TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
LỜI MỞ ĐẦU
Con người là trung tâm của mọi sự phát triển, vừa là động lực để phát triển
kinh tế - xã hội đồng thời mọi mục tiêu kinh tế - xã hội hướng tới đều là nâng cao
đời sống vật chất – tinh thần tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện. Xã
hội ngày càng phát triển thì lao động trở thành một nhu cầu thiết yếu để tồn tại,
thông qua lao động người lao động được trả lương – đây là nguồn thu nhập để họ
tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng sức lao động. Người lao động chiếm một tỷ lệ
lớn trong cơ cấu dân số, để bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động, pháp
luật lao động đã ra đời trong đó có chính sách tiền lương. Thông qua chính sách
tiền lương, Nhà nước có thể tác động tới mọi lĩnh vực của nền kinh tế. Nó tác
động tới những người làm công ăn lương – người dân của xã hội; nó tác động tới
mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ vì tiền lương là một bộ phận cấu
thành chi phí sản xuất; nó tác động đến quan hệ tích lũy và tiêu dùng vì khi thu
nhập tăng thì xu hướng tích lũy nhiều hơn sẽ tăng đầu tư cho nền kinh tế phát
triển; nó cũng tác động đến cơ cấu ngành nghề của nền kinh tế. Như vậy, chính
sách tiền lương chính là động lực cho phát triển kinh tế xã hội.
Việc thực hiện trả lương đúng với năng suất và chất lượng của cán bộ viên
chức chính là việc từng bước hoàn thiện chính sách tiền lương trong Ngân hàng
Agribank chi nhánh Sầm Sơn được xác định là một nhiệm vụ vừa mang tính cấp
bách vừa mang tính chiến lược lâu dài. Bên cạnh những thành tựu về cải cách và
hoàn thiện chính sách tiền lương trong thời gian qua của Ngân hàng vẫn còn một
số những hạn chế cần khắc phục. Sau một thời gian thực tập tại NH Agribank tôi
đã quyết định chọn đề tài: “Hoàn thiện chính sách tiền lương tại Ngân hàng
AGRIBANK chi nhánh Sầm Sơn” để làm đề tài nghiên cứu cho chuyên đề tốt
nghiệp của mình. Tôi hy vọng rằng, qua chuyên đề này tôi sẽ đưa ra được một số
GVHD: LÊ ĐỨC LÂM SVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
giải pháp kiến nghị có ích cho việc hoàn thiện chính sách tiền lương cho quý cơ
lao động được coi là hàng hóa nên tiền lương được coi là giá cả của sức lao động.
Trước hết, tiền lương là số tiền mà người lao động sử dụng trả cho người lao
động, nói cách khác đây là quan hệ kinh tế của tiền lương. Thứ hai, tiền lương
không chỉ thuần túy là vấn đề kinh tế mà còn là một vấn đề xã hội quan trọng, liên
quan tới đời sống và trật tự xã hội, đây chính là tính chất đặc biệt của hàng hóa
sức lao động. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đối với người sử dụng lao
động, tiền lương là một phần cấu thành nên chi phí sản xuất – kinh doanh. Vì thế,
tiền lương luôn được tính toán và quản lý chặt chẽ. Còn đối với người lao động,
tiền lương là thu nhập từ quá trình lao động, đây là phần thu nhập cơ bản và chủ
yếu đối với hầu hết mọi người lao động.
Trong thực tế, khái niệm tiền lương rất đa dạng và có thể gọi dưới nhiều tên
gọi khác nhau: thù lao lao động, thu nhập lao động…Ở Pháp sự trả công được gọi
là tiền lương, ở Đài Loan tiền lương chỉ mọi khoản thù lao mà người công nhân
nhận được do làm việc…còn ở Việt Nam “Tiền lương là lượng tiền mà người lao
động nhận được từ người sử dụng sức lao động sau khi hoàn thành một công việc
nhất định hoặc sau một thời gian lao động nhất định”
(1)
. Tiền lương được chia
thành tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế. Tiền lương danh nghĩa là
khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động; số tiền này phụ
thuộc trực tiếp vào năng suất lao động và hiệu quả làm việc của
GVHD: LÊ ĐỨC LÂM SVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC
3
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
người lao động; phụ thuộc và trình độ cũng như kinh nghiệm làm việc…trong quá
trình lao động. Còn tiền lương thực tế là số lượng các loại hàng hóa tiêu dùng và
các dịch vụ cần thiết mà người lao động hưởng lương có thể mua được bằng tiền
lương danh nghĩa.
“Thu nhập là tổng số tiền mà người lao động nhận được trong một thời
gian nhất định, từ các nguồn thu khác nhau”
phẩm. Chi phí này gồm có: Chi phí mua sắm máy móc, chi phí mua nguyên vật
liệu đầu vào, chi phí cho lao động trực tiếp sản xuất, chi phí cho lao động tham
gia gián tiếp vào quá trình sản xuất và chi phí quản lý điều hành. Như vậy, chi phí
tiền lương chi trả cho người lao động là tiền lương trả cho công nhân trực tiếp sản
xuất, công nhân phục vụ, cho cán bộ quản lý điều hành. Để thu được lợi nhuận
cao hơn, chủ doanh nghiệp luôn muốn giảm chi phí, nhưng lượng chi phí này chỉ
có thể giảm tới một mức nào đó do còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố liên quan đến
pháp luật lao động và thị trường lao động. Hoặc họ có thể nâng cao năng suất lao
động, nâng cao hiệu quả làm việc để giảm giá thành sản phẩm – đây thường là
cách họ chọn để nâng cao lợi nhuận cho mình và mang lại hiệu quả cao hơn trong
việc quản lý lao động. Bởi lẽ, tiền lương tăng lên sẽ là yếu tố tạo động lực tốt nhất
để người lao động gắn bó với tổ chức, làm việc có trách nhiệm cao hơn và có
năng suất lao động cao hơn. Vì thế, tiền lương luôn được các nhà sử dụng lao
động coi như một công cụ quản lý lao động hữu hiệu nhất và ưu việt nhất trong hệ
thống các bí quyết quản lý lao động.
• Đối với người lao động:
Người lao động là người nắm giữ sức lao động. Kinh tế ngày càng phát triển,
thị trường lao động ngày một hoàn thiện, sức lao động đã trở thành một loại hàng
hóa đặc biệt và mang lại giá trị cao hơn giá trị hàng hóa mà họ làm ra cho người
chủ thuê mướn sức lao động của họ. Tiền công mà chủ doanh nghiệp trả chính là
giá cả sức lao động mà họ bỏ ra trong quá trình làm việc và cống hiến cho doanh
GVHD: LÊ ĐỨC LÂM SVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC
5
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
nghiệp. Người lao động tiêu hao sức cơ bắp và tiêu hao trí lực vào quá trình làm
việc; nếu không được nghỉ ngơi để có thời gian tái tạo sức lao động đó thì sức lao
động đó sẽ dần bị mất đi và không thể phát triển được. Vì thế, người lao động sử
dụng tiền lương để tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng sức lao động của mình
thông qua hệ thống các nhu cầu ăn, mặc, ở, giao lưu, học hỏi… Tiền lương mà
doanh nghiệp trả phải đáp ứng được các nhu cầu này thì mới có tác dụng kích
Chính sách tiền lương được xem như một văn bản pháp luật nên có thể xem
chính sách tiền lương như một công cụ hiệu quả góp phần điều tiết thị trường lao
động, thu hút đầu tư nước ngoài, thu hút công nghệ và góp phần nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực của quốc gia.
Đối với thị trường lao động, thông qua việc ban hành và sửa đổi chính sách
lương trong những năm qua, Nhà nước công nhận tiền lương và tiền công là giá
cả của hàng hóa sức lao động. Thông qua hoạt động của thị trường lao động,
chính sách tiền lương góp phần phân bổ điều chỉnh nguồn nhân lực phạm vi vùng,
địa phương và toàn bộ nền kinh tế.
Bộ luật lao động ra đời năm 1994, qua hai lần sửa đổi, bổ sung đã quy định
khung pháp lý thuận lợi cho việc thực hiện cơ chế lao động hai bên trong doanh
nghiệp,…tiền lương, tiền công được xác định, điều chỉnh thông qua hoạt động lao
động và thương lượng lao động tập thể.
Nhờ vậy, chính sách tiền lương đã góp phần thu hút đầu tư và thu hút lao
động vào các vùng kinh tế trọng điểm, khu công nghiệp, khu chế xuất; hạn chế sự
di chuyển lao động. Chất lượng lao động tăng lên, công nghệ ngày một hiện đại,
môi trường đầu tư thuận lợi là điều kiện quan trọng để thu hút đầu tư nước ngoài.
Quy mô sản xuất được mở rộng đã tạo thêm việc làm cho người lao động và có
tác dụng trở lại với thị trường lao động, giảm thất nghiệp, tăng thu nhập cho
người lao động và tăng thu nhập cho nền kinh tế quốc dân.
GVHD: LÊ ĐỨC LÂM SVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC
7
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
Để chính sách tiền lương phát huy được hiệu quả thì các chính sách liên quan
như chính sách đào tạo, chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm, phát triển hệ thống
dịch vụ việc làm, chính sách xóa đói giảm nghèo sẽ làm cho thị trường lao động
phát triển toàn diện hơn. Nhà nước cũng đang tiếp tục nghiên cứu cải cách các
chính sách toàn diện triệt để hơn chính sách tiền lương cho phù hợp với kinh tế thị
trường và hội nhập kinh tế quốc tế như việc ban hành tiền lương tối thiểu, thiết
lập hệ thống thang, bảng lương mới, hướng dẫn các doanh nghiệp xây dựng thệ
động của thị trường trên nền tảng chính sách tiền lương của Nhà nước. Có thể coi
sự vận động của thị trường là yếu tố khách quan lớn nhất ảnh hưởng tới các chính
sách tiền lương. Nền kinh tế suy thoái hay tăng trưởng sẽ tạo cho người sử dụng
có khuynh hướng hạ thấp hoặc tăng lương cho người lao động. Vì trong nền kinh
tế suy thoái, cung lao động tăng lên, các doanh nghiệp thường hạ thấp hoặc không
tăng lương, còn trong nền kinh tế hưng thịnh cầu lao động tăng dẫn tới khuynh
hướng tăng lương để thu hút và giữ chân người lao động. Như vậy, nếu chính
sách tiền lương của Nhà nước làm cho Quy chế tiền lương của doanh nghiệp thay
đổi một số điều thì sự vận động của thị trường đòi hỏi quy chế tiền lương phải
biến đổi không ngừng, thậm chí là biến đổi hoàn toàn mới theo kịp được nhịp độ
biến đổi của tiền lương trên trị trường lao động, đây là một điều rất quan trọng và
cần được chú ý khi xây dựng chính sách tiền lương.
Bên cạnh các yếu tố trên, sự có mặt của công đoàn cũng có ảnh hưởng phần
nào tới quyết định về tiêu chuẩn được sử dụng để xếp lương, các mức chênh lệch
về tiền lương, các hình thức trả lương…mà doanh nghiệp có công đoàn áp dụng.
1.3.2 Các yếu tố bên trong ảnh hưởng tới tiền lương và chính sách
tiền lương.
• Yếu tố thuộc về tổ chức:
Thu nhập của người lao động nhận được cao hay thấp là phụ thuộc vào quan
điểm trả lương của doanh nghiệp mà người lao động đang làm việc, vì triết lý này
GVHD: LÊ ĐỨC LÂM SVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC
9
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
sẽ quyết định chính sách tiền lương của doanh nghiệp đó. Bầu không khí tâm lý,
văn hóa doanh nghiệp hay quan điểm, triết lý của tổ chức có ảnh hưởng đến cách
thức tuyển chọn cán bộ, nhân viên; thái độ của người lãnh đạo với cấp dưới; hành
vi của người lao động; vấn đề đánh giá thực hiện công việc cũng ảnh hưởng tới
quy chế trả lương cho người lao động.
Đối với các tổ chức có quy mô lớn, cơ cấu lao động phức tạp thì hệ thống
chính sách và các chế độ tiền lương cũng phức tạp, các hình thức trả lương đa
và khả năng thăng tiến tốt.
- Điều kiện làm việc: Là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả làm việc của
người lao động. Nếu điều kiện làm việc: trang thiết bị máy móc phục vụ cho công
việc; yếu tố ánh sáng, tiếng ồn, độ ẩm và vệ sinh đảm bảo thì hiệu quả làm việc
cao, giảm bớt được sự căng thẳng của thần kinh cho người lao động nên làm
chậm sự xuất hiện của các yếu tố mệt mỏi và căng thẳng. Nơi có môi trường và
điều kiện làm việc thuận lợi thường có năng suất lao động cao, điều này cũng ảnh
hưởng đến thu nhập mà người lao động nhận được hàng tháng.
- Vị trí và vai trò của công việc trong tổ chức: Đối với những công việc có vị
trí quan trọng đối với tổ chức như kế toán, kiểm toán thường có mức lương cao
hơn các ngành khác. Một ví dụ dễ thấy, sinh viên mới ra trường nếu cùng làm
việc trong một tổ chức hay doanh nghiệp thì mức lương khởi điểm cho ngành kế
toán và kiểm toán thường cao hơn các ngành nhân sự, kế hoạch…
Tất cả các yếu tố này ảnh hưởng tới quyết định tính lương cho người lao động
đảm nhiệm công việc đó.
• Nhóm yếu tố thuộc về cá nhân người lao động.
Mức lương của người lao động trong bất kỳ một tổ chức nào cũng tùy thuộc
vào trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, mức độ hoàn thành công việc, thâm niên, sự
GVHD: LÊ ĐỨC LÂM SVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC
11
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
trung thành và khả năng phát triển của người lao động đó trong tổ chức. Những
người này có khả năng làm được các công việc phức tạp, hiệu quả làm việc cao và
có sự vận dụng sáng tạo trong quá trình làm việc, khả năng xử lý nhanh… là các
yếu tố tạo ra sự khác nhau khi xây dựng và áp dụng thang lương, bảng lương cho
những lao động khác nhau dẫn đến sự chênh lệch mức lương giữa người lao động.
Tiền lương của người lao động còn phụ thuộc vào sự hoàn thành công việc và
mức độ đóng góp cũng như cống hiến của người lao động vào tổ chức.
Đối với bất kỳ một tổ chức, một doanh nghiệp nào cũng luôn đề ra các mức
để lượng hóa mức độ hoàn thành công việc của người lao động để từ đó đưa ra
đơn vị, tổ chức đã quy định tại khoản 1 điều 2 của Nghị định 166/ NĐ – CP ngày
16/11/1007.
- Tính lương tối thiểu vùng đối với các công ty, doanh nghiệp, tổ chức cá
nhân.
- Tính trợ cấp kể từ ngày 1/1/2008 trở đị đối với lao động dôi dư.
- Tính các khoản trích và các chế độ được hưởng theo lương tối thiểu
chung.
1.4.2 Quy định về thang lương, bảng lương và các mức phụ cấp
Thang lương, bảng lương là thang giá trị về mặt lao động của các chức danh,
công việc trong công ty, trong doanh nghiệp,… Thông qua thang lương, bảng
lương người lao động có cơ sở thỏa thuận kí hợp đồng lao động biết được quá
trình tăng lương và lên ngạch lương, từ đó khuyến khích người lao động nâng cao
tay nghề, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ để đạt được mức lương cao hơn.
Ở đây, chỉ xin đề cập đến các đối tượng áp dụng Quy định về thang lương, bảng
lương và phụ cấp được quy định tại Nghị định 205/2004 NĐ – CP ngày
14/12/2004. Các chế độ đó cụ thể như sau:
GVHD: LÊ ĐỨC LÂM SVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC
13
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
Chế độ phụ cấp gồm: Phụ cấp khu vực; phụ cấp trách nhiệm công việc;
phụ cấp độc hại nguy hiểm; phụ cấp lưu động và phụ cấp thu hút.
Hệ thống thang bảng lương và phụ cấp này làm cơ sở để:
- Thỏa thuận tiền lương trong hợp đồng lao động;
- Xây dựng đơn giá tiền lương; thực hiện chế độ nâng bậc lương theo thỏa
thuận trong hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể;
- Đóng và hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định
của pháp luật;
- Trả lương ngừng việc và các chế độ khác theo quy định của pháp luật lao
động;
- Giải quyết các quyền lợi khác nhau theo thỏa thuận của người sử dụng lao
năng suất;
+ Tiền lương từ quỹ lương dự phòng từ năm trước chuyển sang;
+ Quỹ lương từ các hoạt động kinh doanh khác ngoài đơn giá tiền lương;
- Về cách thức xác định quỹ tiền lương: Đưa ra cách thức xác định cho
từng loại quỹ lương và những quy định cụ thể khác về từng loại quỹ lương kể
trên.
- Về sử dụng quỹ tiền lương: Quy định này thể hiện chính sách, quan niệm
của chủ doanh nghiệp trong việc phân phối thu nhập của doanh nghiệp cho người
lao động. Mỗi doanh nghiệp có cách thức xác định quỹ tiền lương và sử dụng quỹ
tiền lương khác nhau và phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
+ Phần quỹ lương trả trực tiếp cho người lao động tùy thuộc vào từng
doanh nghiệp nhưng không nhỏ hơn 76% tổng quỹ lương;
+ Doanh nghiệp được trích quỹ khen thưởng từ quỹ lương để trả cho người
lao động có thành tích tốt trong thực hiện công việc nhằm mục đích khuyến khích
GVHD: LÊ ĐỨC LÂM SVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC
15
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
người lao động làm việc nhưng không vượt quá 10% quỹ lương. Tuy nhiên, đối
với một số doanh nghiệp việc trích khen thưởng cho các bộ, công nhân viên chức
có thể được trích thêm một phần từ ngoài quỹ lương.
+ Quỹ khuyến khích trích tối đa không quá 2% tổng quỹ lương để trả cho
người lao động có trình độ chuyên môn, tay nghề cao.
+ Trích quỹ dự phòng cho năm sau để phòng các rủi ro gặp phải nhưng
không lớn hơn 12% tổng quỹ lương.
Như vậy, qua việc quy định sử dụng quỹ tiền lương mà Công văn 4320 đưa
ra đã xác định rất rõ các thức sử dụng quỹ tiền lương, phần trăm quy định cho quỹ
lương trong việc chi tối đa… đảm bảo tính thống nhất trong việc quản lý quỹ tiền
lương trong các doanh nghiệp.
1.4.4 Quy định về hình thức trả lương
Thông thường có hai hình thức trả lương cơ bản được áp dụng chủ yếu
1.5 SỰ CẦN THIẾT HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TIỀN
LƯƠNG
Trong thời gian qua, chính sách tiền lương đã không ngừng hoàn thiện để
phù hợp hơn với tình hình phát triển kinh tế -xã hội. Chính sách tiền lương đã thu
hút được vốn đầu tư nước ngoài, công nghệ cao và nền kinh tế tri thức để nâng
cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Tiền lương, tiền công đả được coi là
giá cả của hàng hóa sức lao động trên cơ sở thị trường lao động quyết định thông
qua hoạt động của thị trường lao động; chính sách tiền lương đã phần nào khắc
phục được tình trạng bình quân, san bằng…thì chính sách tiền lương vãn biểu
hiện một số mặt hạn chế cần phải sửa đổi bổ sung cho phù hợp hơn. Các hạn chế
như: chua có quy định tiền lương tối thiểu ngành, chưa có các chế tài đủ mạnh
GVHD: LÊ ĐỨC LÂM SVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC
17
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
buộc các doanh nghiệp phải thực hiện; hệ thống thang lương, bảng lương và phụ
cấp áp dụng đối với các DNNN chưa thực hiện được vai trò của bảng giá nhân
công để trả lương cho người lao động cũng như chưa đổi mới quy định nguồn trả
lương đối với DNNN.
Chính sách tiền lương là mũi tên hai chiều vừa tác động đến thu nhập của
người lao động – một bộ phận dân số lớn của xã hội, tiền lương lại là một yếu tố
cấu thành chi phí sản xuất của doanh nghiệp nên tác động đến thu nhập của chủ
doanh nghiệp. Chính sách tiền lương trong doanh nghiệp hợp lý là công cụ quản
lý doanh nghiệp tốt nhất để đạt hiệu quả lao động cao và giữ chân được lao động
giỏi. Đó chính là yếu tố tạo động lực cho doanh nghiệp phát triển bền vững, từ đó
mà chính sách tiền lương tác dụng trở lại đối với nền kinh tế quốc dân thong qua
quan hệ tiêu dùng và tiết kiệm. Thu nhập tăng lên sẽ đi đôi với xu hướng tiết kiệm
nhiều hơn, kéo theo đầu tư nhiều hơn, tạo thêm nội lực cho nền kinh tế. Chính vì
thế, hoàn thiện chính sách tiền lương luôn là một vấn đề mang tính cấp bách nhất
là khi nền kinh tế nước ta đang trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới.
GVHD: LÊ ĐỨC LÂM SVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC
Thành phố Quy Nhơn-tỉnh Bình Định.
Ngày 22/12/1992,Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có Quyết định số 603/NH-
QĐ về việc thành lập chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp các tỉnh Thành phố trực
thuộc Ngân hàng Nông nghiệp gồm có 3 sở giao dịch( Sở giao dịch I tại Hà Nội
và Sở giao dịch II tại văn phòng đại diện khu vực miền Nam và Sở giao dịch 3 tại
văn phòng miền Trung) và 43 chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp
tỉnh,thành phố. Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp quận,huyện,thị xã
co 475 chi nhánh.
Năm 1993,Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam ban hành quy chế thi đua khen
thưởng tạo ra những chuẩn mực cho cá nhân và tập thể phấn đấu trên mọi cương
vị và nhiệm vụ công tác. Tổ chức được hội nghị tổng kết toàn quốc có các giám
đốc chi nhánh huyện xuất sắc nhất của tỉnh thành phố
Ngày 30/7/1994 tại Quyết định số 160/QĐ-NHN9,Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước chấp thuận mô hình đổi mới hệ thống quản lý của Ngân hàng nông nghiệp
Việt Nam,trên cơ sở đó,Tổng giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam cụ thể
hóa bằng văn bản số 927/TCCB/Ngân hàng Nông nghiệp ngày 16/8/1994 xác
định:Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam có 2 cấp:Cấp tham mưu và Cấp trực tiếp
kinh doanh.Đây thực sự là bước ngoặt về tổ chức bộ máy của Ngân hàng Nông
nghiệp Việt Nam và cũng là nền tảng cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam sau này
Ngày 7/3/1994 theo Quyết định số 90/TTg của Thủ tướng Chính phủ,Ngân
hàng Nông nghiệp Việt Nam hoạt động theo mô hình Tổng công ty Nhà nước với
cơ cấu tổ chức bao gồm Hội đồng Quản trị,Tổng giám đốc,bộ máy giúp việc bao
gồm bộ máy kiểm soát nội bộ,các đơn vị thành viên bao gồm các đơn vị hạch toán
GVHD: LÊ ĐỨC LÂM SVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC
20
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
phụ thuộc,hạch toán độc lập,đơn vị sự nghiệp,phân biệt rõ chức năng quản lý và
chức năng điều hành,Chủ tịch Hội đồng quản trị không kiêm Tổng giám đốc Trên
nước,NHNo tích cực mở rộng quan hệ quốc tế và kinh doanh đối ngoại,nhận được
sự tài trợ của các tổ chức tài chính tín dụng quốc tế như WB,ADB,IFAD,ngân
hàng tái thiết Đức…đổi mới công nghệ,đào tạo nhân viên…Tiếp nhận và triển
khai có hiệu quả 50 Dự án nước ngoài với tổng số vốn trên 1300 triệu USD chủ
yếu đầu tư vào khu vực kinh tế nông nghiệp,nông thôn. Ngoài hệ thống thanh
toán quốc tế qua mạng SWIFT,NHNo đã thiết lập được hệ thống thanh toán
chuyển tiền điện tử,máy rút tiền tự động ATM trong toàn hệ thống.
Tiến hành đổi mới toàn diện mô hình tổ chức,mạng lưới kinh doanh theo
hướng tính giảm trung gian,tăng năng lực cho các đơn vị trực tiếp kinh doanh.
Đổi mới công tác quản trị điều hành,quy trình nghiệp vụ theo hướng đơn giản hóa
các thủ tục tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng. Tập trung mọi nguồn lực đào
tạo cán bộ nhân viên theo hướng chuyên môn hóa,tăng cường cơ sở vật chất kỹ
thuật,hiện đại hóa công nghiệp.
Năm 2001 là năm đầu tiên NHNo triển khai thực hiện đề án tái cơ cấu với các
nội dung chính sách là cơ cấu lại nợ, lành mạnh hóa tài chính,nâng cao chất lượng
tài sản có,chuyển đổi hệ thống kế toán hiện hành theo chuẩn mực quốc tế đổi mới
sắp xếp lại bộ máy tổ chức theo mô hình NHTM hiện đại tăng cường đâò tạo và
đào tạo lại cán bộ tập trung đổi mới công nghệ ngân hàng, xây dựng hệ thống
thong tin quản lý hiện đại.
Bên cạnh mở rộng kinh doanh trên thị trường trong nước,năm 2002, NHNo tiếp
tục tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế. Đến cuối năm 2002 NHNo là thành viên
GVHD: LÊ ĐỨC LÂM SVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC
22
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
của APRACA,CICA và ABA, trong đó Tổng giám đốc NHNo là thành viên chính
thức Ban điều hành của APRACA và CICA
Năm 2003 NHNo và PTNTVN đã đẩy nhanh tiến độ thực hiện Đề án Tái cơ
cấu nhằm đưa hoạt động của NHNo&PTNTVN phát triển với quy mô lớn chất
lượng hiệu quả cao. Với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong thời kỳ đỏi
mới,đóng góp tích cực và rất có hiệu quả vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội
chất lượng dịch vụ, chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao,đảm bảo các lợi ích
cho người lao động và phát triển thương hiệu-văn hóa Agribank.
Năm 2009 cũng là năm Agribank ưu tien và chú trọng công tác đào tạo,bồi
dưỡng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của cạnh tranh và hội nhập. Triển khai
thành công mô hình đào tạo trực tuyến; tuyển thêm 2000 cán bộ trẻ,được đào tạo
căn bản,có ngoại ngữ và tin học nhằm chuẩn bị nguồn lực cho các năm tiếp theo.
Đến cuối năm 2009,tổng tài sản của Agribank đạt xấp xỉ 470.000 tỷ đồng,tăng
22% so với năm 2008;tổng nguồn vốn đạt 434.331 tỷ đồng,tổng dư nợ nền kinh tế
đạt 354.112 tỷ đồng,trong đó cho vay nông nghiệp nông thôn đạt 242.062 tỷ
đồng.
Năm 2009, Agribank vinh dự được đón Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh tới thăm
và làm việc vào đúng dịp kỉ niệm 21 năm ngày thành lập(26/3/1988-26/3/2009);
vinh dự được Đảng,Nhà nước,Chính phủ,ngành Ngân hàng,nhiều tổ chức uy tín
trên thế giới trao tặng các bằng khen cùng nhiều phần thưởng cao quý:TOP 10
giải SAO VÀNG ĐẤT VIỆT,TOP 10 thương hiệu Việt Nam uy tín nhất,danh
hiệu “DOANH NGHIỆP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG” do Bộ công thương công
nhận,TOP 10 Doanh nghiệp Việt Nam theo xếp hạng của VNR500.
GVHD: LÊ ĐỨC LÂM SVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC
24
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
Năm 2010,Agribank là TOP 10 trong 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam.
Thực thi Luật tổ chức tín dụng năm 2010 và triển khai Nghị định số 59/2009/NĐ-
CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng thương mại, năm
2010,HĐQT Agribank đã ban hành và triển khai Điều lệ mới về tổ chức và hoạt
động của Agribank thay thế Điều lệ ban hành năm 2002. Cũng trong năm
2010,Agribank được Chính phủ cấp và bổ sung 10.202,11 tỷ đồng,nâng tổng vốn
điều lệ của Agribank lên 20.810 tỷ đồng,tiếp tục Định chế tài chính lớn nhất Việt
Nam. Agribank chính thức vươn lên là Ngân hàng số 1 Việt Nam trong lĩnh vực
phát triển chủ thẻ với trên 6,38 triệu thẻ,bứt phá trong phát triển các sản phẩm
dịch vụ tiên tiến,đặc biệt là các sản phẩm thanh toán trong nước…Ngày