MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Những chỉ tiêu cơ bản về hoạt động kinh doanh qua các năm 2007-2010 Error:
Reference source not found
Bảng 2.2: Tình hình huy động vốn qua các năm từ 2007-2010 Error: Reference
source not found
Bảng 2.3: Doanh thu kinh doanh ngoại hối từ 2008 đến 2010 Error: Reference
source not found
Bảng 2.4: Doanh thu cung ứng dịch vụ Ngân hàng từ 2008-2010 Error: Reference
source not found
Bảng 2.5 : Doanh số của dịch vụ chuyển tiền qua các năm 2007 - 2010 Error:
Reference source not found
Bảng 2.6: Doanh số của nghiệp vụ nhờ thu các năm 2007 - 2010 Error: Reference
source not found
Bảng 2.7: Doanh số của nghiệp vụ tín dụng chứng từ các năm 2007 - 2010 Error:
Reference source not found
Bảng 3.1: kế hoạch hoạt động kinh doanh và ngân sách tài chính năm 2011 Error:
Reference source not found
DANH MỤC SƠ ĐỒ
1.2.2.1. Chỉ tiêu về định mức ký quỹ 27
1.2.2.2. Chỉ tiêu về cho vay bắt buộc 28
1.2.2.3. Chỉ tiêu về nợ quá hạn 29
2.2.1.2 Nghiệp vụ nhờ thu 44
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nguyên văn
MSB Ngân hàng TMCP Hàng hải VN
TTQT Thanh toán quốc tế
NHPH Ngân hàng phát hành
NHTB Ngân hàng thông báo
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay khi xu hướng toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ giữa các quốc gia
1. Mục đích và ý nghĩa của đề tài:
Đề tài làm sáng tỏ các rủi ro thường gặp trong thanh toán quốc tế; việc hạn chế
rủi ro trong TTQT của NHTM, đặc biệt đi sâu vào phân tích rủi ro các phương thức
thanh toán quốc tế dưới góc độ các bên tham gia trong quá trình thanh toán xuất
nhập khẩu đặc biệt là rủi ro đối với ngân hàng. Trên cơ sở nhận dạng, phân tích, so
sánh từ thực trạng sẽ rút ra những rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế cũng
như việc hạn chế rủi ro trong hoạt động TTQT tại Ngân hàng TMCP Hàng hải VN.
Căn cứ vào những tổng hợp rủi ro, những kết quả đạt được và những điểm yếu của
việc hạn chế rủi ro trong hoạt động TTQT của Ngân hàng TMCP Hàng hải VN để
đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường việc hạn chế rủi trong các phương
thức thanh toán quốc tế tại MSB
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hạn chế rủi ro của Ngân hàng TMCP Hàng hải
VN trong hoạt động TTQT
- Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong hoạt động TTQT của Ngân hàng
TMCP Hàng Hải Việt Nam
3. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phương pháp hệ thống, tổng hợp, phân tích thông tin
kinh tế theo chỉ tiêu, phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu trên cơ sở các số
liệu thống kê của Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam năm 2007-2010. Ngoài ra
luận văn sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp hai chiều: đúc kết thành lý
luận trên cơ sở thực tiễn để nghiên cứu và từ lý luận để xem xét và đề xuất có
những ứng dụng phù hợp hơn trong thực tiễn.
4. Những đóng góp của luận văn:
Hệ thống hóa đầy đủ lý luận, thực tiễn và phân tích, đánh giá các rủi ro đối
với các bên liên quan trong các phương thức thanh toán quốc tế trong bối cảnh nền
kinh tế hội nhập.
2
Đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường hạn chế rủi ro hoạt động thanh toán
xuất nhập khẩu nói chung và trong các phương thức thanh toán quốc tế nói riêng
tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với
tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan.
Dưới giác độ kinh tế, thanh toán quốc tế bao gồm hai lĩnh vực: thanh toán mậu
dịch và thanh toán phi mậu dịch.
Thanh toán mậu dịch là việc thực hiện thanh toán trên cơ sở hàng hoá xuất
nhập khẩu (XNK) và các dịch vụ thương mại cung ứng cho nước ngoài theo giá cả
thị trường quốc tế. Cơ sở để các bên tiến hành mua bán và thanh toán cho nhau là
hợp đồng ngoại thương, quy định rõ vai trò, trách nhiệm của mỗi bên, phương thức
thanh toán, đồng tiền thanh toán, điều kiện thương mại Các bên có liên quan sẽ bị
ràng buộc với nhau theo các hợp đồng đã ký kết hoặc cam kết thương mại.
Thanh toán phi mậu dịch là việc thực hiện thanh toán các hoạt động không
mang tính chất thương mại - không liên quan đến hàng hoá xuất nhập khẩu cũng
4
như cung ứng lao vụ cho nước ngoài. Đó là việc chi trả các chi phí của các cơ quan
ngoại giao ở nước ngoài, các chi phí đi lại, ăn ở của các đoàn khách nhà nước, tổ
chức và cá nhân; các nguồn tiền quà biếu, trợ cấp của cá nhân người nước ngoài cho
cá nhân người trong nước, các nguồn trợ cấp của một tổ chức từ thiện nước ngoài
cho tổ chức, đoàn thể trong nước…
Các phương tiện thanh toán thông dụng: Hối phiếu, lệnh phiếu, séc, thẻ thanh
toán…
Ngày nay, TTQT là một dịch vụ ngày càng trở nên quan trọng đối với các
NHTM nói riêng và nền kinh tế nói chung. Nó là mắt xích quan trọng thúc đẩy các
hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng phát triển; đồng thời nó còn hỗ trợ, thúc
đẩy hoạt động kinh doanh khác của các doanh nghiệp phát triển.
1.1.1.2.Đặc điểm
Khác với thanh toán trong nước, TTQT có những đặc điểm riêng của mình.
Hành vi mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong TTQT diễn ra giữa các quốc gia
khác nhau, cách xa về địa lý, khác nhau về ngôn ngữ, phong tục tập quán vì thế mà
nó phức tạp hơn, nhiều rủi hơn. Khi thực hiện giao dịch ngoại thương, người bán
hoàn toàn có thể gặp rủi ro như mất hàng hóa, không được thanh toán hoặc chậm
ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho nhà xuất khẩu (nguời hưởng lợi)
ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền do nhà nhập khẩu quy định
Phương thức chuyển tiền có thể là một bộ phận của phương thức thanh toán
khác như: phương thức nhờ thu, tín dụng dự phòng, tín dụng chứng từ nhưng có thể
là một phương thức thanh toán độc lập
Thực tế nhà nhập khẩu sẽ không chuyển tiền hàng cho nhà xuất khẩu cho đến
khi nhận đầy đủ hàng. Đây là một lợi thế của nhà nhập khẩu nhưng lại là rủi ro của
nhà xuất khẩu khi hàng hóa đã được chuyển giao nhưng tiền hàng không được
thanh toán, bị chậm trễ thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ. Tuy vậy bên nhập
khẩu cũng có thể gánh chịu rủi ro như: thanh toán rồi nhưng hàng giao chậm, nhận
hàng không đúng quy cách, phẩm chất, không đúng thời hạn giao hàng
6
Sơ đồ 1.3: Quy trình nghiệp vụ thanh toán chuyển tiền
(1) Người hưởng lợi thực hiện nghĩa vụ quy định trong hiệp định, hợp
đồng hoặc các thỏa thuận
(2) Người yêu cầu chuyển tiền ra lệnh cho Ngân hàng của nước mình
chuyển ngoại tệ ra bên ngoài
(3) Ngân hàng chuyển tiền báo nợ tài khoản của Người yêu cầu chuyển
tiền
(4) Ngân hàng chuyển tiền phát lệnh thanh toán cho Ngân hàng của
người hưởng lợi
(5) Ngân hàng trả tiền báo nợ tài khoản của Ngân hàng chuyển tiền
(6) Ngân hàng trả tiền báo có tài khoản người hưởng lợi
1.1.2.2. Phương thức nhờ thu
Phương thức thanh toán nhờ thu là một phương thức thanh toán trong đó
người bán sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng một dịch vụ cho
khách hàng, ủy thác cho ngân hàng của mình thu hộ số tiền ở người mua trên cơ sở
hối phiếu do người bán lập ra.
Ngân hàng chuyển tiền Ngân hàng trả tiền
5
- Người ủy thác thu (người hưởng lợi)
- Ngân hàng ở nước người ủy thác
- Ngân hàng nhờ thu
- Người trả tiền ( người bị ký phát)
Các công cụ thanh toàn thường gồm có:
8
- Hối phiếu thương mại
- Kỳ khiếu thương mại
- Séc quốc tế
- Hóa đơn thu tiền
Thứ hai: Nhờ thu kèm chứng từ
Phương thức nhờ thu kèm chứng từ là một trong các phương thức thanh toán
áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà trong đó nhà xuất khẩu ủy
thác cho ngân hàng thu hộ tiền trên công cụ thanh toán với điều kiện sẽ giao chứng
từ cho nhà nhập khẩu thanh toán, chấp nhận thanh toán hoặc thực hiện các điều kiện
khác đã quy định
Đối với phương thức này nhà xuất khẩu không giao trực tiếp chứng từ cho nhà
nhập khẩu. Nhà nhập khẩu phải trả tiền thì Ngân hàng mới giao chứng từ để mang
chứng từ đi nhận hàng. Như vậy, phương thức này bảo vệ được lợi ích của nhà xuất
khẩu, tránh được tình trạng bị nhà nhập khẩu chiếm dụng vốn, chậm thanh toán,
thanh toán không đầy đủ hoặc từ chối thanh toán.
Trình tự tiến hành nghiệp vụ
Quy trình Sơ đồ 1.1: nghiệp vụ nhờ thu kèm chứng từ
6
3
7 2 4 5
1
(1) Giao hàng.Nếu nhờ thu trơn thì Người xuất khẩu giao hàng và chứng từ trực
tiếp cho người nhập khẩu. Còn trong nhờ thu kèm chứng từ Người nhập khẩu muốn
nhận hàng thì phải trả tiền mới được Ngân hàng trao chứng từ để đi nhận hàng
thư tín dụng đã chuyển trách nhiệm thanh toán từ nhà nhập khẩu sang ngân hàng
bảo đảm xuất khẩu giao hàng và nhận tiền an toàn, nhanh chóng, nhà nhập khẩu
nhận được hóa đơn vận chuyển hàng đúng hạn. Vì vậy, ở một mức độ nhất định L/C
là phương thức cân bằng được lợi ích của cả hai bên xuất khẩu và nhập khẩu giải
quyết được mâu thuẫn không tín nhiệm nhau của cả hai bên. Vì vậy phương thức
này được sử dụng phổ biến trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế. Đây là một
phương thức khá an toàn tuy nhiên trong quá trình áp dụng các bên cần lưu ý các
đặc điểm pháp lý sau đây của thư tín dụng để tránh áp dụng sai
10
Về bản chất: L/C là một khế ước độc lập vói hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế (hợp đồng cơ sở): L/C được hình thành trên cở sở hợp đồng cơ sở nhưng khi
được phát hành nó hoàn toàn độc lập với hợp đồng cơ sở. Ngân hàng mở thư tín
dụng và các ngân hàng khác tham dự vào nghiệp vụ thư tín dụng chỉ làm theo quy
định của thư tín dụng
Ngân hàng có nghĩa vụ thanh tóan cho nhà xuát khẩu khi họ xuất trình được
các chứng từ phù hợp với các điều kiện và điều khoản quy định trong L/C. Ngân
hàng không được lấy lý do bên mua chưa nhận được hàng đẻ từ chối thanh toán nếu
chúng từ mà bên bán xuất trình phù hợp với các điều kiện và điều khoản quy định
trong L/C
Sơ đồ 1.2: Quy trình nghiệp vụ thanh toán tín dụng chứng từ
(1) Gửi đơn yêu cầu phát hành thư tín dụng và tiến hành ký quỹ
(2) Phát hành L/C qua Ngân hàng đại lý cho Người xuất hưởng lơi
Ngân hàng thông báo
Advising Bank
Ngân hàng phát hành
Issuing Bank
Người yêu cầu
Applicant
Chi nhánh NHPH
Applicant Bank
- Thư tín dụng không thể huỷ ngang: là loại thư tín dụng mà sau khi được mở
thì người yêu cầu mở L/C sẽ không được tự sửa đổi, bổ sung hay hủy bỏ những nội
dung của nó nếu không được sự đồng ý của người thụ hưởng L/C
- Thư tín dụng không thể hủy ngang có xác nhân
- Thư tín dụng không thể hủy ngang có thể chyển nhượng
- Thư tín dụng giáp lưng
- Thư tín dụng đối ứng
- Thư tín dụng tuần hoàn
- Thư tín dụng điều khoản đỏ
- Thư tín dụng dự phòng
Ưu điểm của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
12
- Đây là một phương thức thanh toán có quy trình chặt chẽ nhằm đảm bảo
quyền lợi cho các bên trực tiếp tham gia
- Đối với người xuất khẩu: Vì L/C là cam kết trả tiền của ngân hàng nên trong
mọi trường hợp khi người xuất khẩu đã thực hiện đầy đủ quy định trong L/C thì
chắc chắn nhận được tiền hàng hóa. Mặt khác người xuất khẩu có thể sử dụng L/C
như một phương thức tài trọ khi dung bộ chứng từ hàng hóa xuất khẩu để chiết khấu
bộ chứng từ hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu L/C
- Đối với người nhập khẩu: có thể nhận đưocự hàng hóa theo đúng quy định
đã thỏa thuận trong hợp đồng ngoại thương về chất lượng, số lượng và thời gian
giao hàng
- Đối với ngân hàng: có thu nhập dưới hình thưc thủ thục phí. Đồng thời có
điều kiện mở rộng các dịch vụ ngân hàng khác nhờ vào mối quan hệ giữa ngân hàng
và khách hàng
Nhược điểm
- Đây là phương thức thanh toán khá phức tạp, diễn ra nhiều công đoạn nên
cần nhiều thời gian, nhân lực
- Đối với nhà nhập khẩu: Người nhập khẩu phải ký quỹ mở L/C nên sẽ bị ứ
đọng vốn. Nhà nhập khẩu có thể gặp rủi ro nếu người xuất khẩu có hành vi lừa dối
Phương thức ghi sổ là phương thức thanh toán trong đó người bán mở một tài
khoản để ghi nợ người mua sau khi người bán đã hoàn thành giao hàng hay dịch vu,
đến từng định kỳ (tháng, quý, nửa năm) người mua trả tiền cho người bán.
Đây thực chất là hình thức mua bán chịu. Phương thức này áp dụng trong mua
bán hàng hóa quốc tế như sau: Nhà xuất khẩu (người ghi sổ) sau khi hoàn thành
nghĩa vụ của mình (thường là nghĩa vụ giao hàng) quy định trong hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế (hợp đồng cơ sở) sẽ mở một quyển sổ nợ để ghi nợ
Nhà nhập khẩu ( người được ghi sổ) bằng một đơn vị tiền tệ nhất định và đến
từng ký nhất định do hai bên thỏa thuận, sử dụng phương thức chuyển tiến thanh
toán cho người ghi sổ
14
Sơ đồ 1.3: Quy trình nghiệp vụ thanh toán theo phương thức ghi sổ
(1) Người ghi sổ cung ứng dịch vụ và mở sổ cái ghi nợ Người được ghi sổ
(2) Người được ghi sổ yêu cầu ngân hàng của mình để thanh toán theo định kỳ
(3) Ghi nợ tài khoản Người được ghi sổ
(4) Phát lệnh chuyển tiền cho Ngân hàng trung gian
(5) Ngân hàng trung gian báo nợ tài khoản Ngân hàng chuyển tiền
(6) Ngân hàng trung gian báo có tài khoản Người ghi sổ
Phương thức ghi sổ hoàn toàn có lợi cho nhà nhập khẩu ( người được ghi sổ).
Nhà xuất khẩu sẽ phải gánh rủi ro khi bên nhập khẩu không thanh toán hoặc thanh
tóan chậm trrẻ hoặc thanh toán không đầy đủ
Để hạn chế rủi ro, chỉ áp dụng phương thức này khi cả hai bên là các bạn hàng
có mối quan hệ làm ăn lâu dài, thực sự tin cậy lẫn nhau. Để bảo đảm an toàn cho
nhà xuất khẩu, các bên có thể áp dụng biện pháp bảo đảm như thư bảo lãnh
1.2. Hạn chế rủi ro trong TTQT của Ngân hàng thương mại
1.2.1. Rủi ro trong TTQT của NHTM
1.2.1.1. Khái niệm rủi ro trong TTQT
Ngân hàng nước người
ghi sổ
Người ghi sổ Người được ghi sổ
ghi trong hợp đồng, do tỷ giá biến động…
NHTM là trung gian cung cấp các dịch vụ thanh toán cho khách hàng bên
cạnh thu được một mức lợi nhuận thì cũng phải gánh chịu hàng loạt những rủi ro.
Rủi ro trong TTQT đối với NHTM có thể là thiệt hại xảy ra do không thu hồi được
vốn, phát sinh những khoản chi phí không cần thiết hay là những yếu tố làm giảm
uy tín của ngân hàng. Rủi ro thanh toán quốc tế thường bao gồm một trong các loại
rủi ro sau: rủi ro tác nghiệp, rủi ro ngoại hối, rủi ro quan hệ đại lý,….
16
1.2.1.2. Các loại rủi ro chủ yếu trong TTQT
(1) Rủi ro tác nghiệp
Rủi ro tác nghiệp là rủi ro do sai sót trong khi tiến hành các hoạt động nghiệp
vụ TTQT, có thể do con người hoặc sự cố kỹ thuật gây nên.
Trong thanh toán chuyển tiền:
Rủi ro xảy ra trong các trường hợp ngân hàng thao tác nghiệp vụ sai, như
chuyển tiền sai địa chỉ – có thể xảy ra giữa ngân hàng chuyển và ngân hàng thanh
toán hoặc giữa ngân hàng thanh toán với người hưởng.
Trong thanh toán nhờ thu
Ngân hàng nhờ thu thực hiện sai chỉ thị nhờ thu của nhà xuất khẩu nước ngoài.
Nguyên nhân có thể là khách quan cũng có thể là do chủ quan, nhưng phần lớn
thuộc về chủ quan của ngân hàng. Hậu quả hết sức nghiêm trọng là NH phải có
nghĩa vụ trả thay cho nhà nhập khẩu trong khi về bản chất thì trách nhiệm thanh
toán chỉ thuộc về nhà nhập khẩu.
Ngân hàng không bảo quản nguyên trạng chứng từ. Trong nhờ thu kèm chứng
từ, ngân hàng thu hộ có trách nhiệm khống chế bộ chứng từ hàng hoá cho tới thời
điểm nhà nhập khẩu làm thủ tục thanh toán. Trong suốt thời gian đó, ngân hàng có
trách nhiệm bảo quản nguyên trạng bộ chứng từ. Rủi ro sẽ xảy ra với ngân hàng
nếu NH không thể thực hiện được việc này.
Trong thanh toán tín dụng chứng từ
Nếu như trong thanh toán chuyển tiền và thanh toán nhờ thu ngân hàng chỉ giữ
vai trò trung gian thanh toán và hưởng phí thanh toán thì trong phương thức tín
Ngân hàng phát hành còn gặp rủi ro khi tiến hành kiểm tra bộ chứng từ. Rủi ro sẽ
xảy ra nếu bộ chứng từ không được kiểm tra cẩn thận mà vẫn tiến hành thanh toán
và trên thực tế đã có những bộ chứng từ giả, đặc biệt là vận đơn giả được gửi tới
ngân hàng. Ngân hàng phát hành cũng có thể gặp rủi ro đối với những bộ chứng từ
có sai sót như: ghi theo lệnh không đúng tên người nhận làm cho việc nhận hàng bị
18
chậm trễ, tăng chi phí lưu kho bãi, gây thiệt hại cho cả ngân hàng nếu ngân hàng
tiến hành tài trợ cho nhà nhập khẩu. Hoặc, NH vẫn tiến hành thanh toán cho bộ
chứng từ không hoàn hảo và sau đó không thể đòi tiền nhà nhập khẩu…Cũng có
trường hợp, ngân hàng phát hành phát hiện ra bộ chứng từ có lỗi, nhưng lại thông
báo từ chối thanh toán chậm (theo UCP600 là chậm hơn 5 ngày làm việc của ngân
hàng) do sự tắc trách, cẩu thả của cán bộ ngân hàng dẫn đến bị mất quyền từ chối
thanh toán.
(2) Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là rủi ro mất khả năng thanh toán hoặc chậm trả của một trong các
bên tham gia vào thanh toán quốc tế, đặc biệt trong phương thức tín dụng chứng từ.
Rủi ro tín dụng từ phía nhà nhập khẩu
Trong trường hợp NHPH phát hành L/C không yêu cầu nhà Nhập khẩu ký quỹ
100%, mặt khác còn tiến hành tài trợ cho vay, nếu nhà Nhập khẩu bị vỡ nợ, phá sản,
mất khả năng thanh toán sẽ gây rủi ro cho Ngân hàng. Sau khi ngân hàng phát hành
đã trả tiền cho nhà xuất khẩu mà nhà nhập khẩu không thể trả đầy đủ tiền cho ngân
hàng phát hành, hoặc không thể trả đúng hạn (do gặp khó khăn trong hoạt động sản
xuất kinh doanh, do phá sản, do bị phong toả tài sản) thì rủi ro xảy ra. Đây là rủi ro
trong thanh toán hàng nhập là rủi ro thường gặp nhất trong số các rủi ro tín dụng.
Mặc dù trên vận đơn luôn ghi rõ: ký phát theo lệnh của ngân hàng phát hành,
nhưng nếu rủi ro xảy ra, việc bán số hàng nhập khẩu để thu hồi lại số tiền đã chi trả
đối với ngân hàng phát hành là việc không đơn giản, sẽ gây không ít khó khăn, tổn
thất cho Ngân hàng phát hành.
Rủi ro tín dụng từ phía nhà xuất khẩu
Rủi ro thường xảy ra trong trường hợp Ngân hàng chiết khấu thực hiện chiết
dẫn tới phá sản theo.
(5) Rủi ro pháp lý
Rủi ro pháp lý là rủi ro do thực hiện các giao dịch không đúng luật gây nên tổn
thất, kiện cáo của các bên tham gia TTQT, bao gồm rủi ro về chính sách, rủi ro
20
trong quá trình áp dụng, thực thi các quy định trong và ngoài nước.
(6) Rủi ro chính sách là loại rủi ro liên quan đến pháp luật, chính sách tỷ giá,
lãi suất, thông lệ quốc tế, các rào cản thương mại như chống bán phá giá, thuế quan,
hạn ngạch…
- Pháp luật và chính sách liên quan tới hoạt động TTQT
Hành lang pháp lý đồng bộ có tác dụng thúc đẩy hoạt động thương mại và
thanh toán quốc tế. Nhưng ngược lại, sự chưa hoàn chỉnh của hành lang pháp lý tạo
nên sự bị động, không có cơ sở để giải quyết các tranh chấp, quyền lợi của các bên
không được bảo vệ.
- Thông lệ và tập quán quốc tế
Thông lệ và tập quán quốc tế chỉ là những văn bản quy phạm pháp luật tuỳ ý,
chỉ có hiệu lực khi trong hợp đồng dẫn chiếu và khi đó chúng trở thành văn bản
pháp lý bắt buộc thực hiện. Các bên tham gia hợp đồng có thể loại trừ, bổ sung hay
sửa đổi các điều khoản trong đó. Tính tuỳ ý chính là rủi ro tiềm ẩn cho các bên tham
gia khi thiếu thận trọng.
Mặt khác, các thông lệ và tập quán quốc tế được ICC phát hành bằng tiếng
Anh, sử dụng nhiều thuật ngữ khó hiểu, nghĩa của các thuật ngữ khác với nghĩa
thường dùng. Người sử dụng có nhiều cách hiểu khác nhau, áp dụng không giống
nhau từ đó có thể dẫn đến sự không thống nhất và có thể xảy ra tranh chấp.
- Các rào cản hoạt động thương mại
Đây là những thay đổi có chủ ý của một số quốc gia trong chính sách thương
mại và những biện pháp áp đặt bất thường của họ đối với hàng hoá nhập khẩu của
các quốc gia khác. Đây là một rào cản thương mại trá hình trong điều kiện hội nhập
kinh tế quốc tế. Họ có thể đột ngột áp đặt một mức thuế chống bán phá giá rất cao
đối với một số mặt hàng của một hay một nhóm nước xuất khẩu vào nước họ. Trong
pháp luật và tập quán kinh doanh khác nhau, vì vậy việc đánh giá và dự đoán được
các loại rủi ro pháp lý là rất cần thiết.
Rủi ro pháp lý là một trong những rủi ro khó phòng ngừa, trên thực tế nếu xảy
ra thì thiệt hại thường rất lớn và gây ảnh hưởng nặng nề. Đặc biệt khi hội nhập càng
trở nên sâu rộng, TTQT chịu ảnh hưởng tác động của nhiều quốc gia hơn thì loại rủi
22