MỤC LỤC
2.2.1.2 Nghiệp vụ nhờ thu 46
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nguyên văn
MSB Ngân hàng TMCP Hàng hải VN
TTQT Thanh toán quốc tế
NHPH Ngân hàng phát hành
NHTB Ngân hàng thông báo
NK Nhập khẩu
XK Xuất khẩu
XNK Xuất nhập khẩu
TDCT Tín dụng chứng từ
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
BẢNG
Bảng 2.1: Những chỉ tiêu cơ bản về hoạt động kinh doanh qua các năm 2007-2010. .Error:
Reference source not found
Bảng 2.2: Tình hình huy động vốn qua các năm từ 2007-2010 Error: Reference
source not found
Bảng 2.3: Doanh thu kinh doanh ngoại hối từ 2008 đến 2010 Error: Reference
source not found
Bảng 2.4: Doanh thu cung ứng dịch vụ Ngân hàng từ 2008-2010 Error: Reference
source not found
Bảng 2.5 : Doanh số của dịch vụ chuyển tiền qua các năm 2007 - 2010 Error:
Reference source not found
Bảng 2.6: Doanh số của nghiệp vụ nhờ thu các năm 2007 - 2010 Error: Reference
source not found
Bảng 2.7: Doanh số của nghiệp vụ tín dụng chứng từ các năm 2007-2010 Error:
Reference source not found
Bảng 3.1: kế hoạch hoạt động kinh doanh và ngân sách tài chính năm 2011 Error:
Reference source not found
SƠ ĐỒ
pháp để tăng cường hạn chế rủi ro trong hoạt động TTQT tại MSB
Bố cục luận văn: Bố cục luận văn gồm có 3 chương như sau
Chương 1: Cơ sở lý luận về hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế của Ngân
hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng hạn chế rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế tại
Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam
Chương 3: Các giải pháp tăng cường hạn chế rủi ro trong hoạt động thanh
toán quốc tế tại Ngân hàng TMCP hàng hải Việt Nam
Trong chương 1 tác giả làm rõ khái niệm về thanh toán quốc tế, các phương
thức thanh toán quốc tế : phương thức chuyển tiền, nhờ thu, tín dụng chứng từ, ghi
i
sổ ứng trước Tiếp đến là làm rõ khái niệm rủi ro trong TTQT , các loại rủi ro và
nhân tố ảnh hưởng tới rủi ro trong TTQT của NHTM
Các loại rủi ro phát sinh trong hoạt động TTQT của NHTM bao gồm: rủi ro
tác nghiệp, rủi ro tín dụng, rủi ro ngoại hối, rủi ro ngân hàng đại lý, rủi ro pháp lý,
rủi ro chính sách, rủi ro chính trị, rủi ro đạo đức, rủi ro lãi suất, rủi ro công nghệ và
hoạt động, rủi ro thanh khoản.
Nhân tố ảnh hưởng tới rủi ro trong TTQT của NHTM gồm có nhân tố chủ
quan và nhân tố khách quan. Nhân tố chủ quan ảnh hưởng tới rủi ro trong hoạt động
TTQT của Ngân hàng: cơ cấu tổ chức của ngân hàng, công tác quản trị rủi ro, chất
lượng đội ngũ cán bộ nhân viên, khoa học công nghệ, quy trình nghiệp vụ. Nhân tố
khách quan: môi trường kinh tế- chính trị, môi trường pháp lý và khách hàng
Đặc biệt trong chương này tác giả đã là rõ được khái niệm hạn chế rủi ro
trong thanh toán quốc tế cũng như các biện pháp để hạn chế rủi ro trong các phương
thức TTQT
Chương 2 bàn về thực trạng hạn chế rủi ro trong TTQT tại Ngân hàng TMCP
Hàng hải VN. Chương này tác giả trình bày khái quát về Ngân hàng TMCP Hàng
hải VN, về quá trình hình thành, phát triển, cơ cấu tổ chức và các hoạt động nói
chung cũng như các hoạt động thanh toán quốc tế nói riêng của Ngân hàng .
Ngoài ra chương này đi sâu vào phân tích thực trạng hạn chế rủi ro TTQT của
nhánh của ngân hàng đều quy định mức ký quỹ là 100% tuy nhiên điều này không
phát huy được tác dụng, làm giảm tính cạnh tranh, làm cho một số khách hàng
chuyển sang ngân hàng khác. Vì vậy hiện nay ngân hàng đã thực hiện mức ký quỹ
linh hoạt hơn
Việc thực hiện các biện pháp hạn chế rủi ro đã phần nào đem lại những hiệu
quả tích cực. Đó là rủi ro trong phương thức chuyển tiền và nhờ thu hầu như là
không có. Còn trong phương thức tín dụng chứng từ tỷ lệ bộ chứng từ sai sót được
hạn chế một cách hiệu quả
Tuy nhiên rủi ro là một yếu tố bất ngờ thường nằm ngoài tầm kiểm soát, nên
mặc dù Ngân hàng TMCP Hàng hải VN đã có những biện pháp để hạn chế rủi ro
iii
như đã nêu ở phần trên nhưng rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ vẫn xảy
ra chủ yếu là rủi ro tín dụng, rủi ro tác nghiệp
Thứ nhất: Nợ quá hạn trong thanh toán L/C của Ngân hàng TMCP Hàng hải
VN đang có xu hướng tăng.
Thứ hai: Việc thực hiện tỷ lệ ký quỹ bắt được thực hiện rất chặt chẽ nhưng
trong vài năm trở lại đây, tại MSB vẫn xảy ra thiệt hại trong việc bảo lãnh L/C nhập
hàng trả chậm cho một số doanh nghiệp mà sau đó các doanh nghiệp này làm ăn
thua lỗ, mất khả năng thanh toán hoặc đang ở trong vòng tố tụng. Trong những
trường hợp này, nếu MSB đứng ra trả tiền thay cho các doanh nghiệp đó thì mức độ
xảy ra rủi ro rất cao vì khả năng thu hồi được tiền là rất mỏng manh. Nhưng theo
quy định của L/C ngân hàng mở phải có trách nhiệm trả tiền cho người bán khi
người mua mất khả năng thanh toán. Vì vậy, để bảo vệ uy tín của mình và tuân thủ
luật lệ quốc tế, MSB đã phải đứng ra trả tiền cho một số L/C quá hạn. Tuy các
khoản vay này đều có thế chấp bằng tài sản cố định của các doanh nghiệp, nhưng lại
làm giảm khả năng cung cấp tín dụng cho các dự án đầu tư khác. Mặt khác, khả
năng thu hồi vốn cho vay chưa thực sự an toàn bởi tình hình tài chính - kinh doanh
của các doanh nghiệp nợ quá hạn thanh toán L/C thường không tốt.
Bên cạnh đó, tình trạng một số doanh nghiệp do có khó khăn về tài chính nên
không lo vốn được vốn để thanh toán khi các chứng từ phù hợp khá phổ biến. Họ
như UCP600 rất dễ dẫn đến khách hàng cơ hội lợi dụng lần sau và ảnh hưởng tới
mối quan hệ với ngân hàng bạn.
Bên cạnh đó, thời gian qua do biến động của thị trường giá cả, biến động của
tỷ giá hối đoái, do ảnh hưởng tồn kho của một số mặt hàng như xi măng, phân bón,
sắt, thép, đường , và do không tìm hiểu kỹ đối tác nên một số khách hàng đã không
thanh toán đúng hạn, phần nào ảnh hưởng đến uy tín của Ngân hàng.
Ngoài những nhân tố về thị trường, sự cố tình vi phạm của khách hàng cũng
dẫn đến rủi ro đáng lo ngại đối với ngân hàng. Trong quan hệ thanh toán xuất nhập
khẩu qua Ngân hàng thương mại hiện nay, bên cạnh những khách hàng biết giữ chữ
v
tín với bạn hàng, có tinh thần hợp tác, tôn trọng cam kết với ngân hàng phục vụ
mình thì vẫn còn có một số khách hàng chưa am hiểu về nghiệp vụ buôn bán ngoại
thương và thanh toán xuất nhập khẩu, kinh doanh theo thời vụ, tính lợi trước mắt.
Họ thường đưa ra những đề nghị trái nguyên tắc và trái thông lệ quốc tế. Chẳng hạn
như có khách hàng yêu cầu MSB phát hành bảo lãnh nhận hàng và chấp nhận thanh
toán kể cả khi chứng từ có sai sót, nhưng khi có sai sót lại yêu cầu ngân hàng không
thanh toán. Có trường hợp khách hàng không chịu thanh toán phần còn lại của lô
hàng để răn đe nhà cung cấp mặc dù công trình đã được nghiệm thu, bất chấp thông
lệ quốc tế. Với những khách hàng như thế Ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn để giữ
uy tín của mình.
Một số khách hàng nhập khẩu vì lợi ích riêng của doanh nghiệp đã bội ước
với ngân hàng, chây ỳ trong thanh toán. Hàng đã bán hết nhưng không trả tiền cho
ngân hàng mà mang tiền bán hàng sử dụng vào mục đích khác. Đến khi làm ăn thua
lỗ lại không thực hiện được cam kết với ngân hàng. Như vậy, rủi ro đạo đức cũng là
một loại rủi ro gây thiệt hại lớn đối với ngân hàng. Do đó, trong thời gian tới, yêu
cầu đặt ra đối với MSB là cần phải thận trọng và khách quan hơn nữa trong việc
đánh giá khách hàng của mình.
Việc vẫn xảy ra những rủi ro nói trên xuất phát từ các nguyên nhân sau:
Nguyên nhân chủ quan xuất phát từ chính Ngân hàng đó là: trình độ công nghệ
chưa đáp ứng kịp với tốc độ tăng của số lượng giao dịch; việc đào tạo đội ngũ
hiệu quả công tác thanh tra, giám sát ngân hàng, làm cơ sở cho việc xây dựng đề án
cải cách tổ chức và hoạt động thanh tra của Ngân hàng Nhà nước
Hoàn thiện hoạt động thông tin phòng ngừa rủi ro trong hoạt động TTQT cho
toàn bộ hệ thống NHTM. Xây dựng một hệ thống công nghệ đảm bảo thu thập được
những thông tin quản trị cần thiết cho NH, kịp thời làm cơ sở cho những quyết định
kinh doanh của Ngân hàng
Kiến nghị với Nhà nước: tiếp tục tạo sự ổn định về môi trường kinh tế vĩ mô;
không ngừng củng cố, phát triển và hoàn thiện hệ thống pháp lý , chính sách trong
TTQT; tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với hoạt động TTQT; tăng
vii
cường các biện pháp quản lý kỹ thuật an toàn trong thanh toán xuất nhập khẩu.
Nâng cao chất lượng phân tích tình hình tài chính và phát triển hệ thống cảnh báo
rủi ro. Cùng với bảo hiểm, Chính phủ phải là người tài trợ chính cho các biện pháp
phòng ngừa hạn chế rủi ro, bồi thường tổn thất trong thanh toán xuất nhập khẩu.
Tóm lại luận văn đã hoàn thành các nhiệm vụ chủ yếu sau:
Thứ nhất: Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về hạn chế rủi ro trong TTQT
Thứ hai: Luận văn đã đánh giá được thực trạng hạn chế rủi ro trong TTQT tại
Ngân hàng TMCP Hàng hải VN. Để từ đó xác định được những điểm yếu và
nguyên nhân trong việc hạn chế rủi ro trong hoạt động TTQT tại MSB
Thứ ba: Trên cơ sở những tồn tại, điểm yếu của việc hạn chế rủi ro trong
TTQT đã phân tích để đưa ra những biện pháp tăng cường hạn chế rủi ro trên cơ sở
định hướng hoạt động của Ngân hàng
Có thể nói để hạn chế, kiểm soát và quản lý trong rủi ro hoạt động của Ngân
hàng nói chung cũng như trong hoạt động TTQT của Ngân hàng nói riêng là việc
làm rất khó. Bên cạnh đó hoạt động thanh toán quốc tế của Ngân hàng thương mại
còn có tính chất phức tạp cả chiều rộng và chiều sâu cho nên luận văn khó tránh
khỏi những thiếu sót. Do vậy tác giả rất mong nhận được những đóng góp quý báu
để luận văn được hoàn thiện hơn.
viii
- Đối tượng nghiên cứu: Hạn chế rủi ro của Ngân hàng TMCP Hàng hải VN
trong hoạt động TTQT
- Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong hoạt động TTQT của Ngân hàng TMCP
Hàng Hải Việt Nam
3. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phương pháp hệ thống, tổng hợp, phân tích thông tin
kinh tế theo chỉ tiêu, phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu trên cơ sở các số
liệu thống kê của Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam năm 2007-2010. Ngoài ra
luận văn sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp hai chiều: đúc kết thành lý
luận trên cơ sở thực tiễn để nghiên cứu và từ lý luận để xem xét và đề xuất có
những ứng dụng phù hợp hơn trong thực tiễn.
4. Những đóng góp của luận văn:
Hệ thống hóa đầy đủ lý luận, thực tiễn và phân tích, đánh giá các rủi ro và đưa
ra một số các các biện pháp để tăng cường hạn chế rủi ro trong hoạt động thanh
toán quốc tế tại NHTM nói chung và Ngân hàng TMCP Hàng hải VN nói riêng
Giúp cho cán bộ TTQT, CBQL của Ngân hàng TMCP Hàng hải VN có một hệ
thống các biện pháp hạn chế rủi ro để đảm bảo cho hoạt động TTQT của ngân hàng
được an toàn và chất lượng
a - Tên luận văn: “Hạn chế rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân
hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam.
b- Bố cục luận văn: Bố cục luận văn gồm có 3 chương như sau
Chương 1: Cơ sở lý luận về hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế của Ngân
hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng hạn chế rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế tại
Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam
Chương 3: Các giải pháp tăng cường hạn chế rủi ro trong hoạt động thanh
toán quốc tế tại Ngân hàng TMCP hàng hải Việt Nam
2
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HẠN CHẾ RỦI RO
chức và cá nhân; các nguồn tiền quà biếu, trợ cấp của cá nhân người nước ngoài cho
cá nhân người trong nước, các nguồn trợ cấp của một tổ chức từ thiện nước ngoài
cho tổ chức, đoàn thể trong nước…
Các phương tiện thanh toán thông dụng: Hối phiếu, lệnh phiếu, séc, thẻ
thanh toán…
Ngày nay, TTQT là một dịch vụ ngày càng trở nên quan trọng đối với các
NHTM nói riêng và nền kinh tế nói chung. Nó là mắt xích quan trọng thúc đẩy các
hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng phát triển; đồng thời nó còn hỗ trợ, thúc
đẩy hoạt động kinh doanh khác của các doanh nghiệp phát triển.
1.1.1.2. Đặc điểm
Khác với thanh toán trong nước, TTQT có những đặc điểm riêng của mình.
Hành vi mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong TTQT diễn ra giữa các quốc gia
khác nhau, cách xa về địa lý, khác nhau về ngôn ngữ, phong tục tập quán vì thế mà
nó phức tạp hơn, nhiều rủi ro hơn. TTQT được hình thành và phát triển trên cơ sở
sự phát triển ngoại thương nó có đặc thù riêng mang những đặc điểm cơ bản sau:
- Chủ thể của hoạt động thanh toán quốc tế là đối tác của nhau, ở các quốc gia
khác nhau, chịu sự chi phối điều chỉnh của luật pháp ở các quốc gia khác nhau.
- Hoạt động TTQT chịu sự chi phối và điều chỉnh của luật pháp quốc tế. Do sự
khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa, phong tục tập quán, luật pháp nên dễ xảy ra tình
trạng không thống nhất cách hiểu và khi xảy ra tranh chấp thì khó có thể sử dụng
luật của quốc gia cụ thể nào để giải quyết tranh chấp mà phải dựa trên các quy định
pháp lý chung mang tính quốc tế như: Các điều kiện thương mại quốc tế (Incoterms
2000), Quy tắc thực hành thống nhất tín dụng chứng từ (Bản sửa đổi 1993, Phòng
Thương mại Quốc tế Paris UCP600), Quy tắc thống nhất về nhờ thu (1995 - URC
4
522) Tuy nhiên, một số nước có tập quán thanh toán riêng, có những quy định đặc
biệt về điều kiện thanh toán, chứng từ thanh toán. Vì vậy, các chủ thể tham gia vào
hoạt động TTQT nhất thiết phải xem xét đầy đủ mọi yếu tố có liên quan đến nghiệp
vụ ngoại thương mà mình thực hiện.
- Hoạt động TTQT tiềm ẩn nhiều rủi ro như: rủi ro kỹ thuật nghiệp vụ, rủi ro
(5) Ngân hàng trả tiền báo nợ tài khoản của Ngân hàng chuyển tiền
(6) Ngân hàng trả tiền báo có tài khoản người hưởng lợi
1.1.2.2. Phương thức nhờ thu
Phương thức thanh toán nhờ thu là một phương thức thanh toán trong đó
người bán sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng một dịch vụ cho
khách hàng, ủy thác cho ngân hàng của mình thu hộ số tiền ở người mua trên cơ sở
hối phiếu do người bán lập ra.
Đặc điểm của nhờ thu
- Phương thức nhờ thu dựa vào sự tín nhiệm của người bán đối với người mua
Ngân hàng chuyển tiền Ngân hàng trả tiền
5
Người yêu cầu Người hưởng lợi
1
3
4
62
6
- Người xuất khẩu có thể nhờ thu bằng hối phiếu ( nhờ thu trơn) hoặc bằng bộ
chứng từ (nhờ thu kèm chứng từ)
- Ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian, thực hiện theo chỉ dẫn, không chịu
trách nhiệm thanh toán và được hưởng phí dịch vụ
Các bên tham gia giao dịch thanh toán
- Người có yêu cầu ủy nhiệm thu (bên bán): Người bán hay người xuất khẩu
có trách nhiệm ký hợp đồng ngoại thương, giao hàng theo đúng hợp đồng, lập bộ
chứng từ đòi tiền, và gửi bộ chứng từ cùng chỉ dẫn nhờ thu tới ngân hàng nhờ thu
đòi tiền
- Người trả tiền (người mua): có trách nhiệm thanh toán bộ chứng từ (hối
phiếu) trả ngay (D/P) hoặc chấp nhận hối phiếu trả chậm (D/A) theo thông báo của
ngân hàng nhờ thu, nhận chứng từ để đi nhận hàng và thanh toán hối phiếu trả chậm
khi đến hạn
(1) Giao hàng.Nếu nhờ thu trơn thì Người xuất khẩu giao hàng và chứng từ trực tiếp
cho người nhập khẩu. Còn trong nhờ thu kèm chứng từ Người nhập khẩu muốn
nhận hàng thì phải trả tiền mới được Ngân hàng trao chứng từ để đi nhận hàng
(2) Lập bộ chứng từ thanh toán nhờ thu: Lệnh nhờ thu kèm với hối phiếu và các
chứng từ thương mại ủy thác cho Ngân hàng đại lý thu hộ tiền: Thư nhờ thu kèm
chứng từ thương mại
(3) Ủy thác cho Ngân hàng đại lý thu hộ tiền: Thư nhờ thu kèm chứng từ thương mại
(4) Xuất trình hối phiếu đòi tiền và yêu cầu thực hiện các điều kiện nhờ thu: D/P,
D/A, D/TC
(5) Người trả tiền chấp nhận hay từ chối thanh toán
8
Ngân hàng chuyển
Remitting Bank
Ngân hàng thu
Collecting Bank
Người hưởng lợi
Principal
Người trả tiền
Drawee
(6) Ngân hàng thu thông báo chấp nhận hay từ chối thanh toán
(7) Ngân hàng chuyển thông báo chấp nhận hay từ chối thanh toán
1.1.2.3. Phương thức tín dụng chứng từ
Theo phương thức này thì một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng), theo
yêu cầu của khách hàng (bên yêu cầu mở thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định
cho một người khác (người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối
phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho
ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những qui định của thư tín dụng.
Thư tín dụng là một bản cam kết dùng trong thanh toán trong đó một ngân
hàng theo yêu cầu của người nhập khẩu tiến hành mở và chuyển đến cho chi nhánh
hay đại lý của ngân hàng này ở nước ngoài một L/C cho người hưởng lợi cam kết sẽ
(6) Ngân hàng phát hành thông báo kết qua kiểm tra chứng từ cho Người yêu cầu
(7) Người yêu cầu chấp nhận hay từ chối thanh toán
(8) Ngân hàng phát hành thông báo chấp nhận hay từ chối nhận chứng từ
Các bên tham gia trong phương thức tín dụng chứng từ gồm có
Ngân hàng thông báo
Advising Bank
Ngân hàng phát hành
Issuing Bank
Người yêu cầu
Applicant
Chi nhánh NHPH
Applicant Bank
Người hưởng lợi
Beneficiary
8
5 3
8
5
2
1
4
1 6 7
1 6 7
10
- Người xin mở thư tín dụng là người mua người nhập khẩu hàng hóa hoặc là
người mua ủy thác cho một người khác
- Ngân hàng mở thư tín dụng là ngân hàng đại diện cho người nhập khẩu
- Người hưởng lợi thư tín dụng là người bán, người xuất khẩu hay bất cứ
người nào khác mà người hưởng lợi chỉ định
- Ngân hàng thông báo thư tín dụng là ngân hàng ở nước người hưởng lợi
- Đây là phương thức thanh toán khá phức tạp, diễn ra nhiều công đoạn nên
cần nhiều thời gian, nhân lực
- Đối với nhà nhập khẩu: Người nhập khẩu phải ký quỹ mở L/C nên sẽ bị ứ
đọng vốn. Nhà nhập khẩu có thể gặp rủi ro nếu người xuất khẩu có hành vi lừa dối
trong việc giao hàng. Ngoài ra hình thức thanh toán này phức tạp nên ngân hàng thu
phí cao vì đó nhà nhập khẩu sẽ phải chịu tốn kém
- Đối với nhà xuất khẩu: chỉ cần một sơ suất nhỏ trong việc lập chứng từ thì
người xuất khẩu có thể bị từ chối thanh toán
1.1.2.4. Phương thức ứng trước
Nhà nhập khẩu chấp nhận giá hàng của nhà xuất khẩu và chuyển thanh toán
cùng với đơn đặt hàng khi hàng hóa được chắc chắn (không hủy ngang), nghĩa là
việc thanh toán xảy ra trước khi hàng hóa được chở đi.
- Rủi ro trong phương thức ứng trước:
+ Rủi ro đối với nhà xuất khẩu:
Nếu nhà nhập khẩu không thực hiện thanh toán trước, thì nhà xuất khẩu phải
chịu chi phí quản lý, chi phí lưu kho, tiền bảo hiểm, hoặc phải chở hàng trở về (nếu
hàng đã gửi đi), và tìm khách hàng mua khác rất tốn kém hay phải giảm giá.
+ Rủi ro đối với nhà nhập khẩu: Phương thức này đảm bảo cho nhà xuất khẩu
nhận thanh toán trước khi giao hàng, ngược lại đối với nhà nhập khẩu phải gánh
chịu những rủi ro: Hàng bị chủ tâm không giao hoặc được giao không đúng số
lượng, chất lượng của hợp đồng; hàng giao trễ hơn so với qui định; nhà xuất khẩu
không giao hàng trong trường hợp nhà xuất khẩu bị phá sản, hoặc không có hàng để
giao, hoặc khi giá cả thị trường đang có xu hướng tăng giá nhà xuất khẩu sẽ bán lô
hàng này cho người khách hàng khác và chấp nhận khoảng phạt trong hợp đồng nếu
12
thấy vẫn có lợi cho mình; không kiểm soát được việc hàng hóa có được bảo hiểm
đầy đủ trong quá trình vận chuyển hay không?
Do phải thanh toán trước, nhà nhập khẩu có thể phải chịu áp lực về tài chính.
Tình hình sẽ xấu hơn, nếu hàng hóa đến chậm hoặc bị khiếm khuyết thì điều này
ngăn cản nhà nhập khẩu bán hàng thu hồi tiền và làm cho lợi nhuận có thể giảm.