hội này sẽ qui định góc nhìn
12
thế giới, lập trường phát ngôn của chủ thể trần thuật trong kí, thể hiện tiếng nói
của một nhóm người trong xã hội.
3.2.2. Bức tranh đời sống xác thực như một mô hình thế giới khái quát
Các sáng tác kí xuất hiện trong cùng một thời đại, một không gian văn hóa,
lại có một mô hình thế giới chung. Kí trung đại thường miêu tả một thế giới cao
cả, linh thiêng. Phóng sự 1930-1945 lại thường miêu tả một bức tranh thế giới
đang đến hồi mạt vận. Kí 1945-1975 lại thường tái hiện thế giới như một thiên
đường tràn đầy sức sống. Mô hình thế giới này thể hiện lăng kính quan sát thế
giới chung cho cả cộng đồng. Khi sáng tác, các nhà viết kí không chỉ mô tả đời
không gian văn hóa khác nhau, dưới sự chi phối của những mã tư tưởng hệ khác
nhau, lại có những mô hình thế giới, ý thức chủ thể khác nhau, đại diện cho
những tiếng nói quyền lực khác nhau. Các tác phẩm kí hình thành ở khu vực
quan phương, chính thống thường chịu sự chi phối của mã tư tưởng hệ quốc
gia, dân tộc, tôn giáo, vì thế mà bức tranh thế giới mà nó tạo nên là một bức
tranh thiêng liêng, cao cả, sự thật được miêu là sự thật mang đậm tính huyền
thoại. Trong các tác phẩm kí loại này, người ta thấy vang lên một tiếng nói đầy
quyền uy “giữ trật tự từ bên trên”. Ngược lại, các tác phẩm kí hình thành ở khu
vực ngoại vi, phi quan phương lại thường chịu sự chi phối của mã tư tưởng hệ
cá nhân, vì thế, bức tranh thế giới được kiến tạo nên là một bức tranh thế giới
hỗn loạn, phi trật tự, đang tha hóa, cái huyền thoại bị giải thiêng. Đó là sự thể
hiện của một tiếng nói phản kháng từ bên dưới, nhằm thay đổi trật tự xã hội.
Hai không gian văn hóa- tư tưởng hệ, hai tiếng nói quyền lực này vừa đồng
tồn tại, vừa xung đột lẫn nhau. Sự đồng tồn tại và xung đột lẫn nhau của
những mã tư tưởng hệ khác nhau này là phương thức tồn tại của tất cả các
nền văn học, văn hóa. Chính sự đan xen, tranh biện của những tư tưởng hệ
khác nhau này đã tạo nên những diễn ngôn về sự thực khác nhau.
14
CHƯƠNG 4: KÍ VIỆT NAM 1945-1975
NHƯ MỘT LÁT CẮT LỊCH SỬ
4.1. Mã thể loại trong văn học kí 1945-1975
4.1.1. Sự vắng bóng của phóng sự và sự lên ngôi của kí sự, tùy bút, bút
kí, truyện kí
Phóng sự từng là một thể loại chiếm vị thế ưu trội trên văn đàn Việt Nam
những năm 1930-1945, song sang đến thời kì này, số lượng phóng sự khá ít ỏi,
các phóng sự thường bị kí sự hóa, bút kí hóa. Trong văn học các đô thị miền
Nam, phóng sự chiến tranh phát triển mạnh, tuy nhiên lại thường không được
nhắc đến, hoặc bị phê phán, phủ định. Ngược lại, kí sự, tùy bút, truyện kí lại
chiếm một số lượng rất lớn, hơn 90% các sáng tác kí. Sự vắng bóng của phóng
sự là do sự vênh lệch của nó so với mã thể loại và mã tư tưởng hệ của văn học
Những chủ đề phổ biến này đã tạo nên một hệ thống những biểu tượng
thịnh hành trong thời đại, những công thức ước lệ để miêu tả thế giới cũng như
biểu hiện cảm xúc của chủ thể.
4.3. Tổ chức văn bản theo nguyên tắc huyền thoại hóa
4.3.1. Công thức hóa nhân vật thành những cổ mẫu
Thế giới nhân vật trong kí 1945-1975 tuy đa dạng nhưng khá thống nhất
Trong khi mô tả những con người cụ thể của thời đại, kí có xu hướng biến nó
thành những kiểu mẫu, bằng cách qui chiếu nó với những hình tượng sơ khởi
trong tư duy của nhân loại. Các chi tiết xác chỉ về nhân vật trở thành một lớp kí
hiệu được xếp chồng lên một lớp kí hiệu thứ hai- lớp cổ mẫu huyền thoại.
Con người mới- anh hùng
- Đứng ở vị trí trung tâm của kí giai đoạn này là kiểu nhân vật con người
mới: đó là người chiến sĩ trong cuộc đấu tranh với kẻ thù xâm lược và người lao
động trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Theo chúng tôi, kiểu nhân vật
này thực chất là sự tái sinh của những huyền thoại về người anh hùng, những
con người có sức mạnh phi thường trong quá trình chinh phục tự nhiên và chiến
đấu với cái ác, nhằm tạo lập một thế giới mới và bảo vệ sự sống con người trên
trái đất.
Dựa vào khả năng biểu đạt và thuyết phục của huyền thoại, kí đã hợp thức
hóa sứ mệnh và địa vị của con người mới- một hình ảnh được tạo dựng nên
16
trong các diễn ngôn chính trị. Bằng hình thức xác chỉ- người thật việc thật, kí
khiến cho hình mẫu con người mới- một ý niệm trừu tượng trong diễn ngôn
chính trị có được một hình hài sống động, cụ thể, mang tính thời sự và đầy khả
năng biểu cảm. Tuy nhiên, hình thức xác chỉ, cụ thể này lại dễ làm cho hình
mẫu con người mới mà nó mô tả trở thành ngẫu nhiên, cá biệt, trong khi diễn
ngôn chính trị lại có tham vọng biến cái cá biệt và ngẫu nhiên thành những hình
mẫu khái quát, có sức rung động mạnh mẽ. Vì thế, lựa chọn phương thức huyền
thoại hóa là con đường tất yếu của các nhà viết kí để vừa đảm bảo tính thời sự
và thuyết phục của hình tượng, vừa khiến cho hình tượng có một sức sống vượt
trật tự, bởi nó được đồng nhất vào một số những cổ mẫu hữu hạn. Các nhân vật
của thời hiện tại được chồng xếp, lồng ghép vào những hình tượng của quá khứ,
chính vì thế, trong khi ghi chép về những sự kiện thời sự, kí có xu hướng quay
trở lại với cái khởi nguyên, biến hiện tại thành quá khứ vĩnh viễn. Bằng cách
phục hưng lại những cổ mẫu, huyền thoại, cổ tích trong truyền thống văn hóa,
văn học kí thời kì này đã tăng thêm sức mạnh thuyết phục của lời nói, khiến cho
những diễn ngôn về con người mới, thời đại mới của thời đại mới trở thành lời
phán quyết chân lí đầy quyền uy.
4.3.2. Qui phạm hóa sự kiện lịch sử thành những nghi thức
Khi nghiên cứu các tác phẩm kí 1945-1975, có thể nhận thấy, dù trần thuật
về các sự kiện lịch sử khác nhau, song các tác phẩm lại được kết cấu theo
những cách thức tương đối giống nhau, tuân theo một trình tự khá bất biến và
có thể đoán định trước mà chúng tôi gọi là nghi thức. Việc qui phạm hóa các sự
kiện lịch sử thành nghi thức khiến cho các tác phẩm kí thời kì này mang đặc
trưng của loại văn bản tuần hoàn- văn bản huyền thoại. Nếu gạt bỏ lớp kí hiệu
bên ngoài là những thông tin thời sự và xác chỉ, ta có thể nhận ra những mô
hình cốt truyện bất biến- hạt nhân cấu trúc căn bản của hầu hết các sáng tác kí
giai đoạn này: cốt truyện về sự hồi sinh và cốt truyện về sự khải hoàn. Hai mô
hình cốt truyện nguyên mẫu này đã tái hiện các sự kiện lịch sử thành những
nghi thức bất biến.
Nghi thức tái sinh
Hầu như tất cả các sự kiện trong kí thời kì này đều được kết cấu thành cốt
truyện về sự hồi sinh. Trong mô hình cốt truyện về sự hồi sinh, các sự kiện
được sắp xếp theo chu trình biến đổi từ cái chết sang sự sống, từ bóng tối ra ánh
18
sáng, từ nô lệ đến tự do, từ hỗn độn sang trật tự. Quá khứ thường được đồng
nhất với cái chết, bóng tối, nô lệ, hỗn mang. Hiện tại được miêu tả như sự vươn
dậy của một sức sống dồi dào, mãnh liệt. Và tương lai được hình dung như sự
trưởng thành đầy viên mãn của thiên nhiên và con người. Tiến trình lịch sử
trong các tác phẩm kí, vì thế bị gạt bỏ tất cả tính chất ngẫu nhiên, bộn bề, mà
Việc kết cấu cốt truyện theo nghi thức khải hoàn, thực chất, là sự triển khai
một trong những chủ đề phổ biến của văn học nghệ thuật thời kì này, chủ đề
kháng chiến nhất định thắng lợi đã được khơi nguồn từ các diễn ngôn chính trị.
Để hợp thức hóa một ý niệm chính trị, kí đã tìm đến hình thức biểu đạt của
huyền thoại. Cách kết cấu này tạo nên một câu chuyện khác chìm sâu bên dưới
lớp truyện về người thực việc thực, về các sự kiện thời sự của thời đại: câu
chuyện huyền thoại về người anh hùng chiến trận, huyền thoại về chiến tranh.
Bằng cách lồng ghép hai câu chuyện này vào nhau, các tác phẩm kí đã làm sống
dậy những cổ mẫu nguyên thủy, những hình tượng đầy sức mạnh của huyền
thoại, và vì thế, nó có một sức thuyết phục vô song và một ma lực hấp dẫn đối
với hàng triệu triệu người đọc đương thời.
*Việc mô tả và kết cấu sự kiện theo những nghi thức đã khiến cho những
yếu tố ngẫu nhiên của đời sống bị loại sạch khỏi tiến trình cốt truyện. Lịch sử,
vì thế được mô tả như một tiến trình tất yếu hướng tới sự sống, ánh sáng, chiến
thắng. Cách kết cấu này thực chất là phương thức để huyền thoại hóa những
chủ đề phổ biến trong các diễn ngôn chính trị, lịch sử, văn học thời kì này. Dựa
vào sức mạnh của huyền thoại, kí có được một khả năng cổ vũ, lôi cuốn rất
mạnh mẽ đối với người đọc, trở thành một vũ khí sắc bén hỗ trợ đắc lực cho
cuộc kháng chiến, và như thế, nó là tiếng nói giữ trật tự từ bên trên trong không
gian văn hóa quan phương, chính thống của thời đại.
4.2.3. Tổ chức ngôn từ theo thể thức tụng ca
Nếu như kí 1930-1945 thường được tổ chức theo thể giễu nhại, châm biếm
thì các văn bản kí 1945-1975 lại được thường kiến tạo theo thể thức tụng ca.
Các thủ pháp nhại, châm biếm, giọng điệu phê phán, điều trần gần như vắng
bóng, và thay vào đó là sự lên ngôi của các thủ pháp khoa trương, trùng điệp,
giọng ca ngợi, biểu dương. Hình thức tổ chức ngôn từ này đã kiến tạo nên một
thực tại cao cả, thiêng liêng, và đứng trước thực tại thiêng liêng ấy, chủ thể diễn
ngôn sự thực trong kí thường phải giữ một thái độ ngưỡng vọng, thành kính.
20
Thể thức tụng ca đã khiến cho thế giới sự thật được miêu tả trong kí trở thành
thuyết tả chân của Vũ Trọng Phụng những năm 1930-1945 và cuộc tranh luận
về kí những năm 1960. Thực tế ấy đòi hỏi phải có một mô hình lí thuyết mới để
tiếp cận loại hình văn học kí và tiếp cận văn học kí từ góc độ lý thuyết diễn
ngôn là một trong những hướng nghiên cứu có khả năng giải quyết được những
vấn đề đặt ra từ thực tiễn sáng tác ấy.
2. Khái niệm diễn ngôn tuy xuất hiện từ sớm, song đến thế kỉ XX, trong
bước chuyển biến quan trọng của hệ hình lý thuyết mà giới học giả thường gọi là
khúc ngoặt ngôn ngữ, nó mới trở thành một thuật ngữ mang tính chất chìa khóa
của hầu hết các trường phái lý thuyết khoa học xã hội và nhân văn, là trung tâm
điểm của một mô hình nghiên cứu văn học, văn hóa hoàn toàn mới. Lý thuyết
diễn ngôn tuy rất phức tạp, bao trùm nhiều lĩnh vực, song có thể nói, có cội
nguồn sâu xa từ các trước tác của ba học giả nổi tiếng: F.de Sausure, M.Bakhtin,
M.Foucault. Từ ba cội rễ này, lý thuyết diễn ngôn tỏa ra ba hướng chính: hướng
nghiên cứu diễn ngôn như một cấu trúc ngôn ngữ tĩnh tại, bất biến, hướng nghiên
cứu diễn ngôn như một lời nói- tư tưởng hệ, và hướng tiếp cận diễn ngôn như
một công cụ để kiến tạo tri thức và thực hành quyền lực. Trên cơ sở tiếp thu,
tổng hợp những quan điểm này, chúng tôi xác định: diễn ngôn là một cơ chế kiến
tạo văn bản chịu sự chi phối của những mã văn hóa, trên cơ sở đó, đề xuất mô
hình nghiên cứu diễn ngôn dựa trên mã thể loại và mã tư tưởng hệ.
3. Dựa trên mô hình nghiên cứu này, chúng tôi xác định đặc trưng của thể
loại kí như một kiểu diễn ngôn về sự thực. Là một kiểu diễn ngôn về sự thực, kí
có mối quan hệ mật thiết với các diễn ngôn sự thực khác, đồng thời, chịu ảnh
hưởng của tri thức hệ, khung văn hóa của một thời đại, một nền văn hóa. Trên
cơ sở hai hạt nhân cấu trúc là mã thể loại và mã tư tưởng hệ, chúng tôi khảo sát
đặc trưng của văn học kí, nhằm chỉ ra những phương diện mang tính chất ổn
định và cơ chế của sự biến đổi của kí trong lịch sử.
Chúng tôi cho rằng, kí là loại hình văn học có mã thể loại kép: vừa chịu sự
chi phối của những mã ngoài nghệ thuật, vừa chịu sự chi phối của mã thể loại
nghệ thuật. Mã thể loại ngoài nghệ thuật đã khiến cho trong bộ khung cấu trúc
của kí có tồn tại những mã thể loại biên niên, kỉ truyện, khảo cứu của lịch sử,
này như con người mới, thời đại mới, kháng chiến nhất định thắng lợi. Hệ thống
các chủ đề phổ biến này lại tạo nên một loạt các biểu tượng, ước lệ, tạo thành
23
những điển phạm trong các sáng tác kí thời kì này. Chúng trở thành những bộ
lọc, những rào cản có chức năng thanh lọc, loại trừ những biểu tượng, cách diễn
đạt khác, khiến cho các diễn ngôn thời kì này dường như được che phủ trong
một bộ lễ phục ngôn từ. Dưới sự chi phối của hệ tư tưởng quốc gia, dân tộc, các
văn bản kí thường được tổ chức theo nguyên tắc huyền thoại hóa, thế giới nhân
vật của kí tuy đa dạng, phong phú song đều được công thức hóa thành những cổ
mẫu: anh hùng, ác quỉ, thần thánh; các sự kiện lịch sử được lược qui thành
những nghi thức bất biến: nghi thức về sự tái sinh, nghi thức về sự khải hoàn;
ngôn từ trong kí thường được tổ chức theo thể thức tụng ca, trong đó khoa
trương và trùng điệp được sử dụng như một thủ pháp nghệ thuật để làm nổi bật
tính chất cao cả, thiêng liêng của thế giới được miêu tả và thái độ biểu dương,
ngưỡng mộ của chủ thể phát ngôn. Những cổ mẫu, nghi thức, hình thức tổ chức
ngôn từ này một mặt, là sự phục sinh của những yếu tố thiêng liêng, đầy sức
mạnh trong huyền thoại và nghi lễ, một mặt là sự khai triển của những chủ đề
thời sự của thời đại như: con người mới, thời đại mới, kháng chiến nhất định
thắng lợi. Bằng cách huyền thoại hóa các sự kiện, nhân vật có thật , những vấn
đề thời sự của thời đại, các sáng tác kí giai đoạn này đã biến thời hiện tại thành
quá khứ thiêng liêng, vĩnh hằng, và làm vang lên một tiếng nói đầy uy quyền-
tiếng nói “giữ trật tự từ bên trên”. Sức mạnh của huyền thoại đã khiến cho diễn
ngôn sự thực trong kí có một sức thuyết phục vô song, làm rung động hàng
triệu con tim độc giả một thời.
5. Mô hình nghiên cứu văn học từ góc độ diễn ngôn tuy không còn xa lạ với
giới nghiên cứu phương Tây, song ở Việt Nam, đây vẫn là một hướng nghiên
cứu mới mẻ và hứa hẹn nhiều triển vọng. Riêng trong lĩnh vực nghiên cứu kí,
cách tiếp cận này cũng gợi nên rất nhiều vấn đề đáng lưu tâm mà trong khuôn
khổ của luận án, chúng tôi chưa thể giải quyết như: đặc điểm cũng như qui luật
hình thành và phát triển của kí Việt Nam sau 1986, kí trong văn học các đô thị