HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ-HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
______________________
BÁO CÁO
TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ NĂM 2010
Mã số: B.10-18 Tên đề tài: QUYỀN TIẾP CẬN VĂN HOÁ
TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY Cơ quan chủ trì: Viện Nghiên cứu Quyền con người
Chủ nhiệm đề tài: TS, Hoàng Văn Nghĩa
Thư ký đề tài: CN Trần Thị Hồng Hạnh ii
MỤC LỤC
Trang
MỘT SỐ TỪ VIẾT TẮT v
MỞ ĐẦU 1
Chương I. Lý luận chung về văn hóa và phát triển, quyền con
ngươi và quyền tiếp cận văn hoá
16
1.1. Khái luận chung về văn hóa, phát triển và quyền con người 16
1.2. Quyền văn hóa và quyền tiếp cận văn hóa
1.3. Quyền tiếp cận văn hoá trong xã hội hiện đại
18
27
1.4. Tiếp cậ
n văn hóa với tư cách là một quyền cơ bản của con người
1.5. Văn hóa trong phát triển và phát triển bền vững
1.6. Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận văn hóa với phát triển
30
32
Chương II. Quyền tiếp cận văn hoá trong hệ thống pháp luật quốc
tế và bối cảnh hiện nay
47
2.1. Quyền tiếp cận văn hoá trong hệ thống pháp luật quốc t
ế
2.1.1. Sự phát triển của khái niệm quyền tiếp cận văn hóa
57
63
Chương III. Quan điểm, chính sách của Đảng và pháp luật của
Nhà nước về văn hóa và quyền tiếp cận văn hóa
3.1. Một số quan điểm và chính sách cơ bản của Đảng ta về văn hóa và
68
69
iii
quyền tiếp cận văn hóa
3.1.1. Chính sách văn hoá
3.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về văn hóa
3.1.3. Chính sách phát triển văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội
nhập quốc tế
3.2. Quyền tiếp cận văn hóa trong hệ thống pháp luật Việt Nam
3.2.1. quyền tiếp cận văn hóa trong Hiến pháp
3.2.2. quyền tiếp cận văn hóa trong các Bộ Luật và Luật cơ bản
3.3. Quyề
n tiếp cận thông tin trong hệ thống pháp luật Việt Nam
73
73
77
87
87
88
trong quá trình phát triển ở nước ta hiện nay
4.5.1. Thành tựu bảo đảm QTCVH trong thời kỳ đổi mới ở nước ta
100
100
102
103
105
106
108
109
111
113 113
116
118
122
122
iv
4.5.2. Một số khó khăn, thách thức trong việc thực hiện quyền tiếp cận
văn hóa
131
Chương V. Một số giải pháp nhằm tăng cường việc bảo đảm và
v
MỘT SỐ TỪ VIẾT TẮT
ACHR: Ủy ban Liên chính phủ (ASEAN) về quyền con người
ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam châu Á
BĐVHX: Bưu điện văn hóa xã
CNH, HĐH: Công nghiệp hóa và hiện đại hóa
ĐHĐ LHQ: Đại hội đồng Liên hợp quốc
EU: Liên minh châu Âu
AU: Liên minh châu Phi
HĐND: Hội đồng Nhân dân
ICCPR: Công ước quốc tế về các quyền dân sự-chính trị
(ĐHĐ LHQ thông qua năm 1966)
ICESCR: Công ước quố
c tế về các quyền kinh tế-xã hội và văn hóa
(ĐHĐ LHQ thông qua năm 1966)
ICT: Công nghệ thông tin và truyền thông
KGM: Không gian mở
KT-XH, VH: Kinh tế, xã hội và văn hóa
KTTT: Kinh tế thị trường
KHCN : Khoa học Công nghệ
LHQ: Liên hợp quốc
PT: phát triển
ụ đời sống văn hoá, đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển.
Văn hoá là một trong 4 thành tố cơ bản của sự phát triển bền vững
1
. Phát triển
suy đến cùng chính là nhằm giải phóng mọi năng lực vốn có của các cá nhân, nhờ
đó giải phóng triệt để sức sản xuất của xã hội, thúc đẩy tiến bộ xã hội, đảm bảo và
hiện thực hoá các quyền và tự do cơ bản của tất cả mọi người. Theo ý nghĩa đó,
phát triển đích thực là phát triển là định hướng vào sự phát triển tự do, hoàn thiện
nhân cách v
ăn hoá của mỗi cá nhân con người. Quyền và tự do cơ bản của con
người do đó vừa là động lực trực tiếp và vừa là mục tiêu của quá trình phát triển.
Trong các quyền con người, quyền tiếp cận văn hoá là một trong những quyền cơ
bản và đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển và hoàn thiện nhân
cách cá nhân của mỗi người, cũng như trong việc xác lập và sáng tạo giá trị văn
hoá c
ủa cộng đồng người và của dân tộc, quốc gia dân tộc.
Quá trình phát triển của xã hội, đặc biệt là ở những thời kỳ quá độ, luôn vừa
tạo ra những thời cơ và những thách thức đối với cá nhân trong việc thụ hưởng các
thành quả phát triển. Những nhóm người dễ bị tổn thương, người nghèo thường là
những đối tượng khó tiếp cận được các giá trị văn hoá trong quá trình phát triể
n.
Quy luật vận động của nền kinh tế thị trường luôn có xu hướng lấy lợi nhuận và sự
phát triển kinh tế là mục tiêu hàng đầu, do đó nó gạt bên lề những giá trị cơ bản
vốn là nền tảng phát triển bền vững của xã hội như văn hoá, quyền của những
nhóm dễ bị tổn thương, của người nghèo,…
Quyền con người là bản chất củ
a chế độ xã hội chủ nghĩa. Tôn trọng và bảo
đảm quyền con người luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Đại hội
IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh đến chính sách của Nhà nước ta đó
là ‘Chăm lo cho con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người; tôn
i việc bảo đảm các quyền
và tự do cơ bản khác, đặc biệt là quyền tiếp cận thông tin, quyền được giáo dục và
quyền tự do biểu đạt. Trọng tâm của quyền con người nói chung và của quyền tiếp
cận văn hoá nói riêng đó là nguyên tắc bình đẳng. Bình đẳng không chỉ đơn thuần
là sự đối xử một cách như nhau, mà điều quan trọng hơn là tôn trọng và thừa nhận
sự
khác biệt và đa dạng. Điều này đặc biệt vô cùng ý nghĩa đối với quyền tiếp cận
văn hoá. Tôn trọng và thừa nhận sự đa dạng của các nền văn hoá và các giá trị văn
hoá của các cộng đồng người hay nhân cách đặc thù của mỗi cá nhân chính là đặc
trưng cơ bản của nguyên tắc bình đẳng và bảo đảm quyền con người. Nó chỉ ra
rằng các quốc gia thành viên của các công ước qu
ốc tế về quyền con người cần
phải có nghĩa vụ thực thi tất cả những biện pháp cần thiết, bao gồm xây dựng, ban
hành và thực thi chính sách, luật có liên quan nhằm đảm bảo quyền tiếp cận văn
hoá của tất cả các cộng đồng người với những nhu cầu tiếp cận các giá trị văn hoá
đặc thù văn hoá đặc thù cũng như giá trị văn hoá chung của một dân t
ộc, quốc gia
2
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG H., 2001
3
dân tộc và cộng đồng nhân loại. Đồng thời, nó cũng chỉ ra sự cần thiết và thẩm
quyền của quốc gia thành viên trong việc ban hành những chính sách đặc thù cho
những nhóm người khác nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu về văn hoá đặc thù
của họ. Thực tiễn cho thấy điều này không dễ dàng trong quá trình phát triển xã hội
dựa trên sự thống nhất chung của đa dạng các giá trị và nền văn hoá khác bi
ệt.
Quyền tiếp cận văn hoá là một quyền cơ bản của con người được được ghi
nhận và bảo đảm bằng hệ thống pháp luật quốc tế và quốc gia. Chẳng hạn, trong
8
cũng như Tuyên ngôn của LHQ về quyền của các
dân tộc bản địa,
3
UNESCO, Universal Declaration on Cultural Diversity, adopted on 20 November 2001. See www.unesco.org,
legal instruments.
4
UNESCO, Convention on the Protection and Promotion of the Diversity of Cultural Expressions, adopted on 20
October, 2005 and entry into force on 18 March 2007. See www.unesco.org, legal instruments.
5
UNESCO, Convention on the Protection of the World Cultural and Natural Heritage, adopted on 16 November
1972 and entry into force on 17 December 1975. See www.unesco.org, legal instruments.
6
UNESCO, Convention for the Safeguarding of the Intangible Cultural Heritage, adopted on 27 October 2003, entry
into force 20 April 2006. See www.unesco.org, legal instruments.
7
Council of Europe treaty series, no. 199, Framework Convention on the Value of Cultural Heritage for Society,
Faro, 27 October 2005, not yet in force (7 ratifications, 10 needed). See
/>
8
United Nations, Declaration on the Rights of Persons Belonging to National or Ethnic, Religious and Linguistic
Minorities, 92
nd
plenary meeting, 18 December 1992, A/RES/47/135. See 4
Năm 2008, Uỷ ban Châu Âu đã đề xuất và phát động sáng kiến về quyền tiếp
cận văn hoá (access to culture)
hiến định về quyền tiếp cận văn hoá. Nhà nước cũng đã thông qua rất nhiều các
chính sách và chương trình quốc gia nhằm thúc đẩy hoạt động sáng tạo và thụ
hưởng các giá trị văn hoá. Mặc dù thực tế triển khai và thực thi chính sách và luật
có liên quan c
ũng như việc hiện thực hoá các quyền về văn hoá trong những năm
qua đã đạt được những thành tựu đáng kể, tuy nhiên vẫn còn có những bật cập nhất
định đòi hỏi cần có sự điều chỉnh, hoàn thiện.
9
European Commission, The Platforms of Access to Culture, www.efa-aef.eu/en/activities/european-house-for-
culture/ (accessed 10.09.09)
10
Cho đến nay Việt Nam đã gia nhập hơn 10 CƯQT, bao gồm Công ước quốc tế về quyền dân sự-chính trị, CƯ về
quyền kinh tế xã hội và văn hoá, CƯ Quyền trẻ em, CƯ Xoá bỏ Mọi hình thức phân biệt đối xử với Phụ nữ, CƯ
Quyền của Người Khuyết Tật, CƯ Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, CƯ Xoá bỏ và Trừng tr
ị tội Apác-
thai, CƯ Không hạn chế các Luật định đối với tội phạm chíên tranh và chống nhân loại,
5
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, nền văn hoá Việt Nam là sự kết tinh và
tổng hoà của sự đa dạng văn hoá gữa các dân tộc anh em trải qua hàng ngàn năm
hấp thụ và tiếp biến các giá trị văn hoá nội sinh và ngoại sinh. Việt Nam cũng là
một quốc gia giàu bản sắc văn hoá và sở hữu những di sản văn hoá độc đáo của
nhân loại, bao gồm những di sản văn hoá v
ật thể và phi vật thể, cùng với đó là
hàng loạt các di sản văn hoá quốc gia. Quá trình đổi mới và phát triển trong suốt
hơn hai thập kỷ qua đã góp phần to lớn vào việc hiện thực hoá các quyền con
người nói chung và quyền tiếp cận văn hoá nói riêng. Tuy nhiên, việc tiếp cận của
người dân, đặc biệt là của những cộng đồng người nhất định như người dân tộc
thiểu số, ng
vệ lợi ích kinh tế và thúc đẩy quá trình sáng tạo và sản xuất, nhưng mặt khác nó có
6
những tác động tiêu cực đến mức độ thụ hưởng giá trị văn hoá và thành tựu khoa
học kỹ thuật của những quốc gia đang phát triển cũng như những nhóm người có
thu nhập thấp, người nghèo và những nhóm dễ bị tổn thương khác. Là một quốc
gia thành viên của Tổ chức Thương Mại thế giới (WTO), Việt Nam cũng phải tuân
thủ những nguyên tắc và quy định của t
ổ chức này và của pháp luật quốc tế nói
chung, trong đó chịu sự ràng buộc pháp lý chặt chẽ của TRIPS (Hiệp định về Các
Quyền sở hữu Trí tuệ Liên quan đến Thương Mại). Việc bảo hộ quyền tác giả,
quyền sở hữu trí tuệ đã vô hình chung có tác động tiêu cực tới quyền được tiếp cận
các giá trị văn hoá, thành tựu của khoa học và công nghệ của người dân. Hiể
n
nhiên điều này đã là một rào cản ghê ghớm đối với việc tiếp cận và hưởng thụ các
giá trị văn hoá và thành tựu khoa học, công nghệ của những nhóm người nhất định.
Quyền tiếp cận văn hoá chỉ ra nghĩa vụ của Nhà nước phải đảm bảo quyền này cho
mọi cá nhân và các cộng đồng người, đồng thời chỉ ra khả năng có thể tiếp cận
được các giá trị và đời sống văn hoá với điều kiện có thể chi trả được hoặc hoàn
toàn miễn phí. Tuy nhiên, các sản phẩm văn hoá nói riêng và mọi hoạt động của
đời sống văn hoá nói chung không dễ dàng đến được với tất cả mọi người vì những
rào cản về thể chế (như khung khổ pháp luật, chính sách) cũng như khả năng thực
thi trên thực tế (như đi
ều kiện vật chất cần thiết, trình độ năng lực của đội ngũ cán
bộ quản lý và thực thi, ).
Quyền tiếp cận văn hoá đặc biệt đối với những cộng đồng dân tộc thiểu số nơi
mà quá trình toàn cầu hoá văn hoá và nền kinh tế thị trường đang có nguy cơ làm
mai một bản sắc văn hoá dân tộc, cũng như những trở ngại mà quá trình phát triể
n
đã tạo ra cho những nhóm người thiểu số trong việc tiếp cận các giá trị về văn hoá,
nhóm nghiên cứu của LHQ về từng chủ đề cụ thể liên quan đến quyền của người
bản địa và văn hoá đã giúp LHQ xây dựng hàng lo
ạt các văn kiện quốc tế đã ra đời
nhằm tạo khung khổ pháp lý cho việc bảo vệ và thúc đẩy quyền tiếp cận văn hoá
của mọi cồng đồng. Chẳng hạn, Công ước của UNESCO về Di sản Văn hoá và
Thiên nhiên (thông qua năm 1972); Tuyên ngôn của LHQ về Bảo vệ Những nhóm
Thiểu số về Ngôn ngữ, Tôn giáo, Sắc tộc và Dân tộc và Tuyên ngôn của LHQ về
quyền của các dân tộc bản
địa,
Tư tưởng về phát triển bền vững sớm xuất hiện trong xã hội loài người ;
nhưng phải đến thế kỷ XX, tư tưởng này mới phát triển, chuyển hoá thành phong
trào xã hội – văn hoá, trước tiên ở châu Âu và Bắc Mỹ. Trên thế giới thuật ngữ
"phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm "Chiến
lược bảo tồn thế giới" do "Hi
ệp hội bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên
quốc tế" – IUCN, công bố. Tiếp đó, từ cuối thập niên 1980, nó được phổ biến rộng
rãi thông qua các báo cáo về môi trường của "Ủy ban môi trường và phát triển thế
giới" – WCED
11
. Từ năm 1992, sau Hội nghị thượng đỉnh về môi trường và phát
triển của Liên hợp quốc (LHQ) tai Rio de Janeiro (Braxin), và đặc biệt từ Hội nghị
thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững hay Hội nghị thượng đỉnh
Johannesburg, tại Johannesburg (Nam Phi) vào năm 2002, nội dung khái niệm
"phát triển bền vững” được làm rõ hơn, là : bảo đảm và thực hiện sự hài hoà giữa
phát triển kinh tế hiệu quả
, xã hội công bằng và sự đa dạng của môi trường sinh
thái được gìn giữ và bảo vệ.
11
Ủy ban này còn được gọi là "Uỷ ban Brundtland" – gọi theo tên bà G. Harlem
rộ
ng, không chỉ dừng lại ở nhân tố sinh thái, mà còn gồm cả nhân tố xã hội, con
người. Nó bao hàm cả sự bình đẳng giữa các nước giàu và nghèo, giữa các thế hệ,
thậm chí cả sự cần thiết giải trừ quân bị như là điều kiện tiên quyết nhằm giải
phóng nguồn tài chính để thực hiện phát triển bền vững.
Trong thập niên 1990, nhiều nhà khoa học phương Tây tiếp tục làm rõ nguồn
lự
c và cách tiếp cận đối với phát triển bền vững. Nhà xã hội học người Mỹ James
Coleman (1926 – 1995) phân biệt ba loại vốn cho phát triển bền vững là : vốn vật
thể (chủ yếu là vốn tài chính), vốn con người, vốn xã hội. Đi xa hơn J. Coleman,
Francis Fukuyama (tác giả công trình nổi tiếng ‘Sự tận cùng của lịch sử’ (the End
of History) cho rằng, vốn con người và vốn xã hội liên quan với nhau; và không
phải loại vố
n nào cũng đều tốt. Vấn đề ở chỗ: cách thức sử dụng và phối hợp
chúng như thế nào.
9
Từ mối liên hệ lẫn nhau giữa các loại vốn, một số nhà khoa học đã hướng
đến cách tiếp cận văn hoá đối với phát triển bền vững. Thực tế là "phát triển bền
vững" có nội hàm rất rộng; do đó không nên thiên về thành tố này, cách tiếp cận
này mà xem nhẹ thành tố kia, cách tiếp cận kia. Vì thế chỉ có cách tiếp cận văn hoá
mới có thể bao quát và hướng vào những xu hướng cơ
bản của nội hàm vốn rất
rộng của phát triển bền vững. Pierre Bourdieu (1930 – 2002), một nhà nghiên cứu
người Pháp, cho rằng, nên coi văn hoá như một loại vốn – tương tự như ba loại vốn
khác (vốn vật thể, vốn con người, vốn thiên nhiên); và vốn văn hoá gồm hai loại:
vật thể và phi vật thể.
Vào năm 2007, trong công trình "Quan niệm phát triển bền vững trong bối
cảnh toàn cầu hóa", tập th
ể các nhà khoa học Nga đứng đầu là tiến sĩ V.G.Khoros,
10
Rights to Access), School of Information Resources and Library Science,
University of Arizona.
- Avishai Margalit and Moshe Halbertal (2004), Chủ nghĩa tự do và quyền
văn hoá (Liberalism and the Right to Culture), Social Research, 71, pp. 529-48.
- Robert Winthrop, Định nghĩa Quyền về Văn hoá và Một vài Cách tiếp cận
(Defining a Right to Culture, and Some Alternatives), Cultural Dynamics, Vol. 14,
No. 2, 161-183 (2002)
- Yvonne Donders & Vladimir Volodin, Quyền con người về Giáo dục, Khoa
học và Văn hoá: Thành tựu và Thác thức về mặt luật pháp (Human Rights in
Education, Science and Culture: Legal Developments and Challenges). Ashgate
Publishing Group.
- Antony Hooper (2007), Văn hoá và Phát triển bền vững ở Thái Bình Dương
(Culture and Sustainable Development in the Pacific), Nxb Đại học Quốc gia Ôt-
xtrây-lia, (ANU E-Press & Asia Pacific Press),
- Hawkes, Jon (2006), Trụ cộ
t thứ 4 của Sự bền vững: Vai trò đặc biệt của
văn hoá trong việc lập kế hoạch công: lược khảo- (The Fourth Pillar of
Sustainability: Culture’s Essential Role in Public Planning: Summary.
- Leach, Melissa (1998), Văn hoá và sự bền vững- “Culture and
Sustainability”. In World Culture Report (1998), specially edited by Louis
Emmerji and Paul Streeton, 93-104. Paris: United Nations Educational, Scientific
and Cultural Organisation.
- World Commission on Culture and Development (1995), Sự đa dạng sáng
tạo của chúng ta (Our creative diversity) Paris: UNESCO;
Uỷ ban Châu Âu đặc biệt nhấn mạnh tiếp cận văn hoá là một quyền cơ bản
của con người cầ
n được bảo vệ và thúc đẩy, đặc biệt trong bổi cảnh quốc tế hoá và
biệt của văn hoá, và quy
ền tiếp cận văn hoá đối với sự phát triển bền vững.
3.2. Tình hình nghiên cứu trong nước:
Tiếp cận văn hoá nói chung và quyền tiếp cận văn hoá nói riêng đã bắt đầu
được nghiên cứu từ nhiều góc độ và chuyên ngành khác nhau, bao gồm triết học,
văn hoá, chủ nghĩa xã hội khoa học, xã hội học và đặc biệt là pháp luật và quyền
con người. Quyền về văn hoá đã bắt đầu đượ
c đề cập đến như là một nội dung của
nhóm quyền kinh tế-xã hội và văn hoá (trong Công ước quốc tế về các quyền kinh
tế-xã hội và văn hoá của LHQ năm 1966) trong các công trình nghiên cứu về lý
luận và thực tiễn về quyền con người, quyền công dân thuộc Học viện Cao cấp
Nguyễn Ái Quốc năm 1991 (nay là Học viện Chính trị- Hành chính Quốc gia Hồ
Chí Minh); chương trình KH&CN cấp Nhà nước KX07-16 ‘Các điều ki
ện bảo đảm
quyền con người, quyền công dân trong công cuộc đổi mới’ do GS TS Hoàng Văn
Hảo làm chủ nhiệm (1991-1996), Đề tài KHCN cấp Nhà nước, ‘Quyền con người
trong thời kỳ đổi mới: thành tựu, vấn đề và phương hướng giải quyết’ do TS Cao
Đức Thái làm chủ nhiệm, thực hiện trong giai đoạn 2001-2005; Đề tài KHCN cấp
Bộ, ‘Quyền kinh tế-xã hội và văn hoá và có chế bảo đảm các quyề
n này trong thời
kỳ chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường ở nước ta’, do GS TS Hoàng Văn Hảo
làm chủ nhiệm, thực hiện trong giai đoạn 1995-1996; Đề tài KHCN cấp Bộ, ‘Sự
phát triển các quyền kinh tế-xã hội và văn hoá trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam’,
do Viện NC Quyền con người thuộc Học viện thực hiện trong giai đoạn 2001-
2003; và một số công trình nghiên cứu
được đăng tải trên các tạp chí khoa học
chuyên ngành liên quan đến các quyền về văn hoá, ‘Tự do văn hoá và Phát triển’
12
của tác giả Phan Công Khanh đăng trên tạp chí Triết học (năm 2007); ‘Giao lưu
12/2008, Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm nhấn mạnh giáo dục và văn hoá là hai
động lực của hoà bình và phát triển, là hai vec-tơ chủ đạo của đối thoại và phát
triển bền vững.
Khái niệm phát triển bền vững được đề cập nhiều ở Việt Nam từ khoảng đầu
thập niên 1990. Văn kiện Đại hội lần thứ VII của Đảng (1992) lần đầu tiên xác
định t
ư tưởng chính của "Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế – xã hội đến năm
2000" là: Tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả cao và bền vững đi đôi với giải
quyết những vấn đề bức xúc về xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, cải thiện đời
sống nhân dân. Tư tưởng này tiếp tục được khẳng định trong "Chiến lược phát
triển kinh tế – xã hộ
i 10 năm 2001 – 2010" và được khái quát là: Phát triển nhanh,
13
có hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện công bằng xã hội
và bảo vệ môi trường. Tư tưởng phát triển bền vững còn được thể hiện trong kết
luận của Hội nghị Trung ương 10, khoá IX, về việc gắn nhiệm vụ trung tâm phát
triển kinh tế, nhiệm vụ then chốt chỉnh đốn Đảng với nhiệm vụ xây dựng nề
n tảng
tinh thần văn hoá.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trong nước, một mặt chuyển hoá quan
điểm phát triển bền vững của "Uỷ ban Brundtland" vào thực tiễn Việt Nam; mặt
khác cũng đã phát triển nội hàm của tiếp cận văn hoá đối với phát triển bền vững
với tính cách là tiếp cận tổng hợp kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá và môi trường,
đồng thời cũng là cách tiếp cận quyền phát tri
ển nhằm vào giá trị phát triển của con
người và cộng đồng. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu này chưa đề cập sâu
rộng đến vấn đề văn hoá và phát triển dưới góc độ quyền con người, cũng như
quyền tiếp cận văn hoá.
Vì vậy, đề tài "Quyền tiếp cân văn hoá trong quá trình phát triển ở nước ta
quyền tiếp cận văn hoá đối với sự phát triển bền vững;
- Phân tích những nội dung cơ bản của quyền tiếp cận văn hoá trong
hệ thống quan điểm, chính sách và pháp luật.
- Đánh giá về thực trạng, thành tựu và hạn chế, của việc bảo đảm
quyền tiếp cận văn hoá trong quá trình phát triển ở Việt Nam, đặc biệt kể từ
khi đổi mới đến nay.
- Đề xuất một số giải pháp lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng và
thực thi chính sách, công tác quản lý văn hoá, phát triển và quyền con
người ở nước ta.
5. Nội dung nghiên cứu:
Để thực hiện được m
ục tiêu trên, đề tài tập trung vào luận giải những nội
dung cơ bản sau đây:
1) Thứ nhất, khái luận chung về văn hóa, phát triển và phát triển bền vững,
quyền văn hoá và quyền tiếp cận văn hoá trong quá trình phát triển ở nước ta hiện
nay;
2) Thứ hai, những nội dung cơ bản về quyền tiếp cận văn hoá từ giác độ pháp
luật quốc tế và quốc gia, chính sách vă
n hoá và các điều kiện bảo đảm quyền tiếp
cận văn hoá ở phạm vi quốc gia và địa phương;
3) Thứ ba, thành tựu và thách thức của việc đảm bảo quyền tiếp cận văn hoá ở
Việt Nam hiện nay;
4) Thứ tư, một số kiến nghị, giải pháp nhằm tăng cường việc bảo đảm và hiện
thực hoá quyền về tiế
p cận văn hoá trong quá trình phát triển ở nước ta nước ta
hiện nay.
6. Phương pháp nghiên cứu:
- Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và của Đảng ta về quyền con người, về văn hoá, phát triển, và phát triển bền
vững để phân tích, đánh giá và luận giải các vấn đề liên quan đến quyền tiếp cận
16
CHƯƠNG I.
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA VÀ PHÁT TRIỂN, QUYỀN CON
NGƯỜI VÀ QUYỀN TIẾP CẬN VĂN HÓA
1.1. KHÁI LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA, PHÁT TRIỂN VÀ QUYỀN
CON NGƯỜI
1.1.1. VĂN HOÁ
Văn hóa là một phạm trù rộng lớn, có hàng trăm định nghĩa khác nhau và
cộng đồng quốc tế vẫn chưa có một cách hiểu chung về văn hóa. Tuy nhiên, có một
điểm tương đối đồng nhất giữa các cách định nghĩa khác nhau về
văn hóa đó chính
là việc xem văn hóa như là một sản phẩm đặc biệt và duy nhất của giới tự nhiên
thông qua hoạt động sống của con người. Theo nghĩa rộng, văn hóa là toàn bộ
17
dạng văn hóa là tôn trọng và bảo vệ chính con người và xã hội loài người. Sự tôn
trọng ấy chỉ ra việc thừa nhận và khẳng định các giá trị nền tảng của các cá nhân
và nhóm xã hội, bao gồm tự do và các quyền cơ bản của họ. Chính vì vậy, Federico
Mayor, Nguyên Tổng Giám đốc UNESCO, đã khẳng định văn hóa ‘là một hệ
thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó t
ừng dân tộc tự
khẳng định bản sắc riêng của mình’.
13Do đặc tính phong phú và đa dạng của nó, văn hóa không dễ dàng được định
nghĩa một cách chính xác và được thống nhất trong cách hiểu đơn nhất của cộng
đồng quốc tế. Một số học giả quan niệm rằng “văn hóa là tổng thể các hành vi và ý
thức của một nhóm người có chung truyền thống, thứ mà được chuyển giao và
củng cố bởi các thành viên trong nhóm người đó”, hoặc là “những ho
ạt động nghệ
thuật và xã hội, sự bày tỏ và các giá trị được thưởng thức bởi xã hội hoặc giai cấp,
qua những tác phẩm nghệ thuật, phong tục hay trang phục…”.
14
Do đó, việc bảo
vệ văn hóa trong luật nhân quyền bao hàm hai nội dung: trước hết là quyền của con
người được thực hiện và tiếp tục thực hiện các hoạt động truyền thống của dân tộc,
cộng đồng mình. Thứ hai, việc bảo vệ văn hóa trong hệ thống pháp luật quốc tế
bao gồm cả bảo vệ các hoạt động khoa học, văn học và nghệ thu
ật của xã hội.
15
Một số học giả khác lại cho rằng văn hóa là một khái niệm “ẩn”, nó có thể có rất
nhiều định nghĩa. Lý do là bởi vì nó bao hàm rất nhiều yếu tố không chỉ như lòng
Văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo
ra trong quá trình lịch sử bằng lao động của mình và được nhân lên trong đời sống
và lao động. Văn hoá là tài sản chung của nhân loại và nó có một vị trí, vai trò cực
kỳ to lớn đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi con người, mỗi cộng đồng, mỗi
quốc gia. Chúng ta đều biết rằng, các dân tộc khác nhau thì có sự phát triển và sở
hữu các nền văn hoá khác nhau, do đó, việc bảo vệ và phát triển văn hoá chính là
tiêu chí để xác định sự bình đẳng và phát triển giữa các dân tộc, là thước đo quan
trọng để đánh giá việc tôn trọng, bảo vệ và thực hiện các quyền con người. Với
những ý nghĩa trên, quyền văn hoá là một nội dung cơ bản, quan trọng của quyền
con người và trở thành mối quan tâm của nhiều tổ chứ
c quốc tế, trở thành vấn đề
thu hút sự chú ý và gây nhiều tranh luận trên nhiều diễn đàn trong nước, khu vực
và quốc tế.
Văn hóa, hiểu một cách phổ quát, là một tập hợp của những đặc trưng về tâm
hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội
và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thứ
c chung
sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin.
18
Dưới góc độ lịch sử, văn hóa là những gì còn lại sau những chu trình lịch sử
khác nhau, qua đó người ta có thể phân biệt được các dân tộc với nhau. Cựu Tổng
Giám đốc UNESCO Federico Mayor đã từng khẳng định: "văn hóa phản ánh và
thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân
và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như
đang diễn ra trong hiện tại,
qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành một hệ thông các giá trị, truyền thống thẩm
mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của
vực liên quan mật thiết tới việc xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội.
1.1.2. TIẾP CẬN VĂN HÓA
Tiếp cận văn hóa (TCVH, cultural approach) hay tiến cận dựa trên văn hóa
(culture-based approach) là m
ột phương pháp, công cụ trong hoạch định chính
sách và chương trình dựa trên văn hóa, lấy văn hóa là hạt nhân và trọng tâm.
Văn hóa là một trong những thành tố và trụ cột quan trọng vào bậc nhất của đời
sống xã hội và phát triển bền vững. Vì vậy, nó là một trong những công cụ thiết
yếu trong lập chính sách, kế hoạch và chương trình phát triển kinh tế-xã hội; là
điểm xuất phát và đích hướng đến của mọ
i chính sách và chương trình phát
triển. TCVH, ngày nay, là một phương pháp được áp dụng phổ biến trong cộng
đồng quốc tế và đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển và trong bối cảnh thế
giới toàn cầu hóa sâu sắc. TCVH là một đòi hỏi bức thiết của quá trình phát
triển lấy con người làm mục đích, là công cụ đóng vai trò làm ‘nhân bản hóa’
các quan hệ sản xuất hiện đại vốn dựa trên sự toàn cầu hóa của ph
ương thức sản
xuất tư bản chủ nghĩa. Trong xu thế thịnh hành của nền kinh tế thị trường và sự
phát triển nóng đang diễn ra mạnh mẽ ở các quốc gia đang phát triển (trong đó
có Việt Nam), TCVH được xem như là một công cụ mạnh mẽ để tạo lập sự cân
bằng giữa tăng trưởng kinh tế với hệ thống an sinh xã hội hiệu quả và bả
o vệ
môi trường hướng tới sự phát triển bền vững.
TCVH có mối liên hệ mật thiết với quyền tiếp cận văn hóa. Nó chỉ ra rằng,
TCVH không chỉ là một nhu cầu hay ý muốn chủ quan của các nhà chính trị,
hoạch định và thực thi chính sách, mà quan trọng hơn đó còn là một quyền cơ
bản của con người. TCVH một mặt khẳng định các cá nhân, nhóm xã hội (đặc