LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian nghiên cứu lý luận và thực tế tác giả đã hoàn thành luận
văn thạc sỹ kinh tế với đề tài: “Tăng cường kiểm tra trực tiếp đối với các quỹ
tín dụng nhân dân tại Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi khu vực Đông Bắc Bộ”.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến thầy giáo – Tiến sĩ Đinh Ngọc Dinh
và tập thể các giảng viên Khoa Ngân hàng Tài chính, Viện sau đại học Trường
Đại học Kinh tế Quốc dân, đã giúp đỡ tác giả hoàn thành đề tài nghiên cứu
này.
Tác giả xin trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Chi nhánh Bảo
hiểm tiền gửi khu vực Đông Bắc Bộ cùng anh chị em đồng nghiệp đã tạo điều
kiện quan tâm, giúp đỡ về thời gian cũng như tư liệu để tác giả có thể hoàn
thành được luận văn của mình.
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
i
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ iv
LỜI MỞ ĐẦU iv
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA TRỰC
TIẾP CỦA TỔ CHỨC BHTG ĐỐI VỚI TCTD HỢP TÁC 1
1.1. Tổng quan về TCTD hợp tác và tổ chức BHTG 1
1.1.1. TCTD hợp tác 1
1.1.2. Tổ chức BHTG 6
1.2. Hoạt động kiểm tra trực tiếp của Tổ chức BHTG đối với TCTD hợp tác 11
1.2.1. Khái niệm 11
1.2.2. Quy trình thực hiện KTTT của BHTG đối với TCTD Hợp tác 14
1.2.3. Nội dung hoạt động KTTT của BHTG đối với TCTD Hợp tác 16
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kiểm tra trực tiếp của tổ chức BHTG đối
với TCTG hợp tác 24
3.3.3. Kiến nghị đối với BHTG Việt Nam 80
3.3.4. Kiến nghị đối với các QTDND cơ sở 81
KẾT LUẬN 82
iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nguyên văn
BHTG Bảo hiểm tiền gửi
BHTGVN Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
TCTD Tổ chức tín dụng
QTDND Quỹ tín dụng nhân dân
TCTG BHTG Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi
NHNN Ngân hàng Nhà nước
KTTT Kiểm tra trực tiếp
BCGS Báo cáo giám sát
DPRR Dự phòng rủi ro
ATVTT An toàn vốn tối thiêu
KH Khách hàng
BHTG KV ĐBB Bảo hiểm tiền gửi khu vực Đông bắc bộ
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
I. BẢNG BIỂU
II. BIỂU ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997-1998 tác động tiêu cực đến nền
kinh tế các quốc gia khu vực Châu Á. Những dấu hiệu đặc trưng là tình trạng
nợ nước ngoài vượt khả năng kiểm soát, đồng tiền mất giá nghiêm trọng, lạm
phát tăng cao và hệ thống ngân hàng đổ vỡ. Những bất ổn về kinh tế đã kéo
theo tình trạng mất ổn định chính trị, xã hội và ảnh hưởng nghiêm trọng tới
đời sống người dân.
Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam khu vực Đông Bắc Bộ là 1 trong
6 Chi nhánh của BHTG Việt Nam, địa bàn hoạt động 12 tỉnh thuộc vùng Đông
Bắc bộ, số lượng khách hàng tham gia BHTG chủ yếu là các Quỹ tín dụng
nhân dân lên tới 311 QTD, chiếm 1/3 QTD trong toàn quốc. Đây là loại hình
TCTD mới, quy mô nhỏ, chưa tạo lập được liên kết kinh tế chặt chẽ, hầu hết
kinh nghiệm trong hoạt động ngân hàng còn yếu, vì vậy trong quá trình hoạt
động rất cần được các tổ chức thường xuyên kiểm tra để phát hiện, cảnh báo
kịp thời các nguy cơ mất an toàn trong hoạt động. Trong khi cán bộ thực hiện
vi
công tác này còn nhiều hạn chế cả về số lượng và trình độ cũng như kỹ năng
kiểm tra, phân tích đánh giá chuyên sâu về mức độ rủi ro. Bên cạnh đó nội
dung và quy trình kiểm tra trực tiếp cũng còn nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên
cứu, trao đổi tìm giải pháp nhằm thực hiện một cách hiệu quả hơn.
Trước thực trạng trên, tác giả chọn đề tài: “Tăng cường kiểm tra trực
tiếp đối với các Quỹ tín dụng nhân dân tại Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi
Việt Nam khu vực Đông bắc bộ” làm đề tài Luận văn thạc sỹ kinh tế.
Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hoá lý luận cơ bản về hoạt động kiểm tra trực tiếp của Bảo
hiểm tiền gửi đối với hệ thống tổ chức tín dụng hợp tác;
- Phân tích thực trạng hoạt động kiểm tra trực tiếp đối với các Quỹ tín
dụng nhân dân của Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam khu vực Đông Bắc
bộ từ đó đề xuất hệ thống các giải pháp, kiến nghị để tăng cường hoạt động
kiểm tra trực tiếp đối với các Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở của Bảo hiểm tiền
gửi khu vực Đông Bắc bộ.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu về hoạt động kiểm tra tại
chỗ đối với Quỹ tín dụng nhân dân của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi.
Phạm vi nghiên cứu: Về lý thuyết, luận văn nghiên cứu những lý luận
cơ bản về hoạt động kiểm tra trực tiếp của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi đối với
tổ chức tín dụng hợp tác nói chung và cụ thể là Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở.
với tư cách pháp nhân của một HTX, hoạt động trong lĩnh vực tín dụng, thực
hiện kinh doanh tiền tệ và làm dịch vụ Ngân hàng.
Theo Luật các Tổ chức tín dụng nước CHXHCN Việt Nam thì “Tổ
chức tín dụng hợp tác là tổ chức kinh doanh tiền tệ và làm dịch vụ ngân hàng,
do các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập để hoạt động ngân
hàng theo luật này và luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau
phát triển sản xuất kinh doanh và đời sống. TCTDHT gồm Ngân hàng hợp tác
xã, Quỹ tín dụng nhân dân và các hình thức khác”.
Tổ chức tín dụng hợp tác nên nó có những đặc trưng cơ bản như sau:
Một, TCTDHT là loại hình TCTD được tổ chức và hoạt động theo mô
hình kinh tế hợp tác, do những người sản xuất và buôn bán nhỏ không có điều
kiện tiếp cận với các ngân hàng thương mại lớn để vay vốn, họ phải cùng nhau
góp vốn nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống, xóa
đói giảm nghèo, các thành viên vừa là chủ sở hữu, vừa là thành viên, vừa là
khách hàng của TCTDHT.
Hai, hoạt động của TCTDHT có mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa
các thành viên, cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng một cách thuận lợi
nhất như gửi vốn, vay vốn nhằm giúp thành viên nâng cao hiệu quả kinh tế và
thu được lợi nhuận cao nhất từ việc sản xuất kinh doanh riêng của mình chứ
không nhằm thu lợi tức góp vốn cao nhất từ hoạt động TCTDHT.
2
Ba, đa số các TCTDHT có quy mô nhỏ và địa bàn hoạt động hẹp, chủ
yếu ở khu vực nông nghiệp, nông thôn với điều kiện và môi trường hoạt động
ngân hàng có nhiều bất lợi, khó khăn. So với các loại hình TCTD khác,
TCTDHT có bất lợi cơ bản là vừa có quy mô nhỏ, năng lực tài chính nhỏ bé,
trình độ cán bộ hạn chế và hoạt động chủ yếu ở môi trường kinh tế chậm phát
triển là khu vực nông nghiệp, nông thôn nên khả năng “tự bảo vệ” nhằm bảo
đảm an toàn là rất hạn chế.
Bốn, TCTDHT là một loại hình TCTD nên nó mang đặc trưng nổi bật
nhất của loại hình tổ chức tín dụng chính là loại hình tổ chức kinh doanh tiền
cho sản xuất kinh doanh, khắc phục khó khăn về đời sống. Từ đó các tổ chức
tài chính mang tính chất hợp tác xã là tương hỗ, giúp đỡ nhau về vốn được
hình thành và mau chóng lan rộng trở thành phong trào khắp thế giới.
Quan điểm khởi xướng hình thành mô hình tổ chức tín dụng hợp tác
được nêu ra sớm nhất ở Đức vào năm 1846, sau đó lan dần sang Anh, Pháp,
Italia… Năm 1909, loại hình này mới bắt đầu xuất hiện ở Hoa Kỳ.
Cho đến nay, mô hình tổ chức tín dụng hợp tác với nhiều loại hình và tên
gọi khác nhau: Ngân hàng Hợp tác xã (ở CHLB Đức) Qũy tín dụng Desjardins
(Canada), Quỹ tín dụng (Mỹ), Hợp tác xã tín dụng (Ấn Độ, Philippin, Trung
Quốc…), Liên minh tín dụng (Hàn Quốc), Quỹ tín dụng nhân dân (Việt Nam)…
và đã phát triển phong trào hiện diện ở khoảng 150 nước trên thế giới. Những loại
hình tổ chức này hiện nay được tập hợp thành một Liên minh tín dụng quốc tế có
tên gọi là WOCCU (World Council of Credit Unions).
Tùy theo đặc điểm của mỗi khu vực, mỗi quốc gia và nhu cầu cụ thể của
những người tham gia mà các tổ chức tín dụng hợp tác được xây dựng theo
một loại hình nào đó nhằm đáp ứng các nhu cầu đặt ra. Về tính chất thì các tổ
chức tín dụng hợp tác đều mang tính chất hợp tác xã, tuy các hợp tác xã trên
thế giới có các loại hình rất đa dạng song đối với các tổ chức tín dụng hợp tác
phổ biến trên thế giới chỉ có 03 loại hình chủ yếu như: Ngân hàng hợp tác xã,
Hợp tác xã tín dụng và Quỹ tín dụng nhân dân.
4
*/ Ngân hàng hợp tác xã:
- Ngân hàng hợp tác xã là một loại hình của tổ chức tín dụng hợp tác. Đây là
một tổ chức kinh doanh tiền tệ và làm dịch vụ ngân hàng, do các tổ chức, cá nhân
và hộ gia đình tự nguyện thành lập để hoạt động ngân hàng theo quy định của
pháp luật, mục tiêu chủ yếu cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho thành viên để hỗ
trợ thành viên phát triển sản xuất kinh doanh và đời sống.
Đây là một tổ chức tín dụng hợp tác được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân
hàng và các hoạt động khác có liên quan nên nó là một ngân hàng hợp tác xã.
- Về tổ chức và quản lý:
Nội dung hoạt động ngân hàng chủ yếu trong nội bộ hợp tác xã tín dụng
và trong một địa bàn hẹp.
*/ Quỹ tín dụng nhân dân:
Quỹ tín dụng nhân dân cũng là một loại hình của tổ chức tín dụng hợp
tác, nó giống như loại hình HTX tín dụng. Đây là một tổ chức kinh doanh tiền
tệ và làm dịch vụ ngân hàng do các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện
thành lập để hoạt động ngân hàng nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa
các thành viên để phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống.
QTDND chỉ thực hiện một số dịch vụ ngân hàng hạn chế và trong một
địa bàn hẹp, chủ yếu ở một xã và phổ biến là khu vực nông thôn.
- Về tổ chức và quản lý: QTDND cũng giống như ngân hàng hợp tác xã
và HTX tín dụng, nó được tổ chức và quản lý theo nguyên tắc hợp tác xã: tự
nguyện, bình đẳng, tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
Cơ cấu tổ chức và quản lý được xây dựng theo mô hình hợp tác xã gồm:
Thành viên, đại hội thành viên, hội đồng quản trị, ban kiểm soát và ban điều hành.
Mô hình quỹ tín dụng nhân dân được rút kinh nghiệm từ mô hình ngân
hàng hợp tác xã , hợp tác xã tín dụng đã xây dựng một hệ thống liên kết rất
chặt chẽ tạo ra một sức mạnh toàn hệ thống.
6
- Về nội dung hoạt động: QTDND cũng như hợp tác xã tín dụng chỉ
được thực hiện một số hoạt động ngân hàng hạn chế, không được và cũng
không đủ điều kiện để tự mình thực hiện đầy đủ các dịch vụ ngân hàng. Các
hoạt động thường xuyên chủ yếu cũng là nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để
cấp tín dụng chủ yếu cho thành viên. Các hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân
diễn ra trong một địa bàn nhỏ hẹp thường là cấp xã hoặc liên xã.
1.1.2. Tổ chức BHTG
1.1.2.1. Khái niệm
Bảo hiểm tiền gửi: Bảo hiểm tiền gửi là cam kết công khai của tổ chức
BHTG đối với TCTG BHTG về việc tổ chức BHTG sẽ trả tiền gửi bao gồm
phần gốc và lãi cho người gửi tiền khi TCTG BHTG bị chấm dứt hoạt động và
thành lập FDIC- Bảo hiểm tiền gửi của Mỹ” đây là tổ chức bảo hiểm tiền gửi
đầu tiên trên thế giới được thành lập.
Sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, các nước: Hàn
Quốc, Thái Lan và Indonesia thành lập tổ chức bảo hiểm tiền gửi. Cuộc khủng
hoảng tài chính lần này cho thấy cần có một mạng an toàn tài chính phù hợp
để giảm thiểu rủi ro của những cuộc khủng hoảng lớn.
Mỗi một quốc gia, tất cả các khâu hay yếu tố trong mạng an toàn tài
chính cần được thiết kế tốt. Nếu một quốc gia chỉ có một cơ chế tốt ở một
hoặc vài khâu trong mạng an toàn tài chính thì quốc gia đó vẫn có khả năng
gặp khó khăn trong việc tìm ra giải pháp hiệu quả để ngăn ngừa và giải quyết
những vấn đề trong hệ thống ngân hàng. Theo nhiều nhà quan sát, hiện tượng
ngân hàng North – earn Rock ở Anh là một minh chứng cho kết luận trên. Cơ
chế bảo hiểm tiền gửi hóa ra lại là khâu yếu nhất trong mạng an toàn tài chính
của quốc gia này. Chính vì không có hệ thống bảo hiểm tiền gửi một cách đầy
đủ, độc lập, kịp thời chi trả và hạn mức bảo hiểm không đủ cao mà thực trạng
của ngân hàng Northern Rock đã tạo nên làn song lo sợ lan truyền trong toàn
hệ thống.
8
Thành công trong quá trình hoạt động của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi
của một số nước, nhất là FDIC của Mỹ là động lực cho các quốc gia khác xây
dựng tổ chức bảo hiểm tiền gửi. Số quốc gia có hệ thống bảo hiểm tiền gửi
công khai đã tăng từ 12 nước năm 1974 lên 87 nước năm 2005 và hiện nay đã
có mặt trên hàng trăm quốc gia trên khắp thế giới.
1.1.2.3. Loại hình tổ chức BHTG
Hiện nay trên thế giới có ba mô hình BHTG phổ biến, đó là:
- Mô hình chi trả;
- Mô hình chi trả có quyền hạn mở rộng;
- Mô hình giảm thiểu rủi ro.
Nhiệm vụ và chức năng của các mô hình này là:
Thứ nhất: Đối với mô hình chi trả, tổ chức BHTG có nhiệm vụ chính là
vực nông thôn, khả năng nắm bắt và đánh giá các thông tin và các rủi ro có thể
đe dọa đến quyền lợi của mình còn nhiều hạn chế.
Vì vậy, muốn huy động được vốn từ khu vực này điều đầu tiên phải tạo
cho họ lòng tin đồng thời phải có một tổ chức chịu trách nhiệm bảo vệ lòng tin
đó của họ. BHTG thực hiện trách nhiệm đó thông qua trách nhiệm vật chất
nếu đã xảy ra rủi ro đồng thời qua việc ngăn chặn không để xảy ra rủi ro trong
quá trình thực hiện các nghiệp vụ góp phần bảo đảm an toàn hoạt động của
các tổ chức tín dụng hợp tác.
Hoạt động BHTG giúp các TCTD thực sự yếu kém, không thể tiếp tục
duy trì hoạt động có thể rút khỏi lĩnh vực kinh doanh ngân hàng một cách có
trật tự, không ảnh hưởng ngân hàng khác và cả hệ thống. Thông qua hoạt
động giám sát, kiểm tra, BHTG thực hiện kiểm soát rủi ro đối với TCTG
BHTG.
Cũng qua giám sát, kiểm tra BHTG khả năng đánh giá kịp thời thực
trạng của TCTG BHTG, đối với tổ chức yếu kém, không thể duy trì hoạt
động hoặc có nguy cơ đổ vỡ, tổ chức BHTG có ứng xử thoả đáng như: Hỗ
trợ tài chính giải quyết khó khăn tạm thời về tài chính, tránh nguy cơ đổ vỡ
10
gây ảnh hưởng nghiêm trọng, sâu rộng đến an toàn hệ thống tài chính -
ngân hàng và ổn định kinh tế xã hội; thực hiện mua và nhận lại nợ thay; chi
trả tiền BHTG cho người gửi tiền. Những hoạt động này có tác dụng trực
tiếp, mạnh mẽ, giúp tổ chức nhận tiền gửi tồn tại để vươn lên hoặc được rút
khỏi hoạt động có tổ chức, có trật tự không ảnh hưởng TCTD khác và hệ
thống.
Tóm lại, BHTG là một công cụ nhằm giảm thiểu rủi ro, nâng cao niềm
tin trong công chúng, đảm bảo an toàn hệ thống cho hoạt động ngân hàng đặc
biệt đối với hệ thống tổ chức TDHT. Hoạt động BHTG thúc đẩy sự kết hợp
hài hoà giữa nỗ lực nâng cao chất lượng hoạt động ngân hàng hướng tới thu
hút tối đa và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong cộng
đồng và sự cộng tác tích cực của các thành viên trong xã hội trên cơ sở các
Kiểm tra: Theo từ điển Tiếng Việt, Kiểm tra là “xem xét tình hình thực
tế để đánh giá, nhận xét”, để chỉ hoạt động của chủ thể tác động vào đối tượng
kiểm tra (có thể trực thuộc hoặc không trực thuộc).
Khái niệm kiểm tra có thể được hiểu theo 2 nghĩa:
- Theo nghĩa rộng: để chỉ hoạt động của các tổ chức xã hội, các đoàn thể
và của công dân kiểm tra hoạt động bộ máy của nhà nước.
- Theo nghĩa hẹp hơn: kiểm tra là hoạt động của chủ thể nhằm tiến hành
xem xét, xác minh một việc gì đó của đối tượng bị quản lý xem có phù hợp
hay không phù hợp với trạng thái định trước.
Như vậy, hoạt động kiểm tra trực tiếp của BHTG chính là hoạt động của
tổ chức BHTG nhằm tiến hành xem xét, xác minh việc tuân thủ các quy định
về BHTG và các quy định về an toàn hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín
dụng đề từ đó đề xuất, kiến nghị các giải pháp khắc phục và ngăn ngừa vi
phạm hoặc xử lý vi phạm đối với Tổ chức tham gia BHTG, góp phần chấn
chỉnh những yếu kém trong quá trình hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng
của chính tổ chức đó.
12
Xét theo tính chất và ý nghĩa của công tác kiểm tra, thông thường trên
thế giới việc kiểm tra tại chỗ đối với mỗi tổ chức tín dụng nói chung và TCTD
hợp tác nói riêng được kiểm tra sau 12 đến 18 tháng và được đánh giá theo các
chỉ tiêu CAMELS. Các cuộc kiểm tra cung cấp hầu hết các thông tin hoàn chỉnh
và đáng tin cậy về sức khỏe tài chính ngân hàng, theo đó các cơ quan giám sát
chỉ việc dựa trên đánh giá của CAMELS như là công cụ chỉ dẫn tốt nhất để
đánh giá trình trạng tình hình tài chính và hoạt động của các tổ chức tín dụng.
* Mục đích : Đầu tiên là đánh giá đúng thực trạng tình hình hoạt động,
phát hiện những tồn tại, thiếu sót và vi phạm quy định của Nhà nước về
BHTG và các quy định về đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng đề từ
đó đề xuất, kiến nghị các giải pháp khắc phục và ngăn ngừa vi phạm hoặc xử
lý vi phạm đối với tổ chức tham gia BHTG, góp phần chấn chỉnh những yếu
kém trong quá trình hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng.
nhiều lợi thế hơn so với TCTD hợp tác, mặt khác do thường xuyên tiến hành
giám sát từ xa và kiểm tra trực tiếp nên cán bộ kiểm tra của bảo hiểm tiền gửi
có nhiều cơ hội học hỏi và tích luỹ kinh nghiệm. Vì vậy qua công tác đào tạo
có bài bản thì thông qua cán bộ kiểm tra trực tiếp bảo hiểm tiền gửi hoàn toàn
có thể thực hiện mục tiêu tư vấn cho hoạt động của các tổ chức tín dụng hợp
tác ngày càng hiệu quả hơn.
* Vai trò :
Kiểm tra trực tiếp nhằm thực hiện mục tiêu then chốt của BHTG là bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, góp phần đảm bảo an toàn hệ
thống tài chính quốc gia.
Để thực hiện chức năng tài chính công của mình, tổ chức bảo hiểm tiền
gửi phải tiến hành các hoạt động nghiệp vụ. Một trong những hoạt động
nghiệp vụ quan trọng nhất của tổ chức này chính là hoạt động kiểm tra trực
tiếp. Chính vì vậy hoạt động kiểm tra trực tiếp có vai trò quan trọng góp phần
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền tại các tổ chức tham gia
bảo hiểm tiền gửi. Quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền được bảo vệ
14
trực tiếp thông qua việc chi trả tiền gửi được bảo hiểm trong một số trường
hợp nhất định và gián tiếp thông qua việc góp phần làm lành mạnh hóa hoạt
động của các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.
Kiểm tra trực tiếp của bảo hiểm tiền gửi là một bộ phận cấu thành thực
hiện chức năng giám sát hoạt động của các TCTD nói chung và của TCTD
hợp tác nói riêng từ đó phát hiện, ngăn ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động
của các tổ chức tín dụng.
Hiện nay đa số các quốc gia trên thế giới đã thiết kế và đưa vào hoạt động
mạng an toàn tài chính bao gồm các cơ quan giám sát của Bộ tài chính, Ngân hàng
Trung ương, Tổ chức BHTG và các cơ quan giám sát khác. BHTG trở thành một
bộ phận của mạng an toàn tài chính quốc gia. BHTG phải thực hiện chức năng
giám sát hoạt động tài chính ngân hàng mà cụ thể nhất là hoạt động giám sát các
TCTD tham gia bảo hiểm tiền gửi. Trong đó kiểm tra trực tiếp cùng với giám sát
động ngân hàng…Trách nhiệm của từng cán bộ được phân công thực hiện và
của trưởng đoàn kiểm tra trong việc đưa ra kết luận kiểm tra cũng thường
được nêu rõ tại bước này của quy trình.
Xử lý sau kiểm tra là bước cuối cùng của một cuộc kiểm tra. Bước này
được quy định phụ thuộc phần lớn vào thẩm quyền của tổ chức BHTG. Tổ
chức BHTG có thể yêu cầu đơn vị chấn chỉnh ngay những sai phạm hoặc hình
thức cao nhất là ra quyết định chấm dứt bảo hiểm tiền gửi đối với TCTD hợp
tác được kiểm tra hoặc đề nghị đơn vị có chức năng đình chỉ một phần hay
toàn bộ hoạt động của tổ chức này. Xử lý sau kiểm tra không chỉ là quyết định
được ban hành ngay sau cuộc kiểm tra trực tiếp tại TCTD hợp tác. Bước này
có thể được thực hiện một thời gian dài với sự theo dõi mức độ chấp hành
quyết định sau kiểm tra và những động thái của các bên có liên quan từ đó có
thể tiếp tục thực hiện tiếp các cuộc phúc tra đối với TCTD hợp tác.
16
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện quy trình kiểm tra có thể được rút
gọn bao gồm bước chuẩn bị và bước tiến hành kiểm tra trực tiếp tại TCTD hợp
tác nếu đoàn kiểm tra có đủ thẩm quyền đưa ra những biện pháp xử lý sau kiểm
tra hoặc tổ chức tín dụng hợp tác được kiểm tra thực hiện nghiêm túc các quy
định.
Đối với một số cuộc kiểm tra đột xuất thì quy trình kiểm tra cũng có thể
không bao gồm bước chuẩn bị kiểm tra mà bước này đã được gộp vào bước
kiểm tra trực tiếp tại tổ chức tín dụng hợp tác được kiểm tra.
1.2.3. Nội dung hoạt động KTTT của BHTG đối với TCTD Hợp tác
Để đạt được mục đích đã đề ra, hoạt động kiểm tra trực tiếp của tổ chức
BHTG đối với tổ chức tham gia BHTG là tổ chức TDHT hợp tác bao gồm hai
phần chính:
* Kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về BHTG:
Tổ chức BHTG thường có những quy định riêng đối với các tổ chức tham
gia BHTG chủ yếu nhằm thực hiện tốt vai trò của mình. Tổ chức BHTG tiến hành
kiểm tra việc chấp hành các quy định về BHTG của các tổ chức tham gia BHTG,