Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
HOÀNG VĂN MẠNH XÁC ĐỊNH TRÌNH TỰ GEN E6 VÀ L1 CỦA HPV VÀ GEN
EBNA-1 CỦA EBV ĐỂ ỨNG DỤNG TRONG CHUẨN ĐOÁN UNG
THƯ CỔ TỬ CUNG VÀ VÒM MŨI HỌNG Chuyên ngành: Công nghệ sinh học
Mã số: 60.42.80 LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG NGHỆ SINH HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. Lê Thanh Hoà Thái Nguyên - 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Latent membrane protein
MHC
Major Histocompatibility Complex
MT7
Miền trung 7 (ký hiệu mẫu)
NPC
Nasopharyngeal carcinoma
p53
Protein 53
PV
Papilloma virus
RB
Retinoblast
TR
Terminal repeat
ts-PCR
Type- specific PCR
UICC
Universal Integrated Circuit Card
UTBM
Carcinoma
VCA
Viral capsid antigen
VMH
Vòm mũi họng
WHO
World Health Organization
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Thành phần của phản ứng cắt plasmid tái tổ hợp bằ ng
enzym EcoRI
47
Bảng 2.7
Thành phần phản ứng to DNA sợi đơn
49
Bảng 2.8
Chu trì nh nhiệ t củ a phả n ứ ng giả i trì nh tự
49
Bảng 3.1
Kết quả truy cập Ngân hàng gen sử dụng chuỗi gen E6
của mẫu PK12
56
Bảng 3.2
Kết quả truy cập Ngân hàng gen sử dụng chuỗi gen L1
của mẫu PS16
57
Bảng 3.3
Kết quả truy cập Ngân hàng gen sử dụng chuỗi
nucleotide gen EBNA-1 của EB17, EB18, EB19 và EB20
64
Bảng 3.4
Kết quả xác định phân týp của các chủng EBV qua phân
tích acid amin ti vị trí 487 của EBNA-1
66
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình
29
Hình 2.1
Sơ đồ quy trình nghiên cứu phân tích gene EBNA-1 của
virus EBV và E6 của virus HPV16 và L1 của HPV18
34
Hình 2.2
Cấ u trú c vector pCR2.1-TOPO® (Invitrogen)
43
Hình 3.1
Kết quả kiểm tra DNA tổng số từ mẫu bệnh phẩm
51
Hình 3.2
Kiểm tra sản phẩm multiplex-PCR sử dụng cùng lúc 2 cặp
mồi (E6F-E6R và HP18F-HP18R) với khuôn DNA tổng
số của các mẫu PS16, PK12, PK11, PK10.
52
Hình 3.3
Kiểm tra sản phẩm tách dòng đoạn gen E6 của mẫu PK12
(bản A) và đoạn gen L1 của mẫu PS16 (bản B).
53
Hình 3.4
Hình ảnh giản đồ (chromatogram) một phần trình tự gen
E6 của mẫu PK12 (HPV-16).
54
Hình 3.5
Hình ảnh giản đồ (chromatogram) một phần trình tự gen
L1 của mẫu PS16 (HPV18).
54
Hình 3.6
Trình bày chuỗi gen E6 của typ HPV-16.
MỤC LỤC Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
ĐẶT VẤN ĐỀ
1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
4
1.1. UNG THƢ CỔ TỬ CUNG VÀ HUMAN PAPILLOMA VIRUS (HPV)
4
1.1.1 Dịch tễ học ung thư cổ tử cung
4
1.1.1.1. Trên thế giới
4
1.1.1.2. Tình hình ung thư cổ tử cung ở Việt Nam
6
1.1.1.3. Các yếu tố có nguy cơ đối với ung thư CTC
6
1.1.1.4. Human papilloma virus và bệnh ung thư cổ tử cung
6
1.2.1.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
23
1.2.2. Đặc tính sinh học của Epstein-Bar virus (EBV)
24
1.2.2.1. Phát hiện virus Epstein - Barr và ung thư VMH
24
1.2.2.2. Đặc điểm phân loại và cấu trúc EBV
25
1.2.2.3. Sự nhân lên, tàng nhiễm và khả năng gây ung thư của
EBV…
26
1.2.2.4. Sinh học phân tử và sắp xếp hệ gene của EBV
28
1.2.2.5. Gene và sản phẩm của gene EBNA-1
29
1.2.3. Tầm quan trọng của việc nghiên cứu sinh học phân tử và xây dựng
phương pháp PCR chẩn đoán sớm EBV ung thư vòm mũi họng ở Việt Nam
30
CHƢƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
33
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu
33
2.2. Dụng cụ, trang thiết bị nghiên cứu và hoá chất nghiên cứu
33
2.2.1. Dụng cụ, trang thiết bị
33
2.2.2. Hoá chất
33
2.4.4.5. Kiểm tra DNA tái tổ hợp
47
2.4.5. Giải trình trình tự và xử lý số liệu
48
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
51
3.1. Kết quả thu nhận, giải trình trình tự và xác định gen E6 của HPV-16
và L1 của HPV-18
51
3.1.1. Kết quả kiểm tra DNA tổng số từ mẫu bệnh phẩm
51
3.1.2. Kết quả thực hiện phản ứng Multiplex-PCR phát hiện HPV-16 và
HPV-18
52
3.1.3. Kết quả tách dòng và giải trình tự các sản phẩm HPV-16 và
HPV-18 từ các mẫu kiểm tra
53
3.1.4. Kết quả giải trình tự và thu nhận chuỗi gen E6 của HPV-16 và
chuỗi gen L1 của HPV-18
54
3.1.5. Kết quả truy cập Ngân hàng gen xác định chuỗi gen E6 của
HPV16 và L1 của HPV18
56
3.1.6. Kết quả bước đầu phát hiện HPV-16 và HPV-18 bằng phương
pháp đa mồi multiplex-PCR
70
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, ung thư (cancer) là một
trong những nguyên nhân gây tỷ lệ tử vong cao nhất ở người, chiếm khoảng
12% trong tổng số trường hợp tử vong hàng năm trên thế giới, đứng thứ 2 sau tỷ
lệ tử vong của các bệnh lí về tim - mạch và ngày càng có xu hướng gia tăng.
Bệnh ung thư nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời sẽ dẫn
đến nguyên nhân gây tử vong, do chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu. Bệnh
có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, ở cả hai giới (nam và nữ) và ở tất cả các mô, các cơ
quan trong cơ thể. Đặc biệt, ung thư cổ tử cung (CTC) và ung thư vòm mũi
họng (VMH) là hai trong số 5 loại ung thư có tỷ lệ tử vong cao nhất ở Việt Nam
và các quốc gia đang phát triển trong khu vực. Trong đó, ung thư CTC đứng thứ
2 trong số các ung thư và là nguyên nhân gây tử vong cao nhất cho phụ nữ ở
Việt Nam [1], [9]. Bên cạnh đó, ung thư VMH cũng là một trong 5 loại ung thư
phổ biến nhất ở người và là loại hay gặp nhất trong ung thư vùng tai mũi họng ở
các nước vùng Đông nam Á và phía nam Trung Quốc [23], [56].
Nguyên nhân gây ra ung thư rất phức tạp, liên quan đến thể địa, tập quán,
thói quen và môi trường sống. Trong đó, một số yếu tố đã được coi là liên quan
chặt chẽ với việc gây ra ung thư như: yếu tố vật lí (phóng xạ), hóa chất độc, các
gốc tự do và đặc biệt ngày nay đã phát hiện ra vai trò của các virus trong tiến
triển ung thư. Các công trình nghiên cứu gần đây đã chứng minh virus là nguyên
chế tiến triển của một số loại ung thư như: tăng sinh lympho B, ung thư biểu
mô như ung thư VMH và ung thư dạ dày Tuy nhiên, EBV có khả năng gây
sơ nhiễm và tồn tại lâu dài trong cơ thể mà không gây bệnh. Cấu trúc hệ gen
của EBV là DNA sợi đôi xoắn kép, mạch hở, kích thước khoảng 172 kb, nếu
tính cả phần cấu trúc lặp ở hai đầu là 184 kb, mã hoá cho 9 protein virus. Trong
đó, gen EBNA-1 là một đoạn DNA nằm trong tổ hợp gen EBNA protein kháng
nguyên, có vai trò thiết yếu trong quá trình xâm nhập và nhân lên cũng như duy
trì sự tái tạo hệ gen của virus, bên cạnh đó protein EBNA-1 còn ngăn cản quá
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
trình phân giải và trình diện kháng nguyên của virus ở tế bào nhiễm. Gen EBNA-1
và sản phẩm protein EBNA-1 có mặt trong tất cả các khối u có liên quan đến
EBV. Như vậy, với sự hiểu biết về các đặc tính sinh học phân tử của HPV và
EBV, cùng với sự phát triển của các kĩ thuật ứng dụng sinh học phân tử, hoàn
toàn có thể giúp cho việc phát hiện sớm và chính xác HPV và EBV trên bệnh
nhân, phục vụ chẩn đoán và áp dụng các biện pháp điều trị sớm nhằm ngăn chặn
sự tiến triển của bệnh, giảm tỷ lệ tử vong do các ung thư mà chúng gây ra. Hiện
nay, ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu tìm hiểu đặc tính, định loại và xác định
týp một cách chính xác, có hệ thống về HPV và EBV. Việc nghiên cứu ứng
dụng PCR trong chẩn đoán phát hiện HPV và EBV cũng đã được thực hiện gần
đây, nhưng còn nhiều hạn chế như: quy trình thực hiện phức tạp, thời gian trả lời
kết quả kéo dài và giá thành xét nghiệm.
Xuất phát trên cơ sở phân tích những công trình nghiên cứu có liên quan,
những kết quả mới nhất trong lĩnh vực nghiên cứu về Human papilloma virus
(HPV) và Epstein-Barr Virus (EBV), chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“ Xác định trình tự gen E6 và L1 của HPV và gen EBNA-1 của EBV để ứng
dụng trong chuẩn đoán ung thư cổ tử cung và vòm mũi họng” với mục tiêu
nghiên cứu:
1. Thu nhận chuỗi gen E6 của HPV-16 và chuỗi gen L1 của HPV-18, ở một
Ở Pháp, cứ 100.000 phụ nữ ở tuổi 45 có 13 trường hợp mắc ung thư CTC
và con số này tăng lên khi ở tuổi 60 cứ 100.000 người có 46 người mắc. Tần
suất mới mắc hàng năm từ 20 đến 85 trường hợp trong tổng số 100.000 phụ nữ.
Tỷ lệ tử vong do ung thư CTC ở các nước cũng rất khác nhau, ở Mexico là cao nhất
Hình 1.1. Bản đồ phân bố dịch tễ theo độ tuổi của người có khả
năng nhiễm ung thư của các châu lục [64].
Hình 1.1. Bản đồ phân bố dịch tễ theo độ tuổi của người có khả
năng nhiễm ung thư của các châu lục [64].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
(15,9/100.000 dân), thấp nhất ở Hy lạp (1,3/100.000 dân) [50].
Theo Hội Ung Thư Mỹ, trong năm 2009, có khoảng 11.270 trường hợp
mới mắc ung thư cổ tử cung và ước tính có tới 4.070 phụ nữ sẽ chết vì ung thư
cổ tử cung, chiếm 1,3% của tất cả các ca tử vong do ung thư và 6,5% các ca tử
vong từ bệnh ung thư phụ khoa.
Các nghiên cứu điều tra gần đây cho thấy, tỷ lệ mới mắc và tỷ lệ tử vong
do ung thư CTC ở các nước phát triển đang có xu hướng giảm dần, do áp dụng
rộng rãi phương pháp chẩn đoán sàng lọc Pap smear, nên đã phát hiện sớm ung
thư CTC. Ở Anh tỷ lệ chết giảm từ 88/100.000 dân năm 1972 xuống còn
63/100.000 dân trong năm 1992. Ở Mỹ tỷ lệ mới mắc là 44/100.000 dân năm 1947,
đến năm 1996 tỷ lệ mới mắc hàng năm đã giảm xuống 7,5/100.000 dân [49].
Các nước có tỷ lệ ước tính mắc ung thư cổ tử cung cao nhất xảy ra ở châu
Phi, Trung Mỹ, Nam Mỹ và Châu Á.
Bảng 1.1. Tình hình ung thư CTC trên thế giới (không tính châu Phi) [11].
Vùng/Châu
Số trƣờng hợp
Tóm lại, tỷ lệ mắc bệnh ung thư CTC khác nhau tùy thuộc các quốc gia,
dân tộc, chủng tộc trong cùng một nước, phụ nữ da đen mắc bệnh gấp 2 lần phụ
nữ da trắng, phụ nữ ở thành thị mắc bệnh cao hơn phụ nữ ở nông thôn [8], [50].
1.1.1.2. Tình hình ung thƣ cổ tử cung ở Việt Nam
Hiện nay, ở Việt Nam chưa có thống kê cụ thể hàng năm về tỷ lệ mới
mắc và tử vong do bệnh ung thư CTC. Tuy nhiên, năm 1994, theo điều tra của
bệnh viện K - Hà Nội, tỷ lệ ung thư CTC là 7,7/100.000 phụ nữ, chiếm 6% trong
các loại ung thư. Ở thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ này là 35/100.000 phụ nữ và
chiếm hơn 20% trong các loại ung thư nói chung. Ung thư CTC đứng thứ 2 trong
số các ung thư ở phụ nữ Việt Nam, nhưng gây tử vong cao nhất cho phụ nữ [9].
1.1.1.3. Các yếu tố có nguy cơ đối với ung thƣ CTC
Nhiều nghiên cứu và giả thuyết cho thấy ung thư CTC hay gặp ở những
phụ nữ có hoạt động tình dục sớm (dưới 20 tuổi), có nhiều bạn tình, những
người có thai sớm, đẻ nhiều, mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục, có thói
quen hút thuốc lá, tình trạng kinh tế thấp, có tiền sử viêm nhiễm CTC, nhất là
loạn sản CTC không được điều trị triệt để, nhiễm nhiều loại virus cơ hội như
Herpes simplex virus týp 2 [3], [6] và [11].
Hiện nay, nguyên nhân gây ung thư CTC đã được biết một cách cụ thể,
đó là do loại virus sinh u nhú ở người Human papillomavirus (HPV), thuộc họ
Papillomaviridae gây ra. HPV được phát hiện có mặt trong, trên 95% các
trường hợp ung thư CTC, do vậy được coi là nguyên nhân gây bệnh ung thư
CTC [62], [71].
1.1.1.4. Human papilloma virus và bệnh ung thƣ cổ tử cung
Các nghiên cứu dịch tễ học tại Hoa Kỳ cho thấy rằng 75% dân số tuổi 15
- 50 bị nhiễm HPV sinh dục và kéo dài trong suốt cuộc đời của họ. Trong số đó,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
60% bị nhiễm trùng thoáng qua, 10% bị nhiễm trùng dai dẳng (có sự hiện diện
của HPV DNA trong các mẫu mô bộ phận sinh dục), 4% có dấu hiệu nhẹ tế bào
định sẽ phát triển dần lên hướng bề mặt và sau đó sẽ được bong ra ngoài. HPV
tấn công vào lớp tế bào đáy của biểu mô vốn có khả năng sinh sản cao và gây ra
hiện tượng phát triển mạnh hơn bình thường của 1 rồi nhiều lớp tế bào sau đó.
Khi tế bào bất thường chiếm toàn bộ các lớp của tế bào biểu mô lát (dị sản nặng
tại chỗ), sẽ có khả năng phát triển lan rộng khỏi màng đáy vào các lớp sâu hơn
biểu mô lát và hình thành ung thư cổ tử cung giai đoạn xâm lấn. Tuy nhiên,
những tổn thương ban đầu chỉ xảy ra tại biểu mô lát vốn không có tiếp xúc mạch
máu, HPV hầu như chỉ hiện diện tại chỗ và không đi vào máu, do đó không gây
ra tình trạng viêm, không hoạt hóa hệ miễn dịch và hầu như không gây miễn
nhiễm sau khi đã nhiễm tự nhiên HPV (Hình 1.2).
Những nghiên cứu ở giai đoạn xâm lấn và giai đoạn trước xâm lấn là cần
thiết để dự đoán tác động tương lai của loại vắc-xin HPV-16/HPV-18 và xét
nghiệm HPV. Phân tích xác định các chủng HPV trong ung thư cổ tử cung giai
đoạn xâm lấn (ICC) cho thấy HPV-16 là phổ biến nhất và HPV-18 loại thứ hai
phổ biến, trong tất cả các châu lục. Kết hợp giữa các trường hợp nhiễm HPV-
16/HPV-18, ICC ở Châu Âu, Bắc Mỹ và Australia (74 - 77%) cao hơn so với ở
Châu Phi, Châu Á và Nam/Trung Mỹ (65 - 70%). Các loại HPV phổ biến nhất là
HPV 31, 33, 35, 45, 52 và 58, mặc dù sự phân bố tương đối của chúng khác
nhau tùy theo vùng địa lý. Tổn thương mô biểu bì mức độ cao (tổn thương có
vảy cao cấp intraepithelial HSIL (high-grade squamous intra-epithelial lesion),
trong nhiễm HPV thường biểu hiện rõ ràng trong vòng vài tháng, khoảng 90%
biểu hiện rõ ràng trong vòng hai tháng. Trong số các trường hợp HSIL,
HPV16/18 có tỷ lệ nhiễm là 52% [52].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
nhóm duy nhất, thuộc họ Papillomaviridae. PV phân bố tương đối rộng rãi trong
thiên nhiên, gây bệnh cho các loài động vật có xương sống bậc cao chủ yếu là
người, ngựa, bò, chó, thỏ và một số loài chim. Virus Papilloma gây bệnh cho
người (HPV) chỉ là một loại duy nhất [36]. Tính đặc hiệu loài gây bệnh của PV
rất cao, khó có thể tìm thấy loại PV của loài này lại gây bệnh loài khác, PV chỉ
thích ứng biểu mô sừng và niêm mạc, gây tăng sinh tế bào biểu mô ở đường
sinh dục và hậu môn, vùng vòm họng, hầu - họng [32]. Đối với người, HPV gây
khối u ở da, miệng, thực quản, hầu, họng và đường hậu môn - sinh dục.
Về phân loại, PV được chia làm 5 siêu nhóm chính (super- groups) đánh
dấu từ A - E (Hình 1.3). Trong mỗi siêu nhóm, PV được chia thành các nhóm
khác nhau, mỗi một nhóm lại bao gồm các virus thuộc các týp khác nhau [22].
Ví dụ: siêu nhóm A, chủ yếu là HPV bao gồm 12 nhóm phụ là A1 - 12, trong đó các
týp HPV thuộc nhóm A9 là các loại virus có khả năng gây ung thư CTC rất cao.
Hầu hết, PV gây bệnh và biểu hiện lâm sàng đều thuộc siêu nhóm A (PV
thích ứng đường sinh dục và niêm mạc), hoặc siêu nhóm B (PV gây u xơ cứng
biểu mô sùi). Siêu nhóm C và D gồm các PV gây khối u xơ papilloma và khối u
đích thực do Papillomavirus gây ra. Siêu nhóm E chưa được phân loại chính xác
đó là hỗn hợp của PV thích ứng và gây khối u ở da.
PV được phân chia tiếp tục thành các týp. Đối với HPV được coi là cùng
týp, nếu chuỗi gen L1 trong hệ gen không khác nhau trên 10%. Tuy nhiên cũng
có nhiều trường hợp, phân týp HPV không hoàn toàn dựa vào chênh lệch %
nucleotid trong chuỗi gen L1, mà còn phải xem xét đặc tính gây bệnh của các
týp đó [21], [22].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
Hình 1.3. Mối quan hệ phả hệ và nguồn gốc của 101 Papillomavirus dựa trên so
sánh chuỗi nucleotid của gen capsid L1. Các chuỗi gen được thu nhận từ Ngân
hàng Gen, xử lý bằng chương trình BioEdit, ClustalX 1.8.1 và phân tích phả hệ
tử histon. Các gen thành phần hệ gen của HPV được định vị trong một sợi DNA.
Về chức năng, hệ gen HPV chia làm 3 phân vùng quan trọng:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
- Phân vùng thứ nhất: Là vùng không mã hóa L, có độ dài 400 - 1000 bp,
có chức năng điều hoà sao chép, gọi là vùng điều hoà lớn (LCR = long control
region), gồm chuỗi p97 (TATA Singnal 1,2) là tiểu phần khởi động (p97 core
promoter), các tiểu phần kích hoạt và một số chuỗi gen câm [16]. Vùng này có hệ
số biến đổi nucleotid cao hơn rất nhiều so với các vùng khác của hệ gen HPV.
- Phân vùng thứ hai: Là vùng sao chép sớm, ký hiệu là E (early region),
gồm các gen: E1, E2, E4, E5, E6 và E7, giúp cho sự nhân lên DNA của virus,
tham gia cơ chế hình thành khối u CTC.
- Phân vùng thứ ba: gồm các gen tổng hợp protein L1 và L2, là những
protein cấu trúc capsid của virus, được sản xuất muộn hơn. Do vậy, được gọi là
vùng sao chép muộn, ký hiệu là L (late region) (Hình 1.5).
Hình 1.5. Cấu trúc phân tử của hệ gen HPV -16.
Ghi chú: E1,2,4,5,6,7: các gen sớm; L1,2: các gen muộn; TATA Singnal 1,2: promotor
khởi động sao chép của hệ gen; Long Control Region: vùng điều khiển của hệ gen [16].
Hiện nay, HPV có khoảng 100 týp khác nhau đã được xác định, mỗi týp
có hàng chục phân týp (subtype); mỗi một phân týp lại có hàng chục biến thể
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
15
thể bề mặt có cấu trúc từ heparan. Một số HPV còn sử dụng thụ thể thứ cấp,
hoặc đảm bảo sự xâm nhập chắc chắn qua màng tế bào bằng cách sử dụng
proteoglycan.
Khi virus xâm nhập và nằm trong tế bào, thì DNA của virus ngay lập tức
được giải phóng và thực hiện quá trình nhân lên của nó. Quá trình tạo ra HPV
mới được thực hiện thông qua 2 cơ chế:
- Virus xâm nhập vào tế bào biểu mô hạ tầng thì sự nhân lên của virus
thuộc loại hình không tăng về số lượng và tồn tại với một số lượng thấp, DNA
của tế bào thực hiện quá trình tổng hợp nên DNA của chính virus, với tỷ lệ: 1
phân tử hệ gen /1 tế bào.
- Đối với tế bào keratin đã được biệt hoá thích ứng với virus thì virus thực
hiện quá trình nhân lên và tự nó điều khiển quá trình nhân lên DNA của mình
với một số lượng rất lớn, đồng thời tổng hợp nên protein cấu trúc capsid, để thực
hiện quá trình lắp ghép, tạo virus hoàn chỉnh.
Không giống như các loại ung thư khác, p53 trong ung thư CTC vẫn tồn
tại dưới dạng nguyên thuỷ và không bị đột biến. Protein E6 của HPV phong toả