nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ sinh học ntt đến năng suất và chất lượng chè của một số giống chè mới tại thái nguyên - Pdf 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––– MA THỊ THUÝ PHƢƠNG NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA PHÂN HỮU CƠ
SINH HỌC NTT ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƢỢNG
CHÈ
CỦA MỘT SỐ GIỐNG CHÈ MỚI TẠI THÁI NGUYÊN

L
L
U
U

K
K
H
H
O
O
A
AH
H


C
CN
N
Ô
Ô
N
N
G
GN
N

TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––

MA THỊ THUÝ PHƢƠNG NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA PHÂN HỮU CƠ
SINH HỌC NTT ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƢỢNG CHÈ
CỦA MỘT SỐ GIỐNG CHÈ MỚI TẠI THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành : Trồng trọt
L
L
U
U


N
N
A
AH
H


C
CN
N
Ô
Ô
N
N
G
GN
N
G
G
H
H
I
I

cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn. Các thông tin, tài liệu
trình bầy trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc. Thái Nguyên, ngày tháng 10 năm 2010
Tác giả
Ma Thị Thuý Phƣơng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Ma Thị Thuý Phương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5

MỤC LỤC
1. MỞ ĐẦU
1.1 . Đặt vấn đề 1
1.2. Mục đích của đề tài 3
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1.Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.1.1. Một số đặc điểm sinh trưởng phát triển của cây chè 5
2.1.2. Nguồn gốc cây chè 6
2.1.3. Phân loại cây chè 8
2.1.4. Sự phân bố của chè 9
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.3. Vai trò của giống đối với năng suất và chất lượng chè 10
2.4. Vai trò của phân bón đến năng suất và chất lượng chè
2.5. Những nghiên cứu về giống chè 11
2.5 1. Kết quả nghiên cứu về giống chè trên thế giới 12
2.5.1.2. Những nghiên cứu và ứng dụng phân bón cho chè trên thế
giới …………………………………………………………… 14
2.5.2.Kết quả nghiên cứu giống chè ở Việt Nam……… 14

42.5. Tình hình tiêu thụ chè tại TPThái Nguyên
4.3. Kết quả đánh giá ảnh hưởng của phân hữu cơ sinh học NTT đến
sinh trưởng, năng suất, chất lượng chè………. 68
4.3.1. Kết quả đánh giá ảnh hưởng của phân HCSH NTT đến
sinh trưởng của giống chè mới tại TP Thái Nguyên 69
4.3.1.1. Ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng của búp 69
4.3.1.2. Ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây chè 70
4.3.2.1. Ảnh hưởng đến năng suất chè 71
4.3.2.2. Ảnh hưởng đến một số chỉ tiêu chất lượng 73
4.4. Ảnh hưởng của phân HCVS NTT đến mật độ sâu hại chè tại TP Thái
Nguyên 75
4.4. Ảnh hưởng của phân HCVS NTT đến một số chỉ tiêu cơ bản về đất
trồng chè tại TP Thái Nguyên 78
5. PHẦN KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 82
5.1. Kết luận 82
5.2. Đề nghị 83
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Diễn biến khí hậu tỉnh Thái Nguyên trong 3 năm 2007-2009 54
Bảng 4.2: Hiện trạng sử dụng đất tại Thành Phố Thái Nguyên 58
Bảng 4.4: Diện tích chè trồng mới từ năm 2001 - 2006 64
Bảng 4.5: Cơ cấu giống chè tại TP Thái Nguyên tính đến năm 2006 .64
Bảng 4.6: Tình hình sử dụng phân bón cho cây chè tại tỉnh Thái Nguyên 67

hoá của giống chè LDP1 tại TP Thái Nguyên 74
Bảng 4.20: Ảnh hưởng của phân HCVS NTT đến một số chỉ tiêu sinh
hoá của giống chè TRI777 tại TP Thái Nguyên 74
Bảng 4.21: Ảnh hưởng của phân HCVS NTT đến một số chỉ tiêu sinh
hoá của giống chè Kim Tuyên tại TP Thái Nguyên 74
Bảng 4.22: Ảnh hưởng của phân HCVS NTT đến mật độ sâu hại của
giống chè LDP1 tại TP Thái Nguyên 77
Bảng 4.23: Ảnh hưởng của phân HCVS NTT đến mật độ sâu hại của
giống chè TRI777 tại TP Thái Nguyên 77
Bảng 4.24: Ảnh hưởng của phân HCVS NTT đến mật độ sâu hại của
giống chè Kim Tuyên tại TP Thái Nguyên 77

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Đồ thị diễn biến nhiệt độ trung bình các tháng trong 3 năm
(2008-2010) 55


HCVS : Hữu cơ vi sinh
ĐVT : Đơn vị tính
NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
BVTV : Bảo vệ thực vật
VSV : Vi sinh vật
CTV : Cộng tác viên
KHCN : Khoa học công nghệ
CT : Công thức
DT : Diện tích
NS : Năng suất
SL : Sản lượng
TN : Thí nghiệm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12

Phần thứ nhất

13
cấp “Nhãn hiệu Chè Việt Nam”, thương hiệu chè Việt Nam đã được đăng ký tại
77 quốc gia và vùng lãnh thổ. Đây là cơ hội tốt cho ngành chè Việt Nam đầu tư
sản xuất, chế biến và mở rộng thị trường xuất khẩu, đưa hương vị chè của Việt
Nam tới phục vụ quý khách trên toàn thế giới.
Thái Nguyên là một trong những tỉnh có diện tích, sản lượng chè lớn của
của cả nước. Sản phẩm chè xanh truyền thống của Thái Nguyên (đặc biệt là vùng
chè đặc sản Thành phố Thái Nguyên) rất nổi tiếng không những ở thị trường trong
nước mà còn cả thị trường thế giới. Điều kiện tự nhiên, khí hậu của Thái Nguyên
thích hợp cho cây chè sinh trưởng và phát triển, nhân dân Thái Nguyên có kinh
nghiệm trồng và chế biến chè lâu đời. Cây chè được Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ
XVI xác định là cây mũi nhọn phát triển kinh tế. Để có cơ sở vững chắc cho sự
phát triển chè ở Thái Nguyên thì viêc đánh giá các tiềm năng về khí hậu, điều kiện
tự nhiên kinh tế, đất đai, phân bón là hết sức cần thiết, giúp cho tỉnh Thái Nguyên
xây dựng chiến lược phát triển chè trong tương lai.
Thái Nguyên xem cây chè là cây kinh tế mũi nhọn của tỉnh, cây chè đem
lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân, góp phần giải quyết lao động nhàn rỗi tại
địa phương, ngoài giống chè Trung Du sẵn có thành phố Thái Nguyên đang phát
triển mạnh giống chè mới đem lại năng suất cao, chất lượng phù hợp với thị hiếu
người tiêu dùng, tuy nhiên các trên mỗi giống chè cần có quy trình bón phân cho
phù hợp tại địa phương mà không ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng.
Thực tế cho thấy người dân sử dụng phân khoáng vô cơ nhiều, trong khi
đó lại không sử dụng phân chuồng vì chăn nuôi không phát triển. Mặt khác
nhiều trại chăn nuôi đều sử lý hầm BOGAS. Do lạm dụng phân hóa học, ít sử
dụng phân chuồng, về lâu dài sẽ dẫn đến giảm năng suất và chất lượng chè. Vì
thế sử dụng phân hữu cơ sinh học đã được nông dân áp dụng, với loại phân phổ
biến hiện nay là Lân vi sinh Sông gianh. Để tăng hiệu quả sản xuất và phát triển
kinh tế của tỉnh một cách toàn diện, giải pháp tốt nhất là sử dụng nguồn tài
nguyên tại chỗ.
Khai thác hiệu quả nguồn hữu cơ tại địa phương để cung cấp dinh dưỡng

Kết quả nghiên cứu là tiền đề có giá trị cho khoa học cho nghiên cứu và
ứng dụng cho người sản xuất.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
Phần thứ hai
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Phân hữu cơ sinh học là loại phân bón bao gồm nhiều chủng vi sinh vật
hữu ích như: vi sinh vật cố định đạm, vi sinh vật phân giải lân, phân giải
xelluloza, và các chất khó tan, vi sinh vật kích thích quá trình quang hợp, vi sinh
vật kháng bệnh Kết hợp với các sản phẩm hữu cơ có nguồn gốc tự nhiên như:
than bùn, bùn thải từ các ao hồ, rác thải trong sinh hoạt, các sản phẩm phụ nông
nghiệp qua quá trình phân giải tạo mùn và cung cấp các nguyên tố cần thiết
cho cây trồng, đồng thời có tác dụng cải thiện độ phì cho đất, bảo vệ môi trường.
Việc thử nghiệm các loại phân hữu cơ vinh sinh thay thế một phần phân
khoáng bón cho cây chè là hết sức cần thiết, trong thực tế hiện nay đã có nhiều
nghiên cứu về quy trình sản xuất chè an toàn, chè hữu cơ song phạm vi ứng
dụng ra thực tế còn nhiều khó khăn vì chỉ thực hiện trong phạm vi hẹp, thời gian
chuyển đổi ngắn các giải pháp kỹ thuật chưa bộc lộ được hết hiệu quả. Sử dụng
phân hữu cơ vi sinh thay thế dần dần và tiến tới loại bỏ các loại phân khoáng đối
với cây chè, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ tác động đến năng suất và
chất lượng sản phẩm mà còn cải thiện môi trường, cải thiện độ phì cho đất
2.1.1. Một số đặc điểm sinh trƣởng triển của cây chè
Chè là cây lâu năm, có hai chu kỳ phát triển là chu kỳ phát triển nhỏ và
chu kỳ phát triển lớn.
Chu kỳ phát triển nhỏ: là chu kỳ phát triển hàng năm của cây chè. Hàng năm
vào mùa đông, khi điều kiện tự nhiên không thuận lợi như nhiệt độ thấp, khô
hạn… cây chè sinh trưởng và phát triển chậm dần và ngừng sinh trưởng khi

mần nách thứ 4 xuất hiện. Ông cho rằng khi mần chè qua đông, 2 lá đầu tiên bao
bọc mầm chè là lá vẩy ốc, tiếp theo là lá cá. Các mầm nách của lá thứ 4 và lá thứ
5 của đợt sinh trưởng thứ nhất sẽ phát triển thành búp của đợt sinh trưởng thứ 2
[15].
Nghiên cứu về sự sinh trưởng của búp chè, K.E. Bakhơtatde (1971) và
K.M. Đjemukhate (1976) cho rằng: sinh trưởng của búp chè phụ thuộc vào điều
kiện khí hậu, ở những nước có mùa đông rõ rệt, búp chè sẽ ngừng sinh trưởng
vào mùa đông và nó được phục hồi vào thời kỳ ấm lên, ngược lại ở những nước
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
nhiệt đới búp chè sinh trưởng liên tục, thời vụ thu hoạch búp chè quanh năm
[15].
Nghiên cứu về sinh trưởng búp chè trong điều kiện không đốn và có đốn,
K.M. Đjemukhatde (1976) [15] cho rằng: trong điều kiện để giống hay không
đốn thì các mầm chè được phân hoá trọng vụ thu, vụ đông và hình thành búp
trong vụ xuân. Như vậy nương chè hái búp, có đốn thì sinh trưởng bắt đầu muộn
hơn một số ngày so với nương chè để giống hay không đốn.
Nghiên cứu quan hệ giữa búp chè và năng suất K.M. Djemukhatde cũng đã
chỉ ra rằng: tương quan giữa số lượng búp trên đơn vị diện tích và năng suất
tương quan chặt chẽ với nhau [15].
Nghiên cứu quan hệ giữa lá chè và búp chè K. E. Bakhơtatde đã đề ra các chỉ
tiêu về lá làm căn cứ chọn giống
2.1.2. Nguồn gốc cây chè
Nguồn gốc cây chè là vấn đề phức tạp, cho đến nay nhiều quan điểm khác
nhau dựa trên những cơ sở về lịch sử, khảo cổ học và thực vật học. Một số quan
điểm được nhiều người công nhận thứ nhất là:
Theo Carl Von Linnaeus, nhà thực vật học Thuỵ Điển, lần đầu tiên trên
thế giới đã xác nhận Trung Quốc là vùng nguyên sản cây chè của thế giới và
định tên khoa học cây chè là Thea sinensis, phân thành 2 thứ chè: Thea bohea (

Tên của cây chè đã trải qua nhiều tranh luận và có rất nhiều cách đặt tên. Tên
gọi đầu tiên được nhà khoa học Thụy Điển Linne đặt tên là Theasinensis vào năm
1753. Đến nay tên khoa học của cây chè được nhiều người công nhận nhất là:
Camellia sinensis (L) Okuntze, xếp trong hệ thống phân loại thực vật sau:
- Ngành hạt kín: Angiosepermae.
- Lớp 2 lá mầm: Dicotyleonae.
- Bộ chè: Theales.
- Họ chè: Thea ceae.
- Chi chè: Camellia.
- Loài: Sinensis.
Cây chè được chia thành những thứ chè (Varietas) căn cứ vào đặc điểm
hình thái, đặc điểm sinh lý, sinh hoá và tính chống chịu, có nhiều cách phân loại
nhưng bảng phân loại nhà Bác học Hà Lan Cohen Stuar – 1916 được nhiều
người công nhận Cohen Stuar đã chia chè làm 4 thứ sau đây:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

19
Chè Trung Quốc lá nhỏ ( Camellia Var Bohea); Có đặc điểm thân bụi
thấp, phân cành nhiều, búp nhỏ mù xoè nhanh, năng suất không cao, phẩm chất
bình thường, nhiều hoa, quả, khả năng chống chịu tốt, có thể chịu rét từ 12
0
c
đến -15
0
c.
Chè Trung Quốc lá to ( Camellia Sinensis Var Macrophylla); Có đặc điểm
thân gỗ nhỡ cao tới 5m, trong điều kiện sinh trưởng tự nhiên. Lá to trung bình
màu xanh nhạt dài 12- 15cm, rộng 5-7cm, có 8-9 đôi gân chính, búp to hoa quả
nhiều, khả năng chịu rét kém.
Chè Ấn Độ ( Cemellia Sinensis Var Atxamica); Có đặc điểm là cây thân

Êcuado, Guatêmala, Praguay, Jamaica, Mêhicô, Bôlivia, Guyanna và Mỹ.
Châu Đại Dương có 3 nước sản xuất chè bao gồm: Paqua Tân Ghinê, Fiji
và Australi.
Châu Âu: Có Cộng hoà Liên Bang Nga, Bồ Đào Nha.
Các Nhà khoa học cho rằng: Chè trồng ở những nơi cố độ cao lớn hơn so
với mực nước biển thường có chất lượng tốt hơn trồng ở vùng thấp; chè trồng ở
Hoàng Sơn ( An Huy- Trung Quốc), Sư Tử Phong (Triết Giang – Trung Quốc ),
Hà Giang, Mộc Châu, Nghĩa Lộ (Việt Nam) đều có chất lượng cao.
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
Vùng chè đặc sản của thành phố Thái nguyên gồm 3 xã: Tân Cương, Phúc
Xuân, Phúc Trìu với diện tích gần 1.000 ha chè với hơn 6.000 hộ dân chuyên
canh chè, chè Tân cương được biết đến với vị thế nổi tiếng " Chè Tân Cương".
Năm 2006 thành phố xây dựng chỉ dẫn địa lý và xây dựng thương hiệu bảo hộ
độc quyền cho nhãn hiệu hàng hóa "Chè Tân Cương", với điều kiện chủ động
nguồn nước tưới người dân thâm canh chè vụ đông đã đạt được hiệu quả kinh tế
rõ rệt, Giống chè người dân đang sản xuất chủ yếu vẫn là giống chè Trung Du
được trồng từ hạt với diện tích 783 ha, nương chè sản xuất chưa đem lại tiềm
năng năng suất.
Đề án phát triển chè của tỉnh Thái Nguyên đã đưa một số mô hình sản xuất
giống chè mới có năng suất và đặc biệt là chất lượng cao để người dân tự đánh
giá hiệu quả kinh tế, Sau khi kết thúc Dự án giai đoạn một diện tích chè toàn
tỉnh đạt khoảng 14.000 ha, trong đó giống chè trung du chiếm 70% diện tích,
còn 20% là giống chè mới, người dân nhận thấy sử dụng giống mới bước đầu
đã đem lại hiệu quả kinh tế nhất định, về mặt năng suất giống chè mới chưa
đánh giá hết tiềm năng năng suất, nhưng về mặt chất lượng chè thì giống mới
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

21
đem lại hiệu quả kinh tế rõ rệt cho người dân chuyên canh chè, giá bán chè vào
những dịp tết nguyên đán thường cao gấp 2- 3 lần so với những giống chè được

phương pháp bón trên bề mặt thì rất dễ bị rửa trôi, hiệu quả sử dụng phân thấp,
gây ô nhiễm môi trường đất, môi trường nước.
Để đạt được tiêu chuẩn chất lượng nông sản, bón phân cân đối cả đa
lượng, trung lượng và vi lượng, với mục tiêu đạt hiệu quả kinh tế tối đa trên đơn
vị đất, lượng bón phải đủ, nhưng không thừa, để tiết kiệm và tránh ô nhiễm môi
trường đất, nước và nông sản.
Đối với cây chè phân hữu cơ có vai trò rất quan trọng, nó không những
cung cấp chất dinh dưỡng trực tiếp cho chè mà còn cải thiện lý tính đất như
làm cho đất tơi xốp, có kết cấu viên, làm tăng khả năng thấm và giữ nước của
đất, làm tăng sự hoạt động của các hệ vi sinh vật trong đất, làm tăng các
thành phần dinh dưỡng: N, P, K và các nguyên tố trung, vi lượng nhưng
thực trạng hiện nay việc sử dụng phân hữu cơ cho chè còn gặp nhiều khó
khăn: do phải cạnh tranh nguồn hữu cơ với các cây trồng khác; đồi chè
thường xa nhà, cây chè vào giai đoạn kinh doanh đã khép tán nên việc vận
chuyển và bón phân thường gặp khó khăn. Những giải pháp để tăng cường
hữu cơ cho chè là; làm phân tự chế bằng cách đào hố ủ ngay tại vườn chè,
trồng cây phân xanh, cây họ đậu để lấy thân lá ép xanh cho chè, ép xanh
cành, lá già sau khi đốn chè, ngoài ra việc bón phân cho chè phải được chú ý
ngay từ khi bón lót trước khi trồng.
Phân hữu cơ vi sinh là loại phân bón bao gồm nhiều chủng vi sinh vật hữu
ích như: vi sinh vật cố định đạm, vi sinh vật phân giải lân, phân giải xelluloza,
và các chất khó tan, vi sinh vật kích thích quá trình quang hợp, vi sinh vật kháng
bệnh Kết hợp với các sản phẩm hữu cơ có nguồn gốc tự nhiên như: than bùn,
bùn thải từ các ao hồ, rác thải trong sinh hoạt, các sản phẩm phụ nông nghiệp
qua quá trình phân giải tạo mùn và cung cấp các nguyên tố cần thiết cho cây
trồng, đồng thời có tác dụng cải thiện độ phì cho đất, bảo vệ môi trường.
Sang thập kỷ 70 các giống mới, năng suất cao đã được gieo trồng trên diện
rộng, thay dần các giống cũ lượng phân đạm ngày tăng, giống mới không những
cần nhiều đạm mà còn cần một lượng gấp đôi giống cũ, năng suất trước đó tăng
sau chững lại và giảm xuống, sự cân bằng dinh dưỡng bị phá vỡ Lân trở thành

động cố định đạm của các loại vi sinh vật đặc biệt là do con người bón vào đất
- Hàm lượng P
2
O
5
(Lân) : trong búp non của chè có 1,5% P
2
O
5
. Lân tham
gia vào thành phần cấu tạo của tế bào, trong axít nucleic, lân có vai trò quan
trọng trong việc tích luỹ năng lượng cho cây, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển
của cây chè, nâng cao chất lượng chè, làm tăng khả năng chống rét, chống hạn
cho chè. Thiếu lân lá chè xanh thẫm, có vết nâu hai bên thân chính, búp nhỏ,
năng suất thấp.
- Hàm lượng K
2
O(Kali) : kali có trong tất cả các bộ phận của cây chè nhất
là thân cành và các bộ phận đang sinh trưởng. Nó tham gia vào quá trình trao đổi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

24
chất trong cây, làm tăng hoạt động của các men, làm tăng tích luỹ gluxit và axít
amin, tăng khả năng giữ nước của tế bào, tăng năng suất, chất lượng chè, làm
tăng khả năng chống chịu cho cây chè. Hàm lượng kali trong đất phụ thuộc vào
đá mẹ, điều kiện phong hoá đá và hình thành đất, chế độ canh tác và bón phân.
Khi thay thế dần phân hoá học bằng phân hữu cơ và phân ủ (Compost) năng
suất chè không giảm, chất lượng chè được cải thiện. Khi kết hợp 30 tấn phân ủ
(Compost) + NPKMg 3 : 1,5: 1 : 0,3 đã làm cho năng suất chè tăng 15% so đối
chứng, chất lượng chè được cải thiện.

5. Chọn dòng.
6. Lựa chọn tiếp tục khi thu búp ở các dòng chọn lọc.
7. Thử nghiệm thế hệ sau.
Lựa chọn thế hệ sau được tiến hành theo các đặc tính của tính trạng bên
ngoài của cây: Thân, cành, lá, búp, hoa, quả
Các nước phát triển chè mạnh đầu tư rất lớn cho việc chọn tạo giống mới:
* Nghiên cứu giống chè ở Trung Quốc:
Là nước có lịch sử trồng chè lâu đời (khoảng 4000 năm). Đời nhà Tống
đã có 7 giống chè tốt được chọn lọc ở Vũ Di Sơn (Phúc Kiến). Các giống chè
Thủy Tiên (1821-1850), Đại Bach Trà (1850) Thiết Quan Âm đã có từ 200 năm
nay, đều là các giống chè triết cành do nhân dân tạo ra (Nguyễn Văn Toàn-
1994) (Nguyễn Văn Toàn- 2002)[43]. Năm 1996 điều tra giống toàn quốc ở
Trung Quốc có trên 1000 giống chè trong đó xác định được 50 giống chè tốt đưa
ra sản xuất. Một số giống chè tốt của Trung Quốc như Đại Bạch Trà; Hùng Đỉnh
Bạch, Phúc Vân Tiên; Hoa Nhật Kim.
Hiện nay ở tỉnh Triết Giang Trung Quốc đang xây dựng nhiều vùng chè
sinh thái (đạt tiêu chuẩn chè hữu cơ) từ các giống Long Tỉnh 43, Long Tỉnh lá
dài, Phúc Đỉnh, Đại Bạch Trà. Năm 2001, 50 % sản phẩm sản xuất theo kế
hoạch xuất khẩu sang thị trường khó tính như EU, Mỹ
Trong những năm 1950 - 1960 công tác chọn giống chè ở Trung Quốc
phát triển theo chiều sâu. Các tác giả đi sâu nghiên cứu và đánh giá mối tương
quan giữa các yếu tố hình thái của cây đối với sản lượng, chất lượng và tương
quan giữa các chỉ tiêu đó với nhau.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status