MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
rong những năm gần đây, giới Việt ngữ học quan tâm nhiều đến tình thái và đã có nhiều bài viết, chuyên luận về vấn
đề này. Tuy nhiên, các tác giả hiểu và tiếp cận vấn đề tình thái với nhiều cách khác nhau, phổ biến nhất là quan điểm
xem tình thái là tình cảm và cảm xúc của người nói. Thực tế, tình thái không hẳn chỉ là những thông tin liên quan đến tình
cảm, cảm xúc mà nó còn liên quan đến nhiều phương diện khác nữa, như: tình thái của hành động phát ngôn, tình thái của
nội dung mệnh đề, v. v. Thấy được điều đó, và để có cơ sở xác thực, chúng tôi chọn tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh
(HBC) làm ngữ liệu nghiên cứu. Ngôn ngữ trong tiểu thuyết của ông phản ánh phong phú khẩu ngữ địa phương Nam Bộ -
chân chất, mộc mạc và ẩn chứa nhiều đặc sắc, thú vị. Tuy nhiên, cho đến nay việc xem các phương tiện biểu thị ý nghĩa
tình thái (PTTT) trong tiểu thuyết của HBC như là đối tượng nghiên cứu vẫn còn để ngỏ. Vì vậy, việc n ghiên cứu PTTT
sẽ là thiết thực và có ý nghĩa thực tiễn. Vì những lý do trên, chúng tôi chọn vấn đề: “Vai trò của phương tiện tình thái
trong ngôn ngữ tiểu thuyết HBC” để làm đề tài nghiên cứu.
T
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án này được hình thành nhằm mục đích khảo cứu toàn diện và có hệ thống về tác dụng, chức năng của PTTT
có trong tiểu thuyết của HBC. Để đạt được mục đích đó, chúng tôi tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau: i) Tìm ra
những tiêu chí nhận diện PTTT, lập danh sách và thống kê tần số của chúng trong tiểu thuyết của HBC; ii) Phân tích tác
dụng, chức năng của các PTTT mang đặc trưng khẩu ngữ Nam Bộ; iii) Tìm hiểu vai trò của các PTTT trong việc hình
thành lực ngôn trung cho các hành động ở lời, sự kết hợp và tầm tác động của chúng trong tiểu thuyết của HBC.
3. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
3. 1. Vấn đề tình thái trong logic và trong ngôn ngữ học
Tình thái (modality), một vấn đề rất rộng và phức tạp, đã được logic học, ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu. Logic
học đi đầu trong nghiên cứu tình thái. Ngay từ thời cổ đại, Aristote đã bàn về mệnh đề tình thái, khi đó tình thái gắn với sự
phân loại các phán đoán, các mệnh đề logic dựa trên những đặc trưng cơ bản của mối liên hệ giữa hai thành phần chủ từ
và vị từ, xét ở góc độ phù hợp của phán đoán với thực tế. Đến 1932, việc đưa khái niệm tình thái vào ngôn ngữ mới được
thể hiện rõ. Trong tác phẩm Linguistique générale et linguistique française, Ch. Bally đã chủ trương phân biệt trong câu
hai yếu tố: nội dung biểu hiện có tính chất cốt lõi về ngữ nghĩa của câu; thái độ của người nói đối với nội dung ấy. Trong
đó, Ch. Bally dùng thuật ngữ dictum để chỉ nội dung cốt lõi của câu và modus để chỉ thái độ của người nói, tức tình thái. J.
Lyons (1995) cho rằng tình thái logic được biểu thị qua khái niệm tính khả năng và tính tất yếu, còn trong ngôn ngữ, tình
thái được nhận thức qua hai phạm trù cơ bản là tình thái nhận thức và tình thái đạo lý. Những quan niệm về tình thái nêu
trên đã cho thấy cách giải quyết ý nghĩa của tính tình thái có nhiều điểm khác nhau giữa các tác giả.
có liên quan đến thông tin kèm theo sự tình được trình bày trong câu nói thông qua một số trợ từ tình thái, quán ngữ tình
thái.
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
5. 1. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng một số phương pháp và thủ pháp sau: (i) Phương pháp phân tích phân bố, (ii) Phương pháp phân
tích ngữ nghĩa, (iii) Các phương pháp và thủ pháp khác như thống kê, so sánh – đối chiếu, thay thế, cải biến.
5. 2. Nguồn ngữ liệu
Nguồn ngữ liệu được sử dụng trong luận án này chủ yếu trong 52/ 64 tác phẩm tiểu thuyết của HBC, 18 tác phẩm
trong tập truyện ngắn Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam, Gieo gió gặt bão của Bình Nguyên Lộc, và một số tác phẩm
của một số tác giả phía Bắc như Tắt đèn, Lều chõng của Ngô Tất Tố, Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, Số đỏ của Vũ
Trọng Phụng, v. v.
6. Đóng góp của luận án
6. 1. Ý nghĩa khoa học
- Xác định rõ khái niệm, đặc điểm, chức năng của các PTTT. Từ đó, khái quát được vai trò của lớp phương tiện này
trong tương quan với các phương tiện khác trong giao tiếp.
- Kết quả nghiên cứu có thể góp phần làm rõ hơn một số vấn đề lý thuyết về tình thái của trợ từ, quán ngữ mang đặc
trưng khẩu ngữ Nam Bộ.
6. 2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án này có thể làm tài liệu tham khảo cho những đề tài có liên quan. Luậ n
án cũng có thể là tài liệu hỗ trợ cho việc học và dạy tiếng Việt trong nhà trường.
4
7. Bố cục của luận án
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án gồm có ba chương như sau: Chương 1:
Một số cơ sở lý thuyết, Chương 2: Vai trò của trợ từ tình thái trong ngôn ngữ tiểu thuyết HBC, Chương 3: Vai trò của
quán ngữ tình thái trong ngôn ngữ tiểu thuyết HBC
Chương 1
MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1. 1. Vấn đề tình thái
1. 1. 1. Khái niệm tình thái
ình thái là một phạm trù thể hiện thái độ, cách đánh giá của người nói đối với nội dung mệnh đề, với người đối
với thực tế và đối với người đối thoại.
- Trên bình diện cú pháp, TrTTT không tham gia vào thành phần nòng cốt của cụm từ, của câu. Chúng có thể được
lược bỏ mà không làm thay đổi nội dung chính của mệnh đề.
1. 4. Vấn đề quán ngữ tình thái
1. 4. 1. Vài nét về quán ngữ
Trong Việt ngữ, quán ngữ được nhiều nhà nghiên cứu từ vựng quan tâm. Nó được xem là đơn vị từ vựng tương
đương với từ, đó là tổ hợp cố định được “dùng lâu thành quen” theo “phản xạ” trong nói năng. Tham khảo tài liệu, chúng
tôi thấy có một số quan niệm về quán ngữ như sau:
+ Về hình thức, quán ngữ là tổ hợp từ cố định được dùng lặp đi lặp lại.
+ Về chức năng, quán ngữ dùng để đưa đẩy, liên kết hoặc nhấn mạnh nội dung cần diễn đạt nào đó.
1. 4. 2. Quán ngữ tình thái
1. 4. 2. 1. Khái niệm
Quán ngữ tình thái (QNTT) là ngữ cố định, được dùng nhiều dần thành quen, có tính ổn định tương đối về kết cấu.
Chúng được dùng để bổ sung một nội dung tình thái nào đó cho câu nói .
1. 4. 2. 2. Đặc điểm của quán ngữ tình thái
- QNTT có tính ổn định tương đối về cấu trúc, có chức năng đánh giá, bộc lộ thái độ.
- Về chức năng tạo câu, QNTT tương đương với từ.
- Về ý nghĩa, QNTT có ý nghĩa tương đương với ý nghĩa của một từ hoặc cụm từ.
7
1. 5. Khẩu ngữ và đặc điểm ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
1. 5. 1. Khẩu ngữ
Nói đến khẩu ngữ là nói đến lời nói miệng hằng ngày, phần nhiều mang tính tự nhiên, thoải mái, sinh động, gần gũi.
Từ ngữ khẩu ngữ được dùng với tư cách cá nhân để trao đổi tư tưởng, tình cảm của người nói với người đối thoại. Từ ngữ
khẩu ngữ thường phản ánh hiện thực các biến thể ngữ âm, từ ngữ, ngữ nghĩa, các từ địa phương trong tiếng Việt.
1. 5. 2. Đặc điểm ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
- Về phương diện ngữ âm, để phản ánh đời sống thường ngày và cách ăn nói của từng nhân vật, HBC đã ghi lại các
biến thể phát âm một cách chân thực trong từng tác phẩm tiểu thuyết của mình. Những biến thể phát âm này thường là
hiện tượng rút ngắn, thay đổi độ mở, thay đổi dòng của nguyên âm: nhơn/ nhân, chớ/ chứ, chớ sao/ chứ sao, thiệt tình/
thật tình,
- Về phương diện từ vựng - ngữ nghĩa, HBC vận dụng một cách khéo léo và phong phú phương ngữ Nam Bộ vào
Trong số 15 TrTTT NB được nhận diện, chúng tôi thống kê được 06 TrTTT có biến đổi hình thức ngữ âm so với
TrTTT tương đương trong ngôn ngữ toàn dân, như: chánh/ chính, chớ/ chứ, nè/ này, thiệt/ thật, v. v.
Trong ngữ liệu khảo sát, các TrTTT NB có biến thể ngữ âm được hầu hết các nhân vật thuộc giới bình dân sử dụng,
còn các TrTTT TD tương đương được các nhân vật thuộc giới trí thức sử dụng. Cụ thể, toàn ngữ liệu TrTTT thiệt xuất
hiện 358 lần thì có đến 267 lần được các nhân vật thuộc giới bình dân sử dụng.
2. 2. 1. 2. Nhóm TrTTT có ngữ âm khác hoàn toàn
Chúng tôi nhận diện được 09 TrTTT có hình thức ngữ âm khác hoàn toàn với TrTTT tương đương trong ngôn ngữ
toàn dân, như: bộ, coi, đa, đó, há (hé), hén, lận, mới, tới. Trong số này có một vài TrTTT có nguồn gốc từ tiếng Khmer
bản địa. Ngoài những TrTTT có nghi vấn về nguồn gốc vay mượn như trên, số còn lại là sản phẩm của dân cư vùng đất
mới này.
2. 2. 2. Phương diện ngữ nghĩa
2. 2. 2. 1. Nhóm TrTTT bộ phận câu
Biểu thị ý nghĩa đánh giá lượng – mức độ
Như chúng ta biết, đánh giá là một hoạt động gắn liền với nhận thức của con người. Trong đời sống hàng ngày, con
người luôn tìm hiểu thế giới xung quanh, để từ đó đưa ra những nhận định về chúng theo những thang độ phù hợp cảm
quan cá nhân. Theo đó, khi giao tiếp, con người thường sử dụng những phương tiện ngôn ngữ (trong đó có TrTTT) để
biểu thị những nhận định hay đánh giá.
(1) Ở khách sạn mỗi ngày tới sáu cắc, còn ăn cơm hết ba bốn cắc nữa, nếu ở như vậy hoài thì làm sao mà đủ xài
nữa. (ALĐ)
(2) Bà Hương bộ Bảy đem lo cho ổng đến hai trăm đồng bạc mà ổng không thèm ăn, ổng kêu ổng trả lại.(CNN)
10
(3) Tới mùa gặt đầu năm 1931, bà Cả Hoàng thâu góp cằn sãy hết sức, mà chỉ được năm ngàn giạ lúa. (CG)
Ngoài việc miêu tả số lượng thực “sáu cắc”, “hai trăm đồng bạc”, (1) và (2) còn biểu thị ý đánh giá số lượng
“nhiều” qua TrTTT tới, đến. TrTTT chỉ trong (3) biểu thị ý đánh giá số lượng “ít”.
Đọc ngữ liệu khảo sát, chúng tôi thấy tác giả rất tinh tế trong việc xây dựng ngôn ngữ cho hai giới nhân vật. Giới
nhân vật trí thức sử dụng lời thoại phần nhiều là từ ngữ toàn dân, còn giới nhân vật bình dân thì sử dụng lời thoại mang
đậm tính khẩu ngữ địa phương. Trong đó, TrTTT cũng được sử dụng rất khéo léo để phù hợp cho từng giới nhân vật.
Biểu thị ý nghĩa nhấn mạnh
Khi giao tiếp, người nói luôn mong muốn người đối thoại tiếp nhận được nội dung chính của vấn đề cần truyền đạt.
Để thực hiện điều này, họ thường sử dụng một số phương tiện ngôn ngữ để nhấn mạnh nội dung trọng tâm của thông báo,
hết để biểu thị thái độ phủ định bao quát và TrTTT đâu để phủ định bác bỏ, từ chối. TrTTT cả
2
hiếm khi được sử dụng.
Cụ thể, đâu xuất hiện 3175 lần, hết xuất hiện 1587 lần, cả
2
xuất hiện 05 lần.
Biểu thị thái độ giận hờn hoặc tình cảm thân mật, gần gũi
12
Trong tiểu thuyết của HBC, các nhân vật giao tiếp thường dùng những TrTTT sau: à, ha, hén, nè (nà), nghen, nhé,
v. v
(7) Nếu quan trên sai con đi tỉnh thì bất tiện dữ há! (BTHH)
Ngoài việc biểu thị nội dung miêu tả về những sự tình, câu (7) còn biểu thị thái độ thân mật, chia sẻ, đồng cảm, với
tình thương yêu của người nói với người đối thoại.
Biểu thị thái độ nhấn mạnh
Nhấn mạnh là một trong những chức năng tiêu biểu mà TrTTT đảm nhận trong câu nói. Theo đó, ngữ liệu khảo sát
có 14 TrTTT câu biểu thị thái độ nhấn mạnh, như: ấy, đa, đây, đấy, đi, đó, kia, lận, mà, này, nè, rồi, thế, thôi. Trong số
các TrTTT này, chúng tôi nhận diện được 04 TrTTT NB, như: đa, đó, lận, nè.
(8) Ổng giàu lớn lắm mà người ta nói ổng giàu bằng ba mình lận.
Ngoài nội dung trần thuật, câu trên còn có thêm thái độ nhấn mạnh về lượng và mức độ “nhiều” của điều vừa nói
đến.
Biểu thị ý nghĩa đánh giá lượng - mức độ
Trong tiểu thuyết của HBC, TrTTT lận là một TrTTT câu tiêu biểu biểu thị ý nghĩa đánh giá lượng – mức độ
“nhiều”
(9) Nhà lớn mà, có ba giường lận. (ATM)
Ngoài miêu tả số lượng “ba gường”, câu (9) còn có ý đánh giá số lượng “nhiều”.
2. 2. 3. Phương diện cú pháp
2. 2. 3. 1. Bình diện mục đích phát ngôn
13
Xét trên bình diện mục đích phát ngôn, ngữ liệu khảo sát thường dùng câu trần thuật có TrTTT: đa, tới, đó, nè,
thiệt, v. v.; câu mệnh lệnh có TrTTT: chớ, đi, với, v. v.; câu nghi vấn có TrTTT: chớ, hử, lận, v. v
2. 3. 2. 2. Tầm tác động và sự tương tác lẫn nhau giữa các TrTTT câu
Khảo sát ngữ liệu, chúng tôi nhận thấy, trong cùng tổ hợp, TrTTT nào đứng cuối bao giờ cũng có tầm tác động bao
trùm lên TrTTT đứng trước và cả mệnh đề của câu nói.
(12) Nầy, mà bây giờ mợ gặp được cháu rồi, mợ phải đãi tiệc đi chớ.
15
C + [V + x[P]]y z
Trong câu (12), ý nghĩa cầu khiến đã được TrTTT đi biểu thị, còn TrTTT chớ góp thêm sắc thái phản bác. Sắc thái
phản bác của TrTTT chớ tác động bao trùm lên ý nghĩa cầu khiến của TrTTT đi và ý nghĩa của toàn mệnh đề. Từ phân
tích trên, chúng tôi cấu trúc hóa các câu nói sử dụng hai hoặc hơn hai TrTTT câu như sau:
Trong đó, C là chủ ngữ, V + Pxy là vị ngữ (V là vị từ - lõi của vị ngữ, P là cụm từ ngôn liệu, x, y là TrTTT câu), z là nghĩa tình
thái được tạo ra từ quan hệ tương tác giữa các TrTTT với mệnh đề ngôn liệu.
2. 4. Hành động ở lời của TrTTT trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
2. 4. 1. Khái quát chung
Theo Austin, tất cả các phát ngôn đều mang tính ngôn hành. Tuy nhiên, cần phân biệt ngôn hành tường minh và
ngôn hành nguyên cấp. Phát ngôn ngôn hành tường minh là những phát ngôn có chứa những dấu hiệu dùng để biểu thị,
chỉ ra những cái hành động được thực hiện khi phát ra phát ngôn đó. Những “dấu hiệu” này được Searle (1969) chỉ ra cụ
thể như sau: Các kiểu kết cấu, từ ngữ chuyên dụng, quan hệ của biểu thức ngôn hành với ngữ cảnh, các động từ ngôn
hành.
Trong đó, các động từ ngôn hành có một vai trò rất quan trọng trong việc xác định phát ngôn ngôn hành. Tuy nhiên,
trong thực tế tiếng Việt, các động từ ngôn hành không phải là dấu hiệu ngôn hành duy nhất để làm rõ lực ngôn trung của
phát ngôn mà còn có những PTTT khác cũng được xem là dấu hiệu ngôn hành của phát ngôn (phương tiện chỉ dẫn lực
ngôn trung), đó là: vị từ tình thái, trợ từ tình thái, quán ngữ tình thái. Trong khi đó, phát ngôn ngôn hành nguyên cấp lại
16
[[[C + V + P]x]y] z
không có những dấu hiệu hình thức như vậy. Để hiểu được hành động lời nói mà câu ngôn hành nguyên cấp biểu thị,
người đối thoại phải dựa vào tình huống giao tiếp cụ thể.
2. 4. 2. TrTTT là dấu hiệu ngôn hành của hành động ở lời chân thực
2. 4. 2. 1. Những TrTTT là dấu hiệu ngôn hành của các hành động: khẳng định, nhấn mạnh… thuộc phạm trù trình
bày
Bộc lộ là một hành động ngôn ngữ diễn ra khi người nói muốn bày tỏ thái độ của mình về vấn đề đang được nói
đến. Các nhân vật giao tiếp trong ngữ liệu khảo sát thường sử dụng một số TrTTT để đánh dấu các hành động bộc lộ như:
a, à, chớ, hả, hử, há (hé), hết, nghe, thiệt, v. v.
(16) Nếu quan trên sai con đi tỉnh thì bất tiện dữ há! (BTHH)
18
Trong (16), TrTTT há biểu thị thái độ thân mật, chia sẻ, đồng cảm với tình thương yêu của người nói với người đối
thoại. Thái độ này được đánh dấu bằng TrTTT há và chính TrTTT này trở thành phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung của
phát ngôn.
2. 4. 3. TrTTT là dấu hiệu ngôn hành của hành động ở lời gián tiếp
Ngoài chức năng làm dấu hiệu ngôn hành của một số hành động ở lời chân thực, TrTTT còn làm dấu hiệu ngôn
hành cho một số hành động ở lời gián tiếp. Trong ngữ liệu khảo sát, các nhân vật giao tiếp sử dụng một số TrTTT làm
phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung cho một số hành động ở lời gián tiếp, tiêu biểu là một số kiểu sau: Hiệu lực trực tiếp:
hỏi → Hiệu lực gián tiếp: mắng chửi, răn đe, đánh giá, phản bác, xác nhận, nhắc nhở, đoán, mỉa mai, chê trách, chào;
Hiệu lực trực tiếp: trình bày → Hiệu lực gián tiếp: giải thích, mỉa mai.
Chương 3
VAI TRÒ CỦA QUÁN NGỮ TÌNH THÁI TRONG TIỂU THUYẾT HỒ BIỂU CHÁNH
3. 1. Khảo sát, thống kê
3. 1. 1. Phạm vi và đối tượng khảo sát
húng tôi tiến hành khảo sát - thống kê các QNTT có trong 52 tác phẩm tiểu thuyết của HBC và một số tác phẩm văn
học ở Bắc Bộ, Nam Bộ khác. Cũng cần nói rõ rằng, đối tượng mà chúng tôi chọn khảo sát ở đây là những cụm từ,
chúng xuất hiện nhiều lần trong tiểu thuyết của HBC nên ghi nhận như là cụm từ cố định. Chúng tôi gọi chúng là quán
ngữ khi xuất hiện trong ngữ cảnh giao tiếp cụ thể.
C
19
3. 1. 2. Kết quả khảo sát, thống kê
Chúng tôi thống kê được 88 QNTT. Trong số này, chúng tôi nhận diện được 26 quán ngữ tình thái mang đặc trưng
khẩu ngữ Nam Bộ (QNTT NB). Số lượng các QNTT NB như vậy là ít (chiếm 29.54 %) nhưng tần số sử dụng các QNTT
này có sự khác nhau lớn. Khảo sát 14.480 trang ngữ liệu, chúng tôi thấy có những QNTT NB chỉ được dùng vài lần, như:
ai mà dè (5 lần), thiệt tình (2 lần), v. v. ngược lại có những QNTT NB được dùng đến hàng trăm lần, như: coi bộ (516
lần), hết sức (765 lần), không dè (382 lần),
3. 2. 2. 2. Biểu thị thái độ, cảm xúc của người nói
Biểu thị thái độ tin cậy
Trong giao tiếp, ngoài việc dùng các PTTT khác, người nói còn dùng QNTT để đánh dấu thái độ tin cậy của người
nói đối với tính xác thực của sự tình được nói đến ở P, gạt bỏ hoặc ngăn chặn những ý kiến, suy đoán cho rằng không P từ
phía người tham gia giao tiếp. Theo đó, trong ngữ liệu khảo sát, các nhân vật giao tiếp cũng dùng QNTT để biểu thị thái
21
độ tin cậy của người nói, như: ai cũng biết, chắc chắn (là), quả thiệt, rõ ràng (là), thiệt quả, v. v. Trong số những QNTT
thuộc nhóm này, quả thiệt và thiệt quả là hai QNTT biến thể theo ngữ âm của khẩu ngữ Nam Bộ.
(22) Theo lời cô nói với tôi đó, thì quả thiệt có như vậy rồi. (BTHH)
(23) Thiệt quả Chung trúng số độc đắc 40.000 đồng. (TCTS)
Cả hai QNTT quả thiệt và thiệt quả đều có ý biểu thị ý khẳng định, xác nhận tuyệt đối của người nói đối với tính
chân thực của P, P đáng tin cậy cao. Tuy nhiên, QNTT thiệt quả có ý nhấn mạnh hơn QNTT quả thiệt và thường đứng đầu
câu.
Biểu thị thái độ hoài nghi
Thái độ hoài nghi là không tin hẳn, còn nghi ngờ hoặc cho rằng P là không thể, hàm ý khả năng ngược lại P. Để
biểu thị thái độ này, người nói có thể dùng QNTT để đánh dấu. Những QNTT biểu thị thái độ này, như: biết đâu, có lẽ
nào, không biết chừng, không lẽ, v. v
(24) Không biết chừng con của nó, rồi nó kiếm chuyện nói gạt (CNN)
Trong (24), QNTT không biết chừng biểu thị ý phỏng đoán của người nói đối với P. P được người nói nêu ra như
để thăm dò trao đổi ý kiến với người đối thoại hoặc cũng có thể là ý thắc mắc về một điều mà người nói biết rằng người
đối thoại cũng cảm thấy khó giải đáp.
Biểu thị thái độ ngạc nhiên, bất ngờ
Khi giao tiếp, trước một sự tình xảy ra ngoài mong đợi (hay khả năng không thể nghĩ đến) người nói cũng thường
dùng QNTT để đánh dấu thái độ ngạc nhiên, bất ngờ. Những QNTT thường sử dụng như: chẳng dè, hèn chi, nào dè, té
ra, v. v.
(25) Khánh đằm thắm và dễ thương, hèn chi Tòng ưa cũng phải.
22
3. 3. 2. Tầm tác động và sự tương tác lẫn nhau giữa QNTT với TrTTT
Trường hợp trong cùng một câu vừa có QNTT (đi trước), vừa có TrTTT (đi sau) thì tình thái của các yếu tố này
tương tác lẫn nhau, QNTT nằm trong tầm tác động của TrTTT. Nghĩa là tình thái của QNTT bị tác động bởi TrTTT và
TrTTT quyết định tình thái cho cả câu nói. Trong ngữ liệu khảo sát, các nhân vật giao tiếp sử dụng những câu vừa có
QNTT vừa có TrTTT cũng rất hạn chế. Toàn ngữ liệu có 07 trường hợp.
(28) Hôm trước mình tưởng qua năm con Đào thi Đốc Tơ. Tôi hỏi lại, té ra nó còn học tới hai ba năm nữa cô à.
(CĐCL)
Trong (28), QNTT té ra biểu thị thái độ ngạc nhiên trước hiện thực trái ngược với điều mong đợi. Điều mong đợi
biểu thị lượng thời gian “ít” còn hiện thực là lượng thời gian “nhiều”. TrTTT tới biểu thị ý đánh giá lượng “nhiều”,
TrTTT à biểu thị thái độ thân mật.
24
3. 4. Hành động ở lời của QNTT trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh
3. 4. 1. Một số QNTT là dấu hiệu ngôn hành của hành động ở lời chân thực
3. 4. 1. 1. QNTT có vai trò đánh dấu hành động phỏng đoán
Phỏng đoán là một hành động đoán định một cách đại khái, không chắc chắn.Trước những cơ sở hiện có, người nói
đoán định về sự tình P có thể xảy ra. Khảo sát 14.480 trang ngữ liệu, chúng tôi ghi nhận được 15 QNTT có vai trò đánh
dấu hành động phỏng đoán như sau: bất quá, có lẽ, coi bộ, dễ gì, đời nào, giỏi lắm, không chừng, là cùng, may ra, v. v.
(29) Có lẽ tại chúng nó không thuyền qua sông nên mới hạ trại.(NCTH)
Câu (29) có ý đoán định về một sự tình P, người nói không biết chính xác có xảy ra P hay không. Ý đoán định này
được đánh dấu bằng QNTT có lẽ. Yếu tố tình thái này đóng vai trò là phương tiện chỉ dẫn cho hành động phỏng đoán.
3. 4. 1. 2. QNTT có vai trò đánh dấu hành động bác bỏ
Bác bỏ là một hành động cải chính, phủ định một điều gì đã được khẳng định ở trước đó. Trước một sự tình Q,
người nói cho rằng sự tình Q không đúng, không cần thiết nên đưa ra nhận định P để cải chính.
Khảo sát 14.480 trang ngữ liệu, chúng tôi ghi nhận được 08 QNTT có vai trò đánh dấu hành động phủ định bác
bỏ như sau: chẳng thèm, dại gì, dễ gì, đời nào, giống gì, huống chi, lẽ ra, mà thôi, nào phải.
(30) Phải con tôi rồi, …, đời nào mà tôi quên cho được. (VNVT)
Trong (30), QNTT đời nào là những yếu tố đánh dấu hành động phủ định, bác bỏ của phát ngôn.
3. 4. 1. 3. QNTT có vai trò đánh dấu hành động đưa đẩy
Đưa đẩy là hành động thực hiện chức năng chuẩn bị, duy trì và kiểm tra quá trình đối thoại nhằm đạt được mục đích
giao tiếp.