MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, các
doanh nghiệp phải mở rộng đầu tư và tích cực tìm ra các sản phẩm mới để đáp ứng
nhu cầu của thị trường. Điều này làm cho nhu cầu vốn đầu tư ngày càng trở nên cấp
thiết. Khi đó, việc vay vốn từ các ngân hàng thương mại (NHTM) để đầu tư trở thành
một giải pháp quan trọng.
Với nhu cầu năng lượng cho sản xuất và tiêu dùng hiện nay, đầu tư vào TĐN để
cung cấp cho lưới điện quốc gia hoặc từng khu vực là hướng đi đúng đắn, hệ thống
TĐN cung cấp và góp phần không nhỏ vào tổng sản lượng điện hiện nay của đất nước.
Đây là lĩnh vực cần vốn đầu tư lớn, tuy nhiên vốn tự có của các chủ dự án TĐN mới
chỉ có 10 - 20% tổng vốn đầu tư, số còn lại đều phải phụ thuộc vào nguồn vốn vay
ngân hàng.
Các ngân hàng vì thế cũng cần tăng cường việc cho vay và muốn cho vay đạt
hiệu quả, công tác thẩm định dự án đầu tư (DAĐT) của các NHTM cần phải chú trọng
và hoàn thiện vì đây là một trong những yếu tố quyết định trực tiếp đến hiệu quả kinh
doanh của mỗi ngân hàng và đồng thời góp phần vào thành công của Doanh nghiệp
vay vốn. Tuy nhiên, tại Sở Giao dịch III - Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam,
công tác thẩm định dự án nói chung và thẩm định dự án thủy điện nhỏ (TĐN) nói riêng
mới chỉ dừng lại ở khâu thẩm định tài chính dự án, mà chưa đi sâu vào phân tích thẩm
định khâu kỹ thuật và kinh tế xã hội. Hơn nữa khi thẩm định khâu tài chính dự án sở
mới sử dụng một số chỉ tiêu cơ bản như NPV, IRR, T
hv
… làm căn cứ thẩm định.
Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài “Hoàn thiện công tác thẩm định dự án TĐN
tại Sở Giao dịch III - Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam” được tác giả lựa
chọn làm đề tài nghiên cứu của luận văn.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về thẩm định dự án TĐN trong hoạt động
cho vay của NHTM.
- Phân tích và đánh giá về thực trạng công tác thẩm định dự án TĐN tại Sở
1.1. Tổng quan DAĐT TĐN
1.1.1. Khái niệm và vai trò DAĐT
1.1.1.1. Khái niệm về DAĐT
DAĐT có thể được xem xét từ nhiều góc độ:
Về mặt hình thức: DAĐT là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết, có
hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch nhằm đạt được những kết quả và
thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai.
Xét trên góc độ quản lý: DAĐT là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư,
lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế xã hội trong một thời gian dài.
Xét trên góc độ kế hoạch hóa: DAĐT là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết
của một công cuộc đầu tư sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội, làm tiền đề
cho các quyết định đầu tư và tài trợ. Xét theo góc độ này, DAĐT là một hoạt động kinh
tế riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hóa nền kinh tế nói chung (Một đơn vị
sản xuất kinh doanh cùng một thời kỳ có thể thực hiện nhiều dự án).
Xét về mặt nội dung: DAĐT là tổng thể các hoạt động và chi phí cần thiết,
được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác định để tạo
mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm thực hiện những mục
tiêu nhất định trong tương lai.
Như vậy, một DAĐT bao gồm 4 thành phần chính:
- Mục tiêu của dự án được thể hiện ở hai mức:
+ Mục tiêu phát triển thể hiện sự đóng góp của dự án vào việc thực hiện các
mục tiêu chung của một quốc gia. Mục tiêu này được thực hiện thông qua những lợi
ích dự án mang lại cho nền kinh tế - xã hội.
+ Mục tiêu trực tiếp của chủ đầu tư: Đó là các mục tiêu cụ thể cần đạt được của
việc thực hiện dự án. Mục tiêu này được thực hiện thông qua những lợi ích tài chính
mà chủ đầu tư thu được từ dự án.
- Các kết quả: Đó là những kết quả cụ thể, có thể định lượng được tạo ra từ các
hoạt động khác nhau của dự án. Đây là điều kiện cần thiết để thực hiện được các mục
tiêu của dự án.
- Các hoạt động: Là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện trong dự
Hiện tại, đã có một báo cáo chính thức đánh giá ở quy mô toàn quốc về TĐN là
Quy hoạch TĐN toàn quốc, công suất từ 5 -30 MW do Công ty Tư vấn Điện I soạn
thảo (2005). Sự phân bố các dự án TĐN đã được xác định ở 31 tỉnh, thành. Các tỉnh
Lào Cai, Yên Bái và Hà Giang ở miền Bắc, và Lâm Đồng ở miền Trung là những tỉnh
có tiềm năng TĐN lớn nhất (trên 200 MW). Tổng công suất thủy điện từ 5-30 MW
được xác định trong báo cáo này là 2.925 MW, dự kiến phát khoảng 13,3 TWh, với hệ
số phụ tải trung bình là 0,52.
Cũng theo Quy hoạch TĐN, phân bổ tiềm năng TĐN theo gam công suất như
bảng dưới đây.
Bảng 1.1: Tiềm năng kỹ thuật TĐN theo gam công suất
Dải công suất (MW) Tổng công suất (MW)
0.1- <1
126.8
1- <5
1 030.2
5- <10
1 048.3
10- <15
648.0
15- <20
562.8
20- <25
309.0
25- <30
290.0
Tổng (<=30MW) 4015.1
Nguồn: Dự thảo Chiến lược, Quy hoạch tổng thể phát triển NTLL-Viện Năng lượng, 2008
Trong năm 2007, trong một điều tra của Bộ Công thương về hiện trạng các dự
án TĐN nối lưới công suât dưới 30 MW, có tới 319 dự án với tổng công suất lắp đặt là
3.443 MW, hiện đang trong các giai đoạn phát triển khác nhau nhưng ít nhất đã có
khu vực hạ lưu cực kỳ lớn nên trong mọi tình huống tính an toàn đối với khu vực dân
cư phía hạ lưu phải luôn được đặt hàng đầu. Việc lựa chọn địa điểm xây dựng tuyến
đập hết sức quan trọng nếu tuyến đập được đặt trên nền móng ổn định sẽ đảm bảo an
toàn và ngược lại, mặt khác quá trình lựa chọn địa điểm xây dựng tuyến đập cũng như
độ cao của đập trực tiếp quyết định đến công suất phát điện của nhà máy cũng như chi
phí đầu tư xây dựng nên cần xây dựng nhiều phương án để đánh giá so sánh lựa chọn
phương án tối ưu nhất.
Đánh giá: Do đó, việc thẩm định cần phải phân tích ưu nhược điểm của địa
điểm xây dựng nhà máy cũng như tuyến đập được lựa chọn, đưa ra các phương án so
sánh để đảm bảo địa điểm được lựa chọn là tối ưu trong bài toán hiệu quả kinh tế. Cần
quan tâm đến các yếu tố lịch sử của nơi xây dựng dự án như động đất, lũ quét, sạt lở
đất để đánh giá tiêu chuẩn xây dựng áp dụng đã phù hợp với cấp công trình chưa,
việc lựa chọn tuyến đập có thực sự an toàn.
- Điều kiện khí tượng - thủy văn là yếu tố rủi ro nhất của dự án thủy điện: nước
là nguồn “than trắng” trong quá trình phát điện của nhà máy thủy điện. Một trong những
yếu tố quyết định để thực hiện dự án ngành thủy điện đó là dòng chảy hàng năm của lưu
vực sông. Lưu lượng dòng chảy trung bình hàng năm là điều kiện đầu tiên và là yếu tố
quyết định trong việc lựa chọn công suất cho nhà máy thủy điện. Việt Nam có hệ thống
sông ngòi, ao hồ dày đặc. Các hệ thống sông đều có giá trị đáng kể về thủy lợi. Chỉ tính
riêng các con sông có chiều dài trên 100m thì Việt Nam đã có đến 2.360 con sông. Đi
theo dọc bờ biển, trung bình cứ 20 km lại gặp một cửa sông. Đây là điều kiện thuận lợi
để phát triển ngành thủy điện của Việt Nam. Ngoài ra, yếu tố khí tượng cũng là yếu tố
có tác động không nhỏ tới việc vận hành đúng công suất thiết kế của nhà máy.
Đánh giá: Trên cơ sở đặc điểm này của dự án thủy điện, trong quá trình thẩm
định các cán bộ thẩm định cần đặc biệt quan tâm đến độ tin cậy của các số liệu thủy
văn trong việc mô phỏng lưu lượng bình quân năm và cần đánh giá được rủi ro trong
trường hợp dòng chảy biến đổi bất lợi cho dự án.
b. Thị trường đầu ra tiềm năng
Nền kinh tế Việt Nam đang trên đà tăng trưởng mạnh mẽ trong những năm gần
đây với tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm trên 7,5%, hoạt động sản xuất kinh doanh
năm chiếm từ 0,5 – 1% tổng chi phí đầu tư xây dựng và thiết bị, vì thế đây là một
trong những lợi thế của nhà máy thuỷ điện so với nhà máy nhiệt điện.
Đánh giá: Với tổng chi phí đầu tư lớn, trong quá trình thẩm định, cần xem xét
phương pháp xây dựng tổng mức đầu tư dự án, cụ thể khi xem xét tổng vốn đầu tư của
dự án thuỷ điện không nên lấy theo với những dự án thủy điện khác vì nếu xem xét
như vậy thì sự chênh lệch lớn sẽ dễ dẫn đến từ chối cho vay dự án. Để đảm bảo tính
khả thi của việc xây dựng dự án cần xem xét tính khả thi của nguồn vốn của chủ đầu
tư (vốn khả dụng) cũng như các nguồn vốn tài trợ khác.
d. Thời gian xây dựng, vận hành nhà máy thủy điện và thời gian thu hồi vốn thường
kéo dài
Dự án thuỷ điện có thời gian xây dựng và thời gian vận hành dài. Do quy mô
của một dự án thuỷ điện thường lớn, kỹ thuật thi công - xây dựng cũng tương đối phức
tạp nên muốn hoàn thành một dự án thuỷ điện thường mất nhiều thời gian (khoảng 3-5
năm tuỳ theo quy mô). Sỡ dĩ có sự kéo dài về thời gian này là do xây dựng nhà máy
thủy điện bao gồm rất nhiều hạng mục công trình như Hồ chứa nước; Đập chính; Đập
phụ; Tràn xả lũ; Đập tràn; Cống lấy nước; Kênh dẫn nước vào hồ; Cửa lấy nước;
Tuynel áp lực; Đường ống áp lực, nhà máy, đường dây tải điện….lại phải xây dựng
trong điều kiện địa hình phức tạp, trong khi đó các hạng mục hoàn chỉnh đòi hỏi phải
xây dựng đồng bộ thì mới có thể đưa vào vận hành và sử dụng.
Thời gian thu hồi vốn kéo dài, do tổng vốn đầu tư lớn, thời gian vận hành dài
nên thời gian thu hồi vốn đầu tư thường kéo dài.
Đánh giá: Với đặc điểm về thời gian của các dự án thủy điện, khi thẩm định,
cán bộ thẩm định cần quan tâm tới tiến độ sử dụng vốn đúng sát với tiến độ xây dựng
dự án. Nếu tiến độ sử dụng vốn tính không sát với tiến độ xây dựng dẫn tới tổng mức
đầu tư không chính xác (do sai lệch về lãi vay trong thời gian xây dựng) nên sẽ dẫn
đến đánh giá sai về hiệu quả kinh tế. Thời gian thi công đối với các dự án thủy điện
thường từ 2 – 4 năm nên việc tính toán chi phí dự phòng cho dự án cần phải lưu ý đến
yếu tố trượt giá. Do thời gian vận hành dự án kéo dài nên việc xem xét dòng tiền của
dự án phải xem xét phù hợp với thời gian thực tế vận hành dự án, cần lưu ý đến việc
thay thế thiết bị trong thời gian vận hành dự án. Theo cơ chế hiện nay, giá bán điện
án đã khởi công xây dựng trong khi chưa đàm phán được phương án đấu nối. Nguyên
nhân của việc đàm phán không hiệu quả này chủ yếu là do EVN chưa làm đường dây
đến các TĐN mua điện. Trong khi nếu như chủ đầu tư bỏ tiền ra để đầu tư vào đường
dây truyền tải thì chi phí đầu tư lại vượt trội lên mà đường dây lại vẫn thuộc quyền sỡ
hữu của EVN hoặc nếu như vậy thì phải thỏa thuận lại giá mua điện thì chủ đầu tư mới
có thể thu hồi vốn mà mình bỏ ra đầu tư. Tuy nhiên EVN đến nay vẫn chưa có câu trả
lời rõ ràng cho các chủ đầu tư nên vẫn tồn tại những dự án dù đã đi vào vận hành, sản
xuất ra điện nhưng lại không phát huy được do chưa thỏa thuận được phương án đấu
nối và giá bán điện với EVN.
Đánh giá: Do những yếu tố trên nên cán bộ thẩm định cần phải quan tâm đến tài
liệu về thỏa thuận mua bán điện cũng như phương án đấu nối truyền tải điện lên hệ thống
điện quốc gia, đảm bảo có thể bán được điện ngay sau khi nhà máy xây dựng xong.
g. Các dự án thủy điện có sự tác động mạnh mẽ đến môi trường tự nhiên và môi
trường kinh tế - xã hội
Tác động đối với môi trường tự nhiên, không thể phủ nhận các dự án thủy điện
có sự tác động tiêu cực nhất định đến môi trường tự nhiên của khu vực đặt dự án như
làm thay đổi chế độ thủy văn, thay đổi hệ sinh thái khu vực xung quanh, gây hiện
tượng sói lở và bồi lắng đất Nhưng bên cạnh đó, các dự án thủy điện cũng có những
tác động tích cực tới môi trường như điều hòa vùng tiểu khí hậu, điều tiết nguồn nước
cho tưới tiêu trong nông nghiệp, hình thành hệ sinh thái mới trong lòng hồ thủy điện.
Vấn đề sử dụng nguồn nước một cách hợp lý có vai trò quan trọng đối với các
dự án thuỷ điện: Các dự án thuỷ điện trong cùng một hệ thống sông cần phải liên kết
chặt chẽ với nhau trong việc khai thác nguồn năng lượng từ nước bởi việc đầu tư xây
dựng thêm dự án thuỷ điện này có ảnh hưởng lớn đến sự hoạt động của dự án thuỷ
điện khác. Hoặc những nhà máy thủy điện ở thượng nguồn sông có sự ảnh hưởng nhất
định đến khu vực hạ lưu. Ngoài ra, xây dựng các dự án thuỷ điện vẫn đảm bảo phát
triển thuỷ lợi cũng là một vấn đề quan trọng. Hệ thống thuỷ lợi cần duy trì sao cho vừa
có đủ nước cho sản xuất nông nghiệp vừa có nước cho sinh hoạt của dân cư.
Tác động tới môi trường kinh tế - xã hội, tác động điển hình nhất đến môi
trường kinh tế - xã hội của các dự án thủy điện là tất cả các nhà máy thủy điện khi xây
phân tích, đánh giá dự án: Thẩm định DAĐT là hoạt động chuẩn bị dự án được thực
hiện bằng kỹ thuật phân tích dự án đã được thiết lập để ra quyết định thoả mãn các quy
định về thẩm định của nhà nước.
Theo nội dung chi tiết của dự án, thẩm định DAĐT là việc tiến hành xem xét
một cách toàn diện trên các nội dung của dự án từ pháp lý, công nghệ kỹ thuật, kinh tế
tài chính, tổ chức quản lý thực hiện đến hiệu quả của dự án. Quan điểm này cho rằng
thẩm định dự án cần có kỹ thuật và các phương pháp cụ thể đối với từng nội dung của
dự án.
Từ những phân tích trên đây, tác giả cho rằng khái niệm về thẩm định DAĐT
cần được xây dựng và hiểu thống nhất trên cơ sở khoa học. Trong quá trình xây dựng
cần phải xác định rõ phạm vi, bản chất cũng như mục đích của công tác thẩm định dự
án. Trên cơ sở đó, khái niệm về thẩm định DAĐT cần được bao quát, không xem xét
riêng cho một chủ thể cũng như một nguồn vốn cụ thể nào. Theo tác giả, khái niệm về
thẩm định DAĐT để ra quyết định đầu tư được diễn đạt như sau:
“Thẩm định DAĐT là quá trình xem xét, phân tích, đánh giá dự án một
cách khách quan, khoa học và toàn diện trên các nội dung, nhằm khẳng định tính
hiệu quả cũng như tính khả thi của dự án trước khi quyết định đầu tư. Trong quá
trình thẩm định lại dự án, nhiều khi phải tính toán và phân tích lại dự án”.
1.2.2. Thẩm định dự án tại NHTM
1.2.2.1. Khái niệm về NHTM
NHTM đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát
triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển hệ thống NHTM đã có tác động rất lớn và quan
trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát
triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày
càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được.
Đối với mọi nền kinh tế trên thế giới, ngân hàng luôn là một trong các tổ chức
tài chính quan trọng nhất, có tầm ảnh hưởng lớn đến đời sống kinh tế- xã hội của mỗi
quốc gia. Tùy thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính
nói riêng, ngân hàng bao gồm nhiều loại nhưng chiếm tỷ trọng lớn nhất về cả quy mô
tài sản, thị phần và số lượng các ngân hàng chính là ngân hàng thương mại.
hàng sử dụng tạm thời để kinh doanh.
NHTM được huy động vốn dưới các hình thức sau:
- Nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới hình
thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác;
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các giáy tờ có giá khác để huy
động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước;
- Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và các tổ chức
nước ngoài;
- Vay vốn ngắn hạn của ngân hàng nhà nước;
- Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Hoạt động tín dụng
NHTM được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay,
chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các
hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.Trong các hoạt động cấp tín
dụng, cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Cho vay: NHTM được cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dưới các hình thức sau:
Cho vay thương mại: lúc đầu các ngân hàng chiết khấu thương phiếu, thực tế là
cho vay đối với những người bán (người bán chuyển các khoản phải thu cho ngân
hàng để lấy tiền trước). Sau này ngân hàng cho vay trực tiếp đối với các khách hàng,
giúp họ có vốn khi cần để thực hiện sản xuất kinh doanh.
Cho vay tiêu dùng: trước đây ngân hàng ít cho vay đối với cá nhân và hộ gia
đình vì họ tin rằng các khoản cho vay này có độ rủi ro tương đối cao, dễ vỡ nợ. Sự gia
tăng thu nhập của khách hàng và sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng buộc họ
phải hướng tới người tiêu dùng là khách hàng tiềm năng. Đây là thị trường trong tương
lai sẽ mang lại nguồn thu nhập lớn và ổn định cho ngân hàng.
Tài trợ cho các dự án: Để phát triển nhanh kinh tế xã hội nước ta, nhu cầu về
vốn tài trợ cho xây dựng cơ sơ hạ tầng là rất lớn. Ngoài ra do nhu cầu mở rộng và phát
triển sản xuất, vốn đầu tư của các doanh nghiệp cũng không ngừng gia tăng tạo ra thị
trường rộng lớn cho các ngân hàng. Các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong
việc tài trợ cho xây dựng nhà máy, khu công nghiệp, khu đô thị mới,… đặc biệt là
có giá cho khách hàng trong kho bảo quản và khách hàng phải trả phí bảo quản.
Hoạt động khác
Tài trợ cho các hoạt động của chính phủ: chính phủ giành quyền cấp phép hoạt
động và kiểm soát các ngân hàng. Khi thành lập, các ngân hàng phải cam kết thực hiện
với mức độ nào đó các chính sách của chính phủ và tài trợ cho chính phủ. Các ngân
hàng phải mua trái phiếu chính phủ theo tỷ lệ nhất định trên tổng số tiền huy động
được hoặc cho vay ưu đãi cho các doanh nghiệp của chính phủ.
Cung cấp dịch vụ ủy thác và tư vấn: ngân hàng đóng vai trò là người được ủy
thác quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ, chuyên gia tư vấn tài chính,….
Giúp cho doanh nghiệp sử dụng vốn của mình một cách hiệu quả nhất.
Cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán: nhu cầu của khách hàng ngày
càng đa dạng và phong phú. Vì thế để đáp ứng tốt nhất những nhu cầu đó các ngân
hàng đã bắt đầu phát triển dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ
hội mua bán cổ phiếu và trái phiếu mà không cần phải thông qua người kinh doanh
chứng khoán. Ngân hàng có thể thành lập công ty chứng khoán hoặc công ty môi giới
chứng khoán.
Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm: ngân hàng bán bảo hiểm cho khách hàng đảm
bảo việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng gặp rủi ro, có tổn thất xảy ra như:
khách hàng bị tai nạn, rủi ro trong kinh doanh, mất khả năng thanh toán,….lúc đó ngân
hàng sẽ đứng ra thực hiện nghĩa vụ thanh toán hộ khách hàng của mình.
Cung cấp các dịch vụ đại lý: do chi phí mở chi nhánh mới rất tốn kém và mất
nhiều thời gian nên ngân hàng không thể thiết lập chi nhánh ở mọi nơi. Điều này làm
cho khả năng tiếp cận với khách hàng sẽ không cao. Do đó nhiều ngân hàng (thường là
các ngân hàng lớn) cung cấp dịch vụ ngân hàng đại lý cho các ngân hàng khác làm các
dịch vụ như: thanh toán hộ, phát hành hộ các chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu
mối trong đồng tài trợ,…
1.2.2.3. Sự cần thiết thẩm định dự án tại NHTM
Trong lĩnh vực ngân hàng, các NHTM xuất phát từ đặc điểm là những trung
gian tài chính hoạt động trong nền kinh tế, chịu ảnh hưởng sâu sắc của cơ chế thị
trường thì vấn đề hiệu quả và tính an toàn trong kinh doanh tiền tệ là yêu cầu quan
Thứ hai, thẩm định DAĐT giúp Ngân hàng phân loại được các dự án do khách
hàng mang tới, tìm được các dự án phù hợp với định hướng đầu tư của Ngân hàng
trong tương lai. Từ đó, giúp Ngân hàng nâng cao chất lượng tín dụng nói chung.
Thứ ba, thẩm định DAĐT của Ngân hàng góp phần quan trọng vào việc hỗ trợ
các cơ quan quản lý hoạt động đầu tư, hỗ trợ khách hàng trong việc xây dựng và thực
hiện DAĐT.
Thứ tư, thẩm định dự án được xem như một công cụ cạnh tranh của các Ngân
hàng, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng.
Thẩm định DAĐT có tầm quan trọng như vậy nên việc thẩm định DAĐT tại
Ngân hàng là rất cần thiết để có thể thực hiện hoạt động tín dụng, tư vấn với chất
lượng cao, giữ vững và nâng cao uy tín của Ngân hàng đối với khách hàng trong và
ngoài nước, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng trong điều kiện cạnh
tranh của cơ chế thị trường.
1.2.2.4. Nội dung thẩm định các dự án tại ngân hàng thương mại
Việc thẩm định DAĐT tại NHTM bao gồm nhiều nội dung và trải qua các công
đoạn từ việc thẩm định sơ bộ cho đến thẩm định chính thức, thẩm định kinh tế kỹ
thuật, thẩm định sự cần thiết và mục tiêu đầu tư của dự án, thẩm định thị trường của dự
án, thẩm định mô hình quản trị và nhân lực cho dự án, thẩm định tài chính dự án, thẩm
định khả năng trả nợ cho ngân hàng, thẩm định về các biện pháp bảo đảm tiền vay,
thẩm định về lợi ích kinh tế xã hội… Sau đây là sơ lược về các nội dung trong thẩm
định dự án tại NHTM:
Thẩm định sự cần thiết và mục tiêu đầu tư của dự án
Theo nội dung này NHTM cần đánh giá xem dự án có nhất thiết phải thực hiện
không? Tại sao phải thực hiện? Nếu được thực hiện thì dự án sẽ đem lại những lợi ích
gì cho chủ đầu tư, cho địa phương và nền kinh tế. Mục tiêu hướng đến của dự án là gì?
Các mục tiêu của dự án có phù hợp với mục tiêu chung của ngành, của địa phương hay
không? Dự án có thuộc diện nhà nước ưu tiên và khuyến khích đầu tư không?
Thẩm định nội dung thị trường của dự án
Nội dung thị trường của dự án được ngân hàng rất quan tâm vì khả năng hoàn
trả vốn vay ngân hàng của dự án phụ thuộc rất lớn vào sức cạnh tranh của sản phẩm
nhà xưởng, thiết bị, nguyên vật liệu còn được quyết định rất lớn bởi trình độ và năng
lực của các nhà quản lý, bởi tay nghề của người lao động Do đó, khi thẩm định dự
án, việc xem xét về phương thức tổ chức quản trị dự án, về tính hợp lý trong bố trí lao
động thực sự là một nội dung không thể bỏ qua Những vấn đề chính cần xem xét là:
- Thẩm định về mô hình tổ chức quản trị của dự án: hình thức tổ chức quản lý
dự án, xem xét cơ cấu, trình độ tổ chức vận hành của dự án
- Thẩm định về lao động cho dự án: Đối với lao động trong nước, đối với lao
động nước ngoài, đánh giá nguồn nhân lực của dự án về số lao động, trình độ kỹ thuật
tay nghề, kế hoạch đào tạo
Thẩm định nội dung tài chính của dự án
Thẩm định về tổng vốn đầu tư của dự án: thẩm tra mức độ hợp lý của tổng vốn
đầu tư và tiến độ bỏ vốn
Thẩm định về nguồn vốn và sự đảm bảo của nguồn vốn tài trợ dự án
Thẩm định về chi phí sản xuất, doanh thu và thu nhập hàng năm của dự án
Tỷ suất chiết khấu
Dòng tiền của dự án
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của dự án
- Tính chỉ tiêu NPV (hiện giá ròng)
- Tính chỉ tiêu tỷ suất nội hoàn (IRR)
Xác định điểm hoà vốn của dự án
Thẩm định về khả năng trả nợ cho ngân hàng
Xuất phát từ quan điểm của tín dụng là bên vay vốn (chủ đầu tư) phải hoàn trả
ngân hàng đầy đủ và đúng hạn số vốn gốc và lãi vay để NHTM có thể trả lại cho bên
được huy động vốn hoặc cho vay đối với dự án khác. Trong quá trình thẩm định
DAĐT, NHTM đặc biệt quan tâm đến khả năng hoàn trả của chủ đầu tư khi đến kỳ
hạn trả nợ. Khả năng trả nợ của một doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:
Dự án đang xin vay là đầu tư mới hay tái đầu tư (theo chiều rộng hoặc theo chiều sâu),
nguồn trả nợ chủ yếu trông đợi vào khả năng sản xuất kinh doanh của dự án hay còn
có những nguồn bổ sung nào khác.
Thẩm định lợi ích kinh tế - xã hội qua các mặt:
tín dụng
- Thẩm định dự án
- Lập báo cáo đề xuất tín dụng
- Nếu dự án không hiệu quả, không đồng ý
cho vay thì thông báo từ chối cho vay gửi
khách hàng
- Nếu đồng ý cho vay dự án, chuyển bước 3
Bước 3: Bộ phận thẩm
định
- Thẩm định lại dự án
- Lập báo cáo thẩm định
Bước 4: Thông qua báo cáo thẩm định
Bước 5: Hoàn tất công việc thẩm định
Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ thẩm định. Cán bộ tín dụng tiếp nhận dự án từ chủ đầu
tư, yêu cầu chủ đầu tư phải cung cấp đầy đủ các hồ sơ về chủ đầu tư, về dự án, về tài
sản đảm bảo và các giấy tờ khác có liên quan.
Bước 2: Thẩm định của cán bộ tín dụng. Cán bộ tín dụng căn cứ vào hồ sơ về
dự án mà chủ đầu tư cung cấp và thu thập thêm thông tin để thực hiện thẩm định dự án
theo các tiêu chí thẩm định và lập báo cáo thẩm định trình trưởng phòng tín dụng,
trưởng phòng tín dụng kiểm soát báo cáo thẩm định của cán bộ tín dụng.
Bước 3: Thẩm định của cán bộ thẩm định. Cán bộ thẩm định tiếp nhận hồ sơ từ
phòng tín dụng và tiến hành thẩm định lại dự án và tiến hành làm báo cáo thẩm định,
báo cáo đánh giá rủi ro của dự án, trình trưởng phòng thẩm định ký kiểm soát.
Bước 4: Thông qua báo cáo thẩm định. Căn cứ báo cáo thẩm định của phòng tín
dụng và báo cáo tái thẩm định của phòng thẩm định, cấp có thẩm quyền xem xét và
phê duyệt cấp tín dụng tài trợ dự án. Nếu vượt thẩm quyền, thì chuyển lên hội sở chính
thực hiện tái thẩm định và ra quyết định tài trợ dự án hay không.
Bước 5: Hoàn tất công việc thẩm định, ra quyết định cấp tín dụng tài trợ dự án,
thực hiện các bước để giải ngân và lưu trữ hồ sơ thẩm định…
1.2.2.6. Phương pháp thẩm định dự án tại ngân hàng thương mại
nghệ của dự án, khi đó việc so sánh sẽ giúp cho người thẩm định nghiên cứu có trọng
tâm và đặt ra các câu hỏi đúng. Việc thực hiện so sánh được tiến hành theo ba cách:
cách thứ nhất so sánh các nội dung tương tự của các chỉ tiêu, yêu cầu, quy định, tiêu
chuẩn của ngành, của Nhà nước với dự án; cách thứ hai so sánh các chỉ tiêu, thông số
của các dự án tương tự đã thực hiện với dự án đang tiến hành thẩm định; cách thứ ba
so sánh các chỉ tiêu, thông số của dự án theo thời gian trong quá trình dự án được hình
thành phát triển để chuẩn xác số liệu.
Phương pháp so sánh phụ thuộc rất lớn vào phương pháp nghiên cứu tài liệu,
phương pháp kinh nghiệm và phương pháp lôgic - lịch sử.
Phương pháp nghiên cứu tài liệu chính là bước đầu tiên để thu thập các thông
tin phục vụ cho việc thẩm định dự án, đặc biệt là việc nghiên cứu các điều kiện vĩ mô
ảnh hưởng đến sự hình thành và thực hiện DAĐT. Hồ sơ mà khách hàng gửi đến có
vai trò quan trọng trong việc xem xét quyết định tài trợ vì qua nghiên cứu hồ sơ tài liệu
của khách hàng mới thấy được tính đầy đủ, khách quan, lôgic, pháp lý và năng lực của
khách hàng; từ đó đưa ra các kết luận sơ bộ, các câu hỏi nghi vấn và các yêu cầu tiếp
theo để làm rõ các nội dung cần thẩm định.
Phương pháp kinh nghiệm luôn được đề cao trong công tác thẩm định dự án, có
kinh nghiệm người thẩm định mới có đủ kiến thức và cơ sở để so sánh, đánh giá tính
hiệu quả, phù hợp, có sự tích luỹ kiến thức và sai sót thường gặp của các dự án cùng
loại trước đó. Thông qua quá trình thẩm định lặp lại, nhận thức về dự án sẽ sâu sắc
hơn, nắm được các yếu tố khách quan tác động đến dự án và tồn tại trong dự án. Ngoài
nỗ lực của bản thân, để đạt được khả năng thẩm định độc lập và đạt yêu cầu cán bộ tín
dụng hoặc người được giao nhiệm vụ thẩm định cần có thời gian công tác trong ngành
khoảng 3-5 năm.
Phương pháp lôgic - lịch sử: phương pháp này được tiến hành theo một trình tự
từ tổng quát đến chi tiết, từ quá khứ đến hiện tại và từ đó rút ra các kết luận cũng như