LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi
dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học. Các thông tin và kết quả
nghiên cứu trong luận văn là do tôi tự thu thập, tìm hiểu và phân tích một
cách trung thực, phù hợp với thực tế của Ngân hàng TMCP An Bình.
Hà Nội, ngày 20 tháng 9 năm 2010
Ngưòi cam đoan
Bùi Thị Liên Hương
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ vii
LỜI MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Nội dung và mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4. Phương pháp nghiên cứu 2
5. Kết cấu của đề tài 3
Chương 1 4
NHỮNG LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH VÀ 4
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1. Những vấn đề cơ bản trong cạnh tranh của ngân hàng thương
mại 4
1.1.1. Khái quát về cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh 4
1.1.2. Cạnh tranh trong kinh doanh ngân hàng 5
1.1.3. Các tiêu chí đánh giá về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương
mại 17
1.1.4. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng
22
2.3.2. Điểm yếu của ABBANK 61
2.3.3. Cơ hội của ABBANK 62
2.3.4. Thách thức của ABBANK 63
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 64
Chương 3 65
NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO NĂNG LỰC 65
CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP AN BÌNH 65
SAU KHI CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH TỪ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN NÔNG THÔN THÀNH 65
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN 65
3.1. Chiến lược hoạt động kinh doanh và định hướng nâng cao năng
lực cạnh tranh của ABBANK đến năm 2015 65
3.1.1. Tầm nhìn chiến lược của ABBANK 65
3.1.2. Mục tiêu cụ thể của ABBANK trong thời kỳ từ năm 2010 đến 2015
66
3.1.3. Định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của ABBANK đến năm
2015 67
3.2. Những giải pháp cần thực hiện ngay sau khi chuyển đổi mô hình
từ ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn thành ngân hàng
thương mại cổ phần 68
3.2.1. Tăng cường năng lực tài chính của ABBANK 68
3.2.2. Giải pháp phòng ngừa rủi ro 69
3.2.3. Giải pháp minh bạch tình hình tài chính 72
3.2.4. Nhóm giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng
TMCP An Bình 73
3.2.5. Nhóm giải pháp xây dựng và hoàn thiện thể chế 86
3.2.6. Giải pháp phát triển đồng bộ công nghệ thông tin cho toàn hệ thống
ABBANK 90
3.2.7. Giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 90
3.2.8. Hoàn thiện hệ thống kênh phân phối 92
Bảng 2.3. Lợi nhuận của Ngân hàng từ 2007 - 2009 40
Bảng 2.4. Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2007 -2009 40
Bảng 2.5. Tình hình tài chính của ABBANK từ năm 2007 - 2009 42
Bảng 2.6. Cơ cấu nguồn vốn huy động của ABBANK năm 2007 - 2009 42
Biểu đồ 2.1. Tăng trưởng nguồn vốn huy động 42
Biểu đồ 2.2. Dư nợ tín dụng từ 2006 - 2009 45
Bảng 2.7. Dư nợ cho vay theo chất lượng tín dụng năm 2008 47
Bảng 2.8. Dư nợ cho vay theo mục đích năm 2009 47
Bảng 2.9. Dư nợ cho vay theo chất lượng năm 2009 48
Biểu đồ 2.3. Cơ cấu dư nợ (tỷ đồng) năm 2009 49
Bảng 2.10: Tình hình tăng trưởng nhân sự qua các năm 2005 - 2009 57
Bảng 2.11. Phân loại lao động theo trình độ tính đến 31/12/2009 57
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) là một trong những tổ chức tài
chính quan trọng của nền kinh tế. Hoạt động của hệ thống ngân hàng TMCP
có vai trò khuyến khích tăng trưởng kinh tế cao và bền vững của mỗi quốc
gia. Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam có nhiều cơ hội để phát triển kinh tế và
thị trường tài chính, thu hút vốn đầu tư, tạo điều kiện cho các ngân hàng
thương mại mở rộng quan hệ đại lý, thanh toán quốc tế… Điều này đòi hỏi
cần xây dựng hệ thống ngân hàng thương mại hoạt động có uy tín, an toàn và
hiệu quả cao. Từng bước thực hiện những cam kết về mở cửa thị trường dịch
vụ này đặt ra thách thức lớn cho ngành Ngân hàng hiện nay là phải đối mặt
với sự cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ.
ABBank là ngân hàng TMCP hoạt động phục vụ cho khách hàng là các
doanh nghiệp vừa và nhỏ, các cá nhân, các tiểu thương, hộ gia đình. Đối thủ
cạnh tranh của ABBank hiện nay là các ngân hàng TMCP đang hoạt động rất
hiệu quả với nhiều phương thức nhằm nâng cao năng lực trên thị trường như
tăng vốn điều lệ, mở rộng mạng lưới, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao,
ứng dụng công nghệ hiện đại… Để tồn tại, phát triển và có chỗ đứng vững chắc
nghiên cứu về vấn đề này, tuy nhiên đối với ABBANK thì đây là bài nghiên
cứu đầu tiên và có ý nghĩa ứng dụng thực tiễn cao.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của luận văn là vận dụng một cách tổng hợp
nhiều phương pháp nghiên cứu cơ bản định tính và định lượng bao gồm:
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Luận văn có
sử dụng và phân tích các tư liệu, tài liệu ghi chép lịch sử hình thành và phát
triển của ABBank từ khi thành lập cho đến nay, đặc biệt là giai đoạn sau
khi chuyển đổi mô hình hoạt động từ ngân hàng thương mại cổ phần nông
2
thôn thành ngân hàng thương mại cổ phần để phân tích, nghiên cứu và so
sánh, đúc rút bài học kinh nghiệm. Luận văn cũng xem xét chủ đề nghiên
cứu trong mối tương quan logic, biện chứng với các vấn đề khác làm cho
luận văn có tính ứng dụng cao hơn.
- Phương pháp phân tích hệ thống, phân tích tổng hợp và so sánh:
Phương pháp nhằm mô tả, phân tích đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh
hiện nay của ABBank, từ đó so sánh với các ngân hàng thương mại khác.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài lời nói đầu, phần kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo,
nội dung luận văn chia làm 3 chương sau:
Chương 1. Những lý thuyết cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
của ngân hàng thương mại
Chương 2. Thực trạng về năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại
cổ phần An Bình từ khi chuyển đổi mô hình từ ngân hàng thương mại cổ phần nông
thôn thành ngân hàng thương mại cổ phần
Chương 3. Những giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân
hàng thương mại cổ phần An Bình sau khi chuyển đổi mô hình từ ngân hàng
thương mại cổ phần nông thôn thành ngân hàng thương mại cổ phần
3
Chương 1
thế cạnh tranh, các doanh nghiệp cần nghiên cứu các yếu tố sau:
- Nguồn gốc sự khác biệt: So với đối thủ cạnh tranh, doanh nghiệp có
gì vượt trội về mặt giá cả sản phẩm, chất lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ,
mạng lưới phấn phối.
- Thế mạnh của doanh nghiệp về cơ sở vật chất, nhà xưởng, trang thiết
bị kỹ thuật.
- Khả năng phát triển sản phẩm mới, đổi mới dây chuyền công nghệ, hệ
thống phân phối.
- Chất lượng của sản phẩm.
- Khả năng đối ngoại: Khả năng liên kết với các doanh nghiệp khác
hoặc liên doanh với nước ngoài, hoặc sử dụng sự trợ giúp của các tổ chức
trong cạnh tranh.
- Khả năng tài chính: Khả năng của doanh nghiệp trong việc quản lý
chi phí, huy động vốn và thanh toán nghĩa vụ tài chính.
- Sự thích nghi của tổ chức: Sự mềm dẻo của tổ chức để thích ứng với
sự thay đổi của môi trường. Sự thích ứng của hệ thống quyền lực lãnh đạo và
tổ chức hành chính trong lĩnh vực hoạt động.
- Khả năng tiếp thị: Nhiều doanh nghiệp rất thành công nhờ vào việc cố
gắng cung cấp nhiều giá trị hơn cho khách hàng, phát triển sản phẩm mới,
nâng cao chất lượng dịch vụ, phục vụ và phân phối sản phẩm.
1.1.2. Cạnh tranh trong kinh doanh ngân hàng
1.1.2.1. Đặc trưng về cạnh tranh của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp, hoạt động trong
lĩnh vực tài chính. Cũng như các loại hình doanh nghiệp hoạt động trong nền
5
kinh tế thị trường, ngân hàng thương mại cũng phải cạnh tranh để tồn tại và
phát triển. Đối thủ cạnh tranh của một ngân hàng thương mại là các ngân
hàng thương mại khác và các tổ chức tín dụng, các doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực tài chính. Tất cả các tổ chức đều cố gắng cung ứng các sản
phẩm dịch vụ tài chính tốt nhất cho các đối tượng khách hàng nhằm thu hút
khách hàng chọn lựa sử dụng dịch vụ của mình, ngân hàng phải xây dựng
được uy tín và gia tăng giá trị thương hiệu theo thời gian.
Thứ ba, để thực hiện kinh doanh tiền tệ, NHTM phải đóng vai trò tổ
chức trung gian huy động vốn trong xã hội. Nguồn vốn để kinh doanh của
ngân hàng chủ yếu từ vốn huy động được và chỉ một phần nhỏ từ vốn tự có
của ngân hàng. Do đó yêu cầu ngân hàng phải có trình độ quản lý chuyên
nghiệp, năng lực tài chính vững mạnh cũng như có khả năng kiểm soát và
phòng ngừa rủi ro hữu hiệu để đảm bảo kinh doanh an toàn, hiệu quả. Vì hoạt
động ngân hàng có liên quan đến tất cả các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội,
đến từng cá nhân thông qua các hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm cho vay
cũng như các loại hình dịch vụ tài chính khác, đồng thời trong hoạt động kinh
doanh của mình các ngân hàng cũng đều mở tài khoản cho nhau để cùng phục
vụ các khách hàng chung, nên nếu một ngân hàng khó khăn trong tính thanh
khoản, có nguy cơ đổ vỡ thì tất yếu sẽ tác động dây chuyền đến gần như tất cả
các ngân hàng khác. Không những thế các tổ chức tài chính phi ngân hàng
cũng sẽ bị ảnh hưởng do tính lây lan. Đây là điều mà các ngân hàng thương
mại không bao giờ mong muốn.
Cuối cùng, hoạt động kinh doanh của ngân hàng là kinh doanh tiền tệ,
mà tiền tệ là một công cụ được Nhà nước sử dụng để quản lý vĩ mô nền kinh
tế. Do đó, Nhà nước thực hiện kiểm soát hoạt động này rất chặt chẽ. Đồng
thời, hoạt động của các ngân hàng có liên quan đến tất cả các chủ thể, đến mọi
mặt hoạt động kinh tế xã hội, cho nên để tránh sự hoạt động của các ngân
7
hàng thương mại mạo hiểm có nguy cơ đổ vỡ hệ thống, Ngân hàng Nhà nước
đều giám sát chặt chẽ thị trường này và đưa ra hệ thống cảnh báo sớm để
phòng ngừa rủi ro. Hoạt động kinh doanh của NHTM ngoài tuân thủ các quy
định chung của pháp luật còn chịu sự chi phối bởi hệ thống luật pháp riêng
cho NHTM và chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương.
Ngoài ra, hoạt động của các ngân hàng thương mại liên quan đến lưu
chuyển tiền tệ không chỉ trong phạm vi một quốc gia, mà có liên quan đến
Với đặc điểm hoạt động kinh doanh của mình, hoạt động của các
NHTM chịu chi phối và ảnh hưởng của nhiều hệ thống pháp luật khác nhau
như luật dân sự, luật xây dựng, luật đất đai, luật cạnh tranh, luật các tổ chức
tín dụng… Bên cạnh đó, NHTM còn chịu sự quản lý chặt chẽ từ NHNN và
được xem là một trung gian để NHNN thực hiện các chính sách tiền tệ của
mình. Sức mạnh cạnh tranh của các NHTM phụ thuộc rất nhiều vào chính
sách tiền tệ, tài chính của Chính phủ và NHNN. Ngoài những hệ thống và văn
bản pháp luật trong nước, các NHTM còn phải chịu những qui định, chuẩn
mực chung của tổ chức thương mại thế giới (WTO) trong việc quản trị hoạt
động kinh doanh của mình. Do vậy, bất kỳ sự thay đổi nào trong hệ thống
pháp luật, chuẩn mực quốc tế, cũng như chính sách tiền tệ của NHNN sẽ ảnh
hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của các NHTM.
• Sự gia tăng nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng trong nền kinh tế
Với quá trình mở cửa nền kinh tế, tự do hóa và hội nhập thị trường tài
chính tiền tệ, sự cạnh tranh đối với ngành ngân hàng tất yếu sẽ ngày càng trở
nên gay gắt và quyết liệt. Hiện nay, cạnh tranh giữa các NHTM không chỉ
dừng ở các loại hình dịch vụ truyền thống (huy động và cho vay) mà còn cạnh
tranh ở thị trường sản phẩm dịch vụ mới.
9
Sự biến đổi về cơ cấu dân cư, sự tăng dân số (đặc biệt là khu vực đô
thị), sự tăng lên của các khu công nghiệp, khu đô thị mới dẫn đến số doanh
nghiệp và cá nhân có nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng tăng lên rõ rệt. Thu
nhập bình quân đầu người ở hầu hết các quốc gia đều được nâng lên, qua đó
các dịch vụ ngân hàng cũng sẽ có những bước phát triển tương ứng. Các hoạt
động giao thương quốc tế ngày càng phát triển làm gia tăng nhu cầu thanh
toán quốc tế qua ngân hàng. Số lao động di cư giữa các quốc gia tăng lên nên
nhu cầu chuyển tiền cũng như thanh toán qua ngân hàng có chiều hướng tăng
cao. Đó là các yếu tố làm tăng nhu cầu sử dụng các dịch vụ của NHTM.
Ngoài ra, thị trường tài chính càng phát triển thì khách hàng càng có
nhiều sự lựa chọn. Các yêu cầu của khách hàng đối với dịch vụ ngân hàng sẽ
• Các đối thủ ngân hàng hiện tại và ngân hàng mới
Các đối thủ cạnh tranh là những mối lo thường trực của các ngân hàng
trong kinh doanh. Đối thủ cạnh tranh ảnh hưởng đến chiến lược hoạt động
kinh doanh của ngân hàng thương mại trong tương lai. Tác nhân từ phía ngân
hàng thương mại mới tham gia thị trường có những lợi thế quan trọng như: có
động cơ ước vọng dành được thị phần, đã tham khảo kinh nghiệm từ những
ngân hàng đang hoạt động, có những thống kê đầy đủ và dự báo về thị
trường…, thì các ngân hàng hiện tại đã thấy một mối đe dọa về khả năng thị
phần bị chia sẻ, ngoài ra các ngân hàng mới còn có những kế sách và sức
mạnh các ngân hàng hiện tại chưa thể có thông tin và chiến lược ứng phó.
Ngoài ra, sự có mặt của các đối thủ cạnh tranh thúc đẩy ngân hàng phải
thường xuyên quan tâm đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng các dịch vụ
cung ứng để chiến thắng trong cạnh tranh. Sức ép từ bản thân ngân hàng cũng
là một trong những đặc điểm quan trọng của ngành ngân hàng là tất cả các cá
nhân, tổ chức kinh doanh, sản xuất hay tiêu dùng, thậm chí là các ngân hàng
11
khác cũng đều có thể mong muốn là nhận được một lãi suất cao hơn, trong
khi giao dịch hay cho vay đều có mong muốn là nhận được một lãi suất cao
hơn, trong khi đó những người mua sản phẩm (vay vốn) lại muốn mình chỉ
phải trả một chi phí vay vốn nhỏ hơn thực tế. Như vậy, ngân hàng sẽ phải đối
mặt với sự mâu thuẫn giữa hoạt động tạo ra lợi nhuận có hiệu quả và giữ chân
được khách hàng cũng như có được nguồn vốn thu hút rẻ nhất có thể. Điều
này đặt ra cho ngân hàng nhiều khó khăn trong định hướng cũng như phương
thức hoạt động trong tương lai.
Bên cạnh các nhân tố khách quan tác động đến năng lực cạnh tranh của
các ngân hàng thương mại, trên thực tế nhóm các nhân tố thuộc về nội tại của
ngân hàng thương mại cũng ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của
ngân hàng này. Chúng bao gồm:
- Năng lực điều hành của ban lãnh đạo ngân hàng;
- Quy mô vốn và tình hình tài chính của ngân hàng;
- Mức độ chính xác cao;
- Hiệu quả đem lại cho khách hàng lớn;
- Thái độ phục vụ tốt;
- Trình độ công nghệ hiện đại;
Thực tế trên thị trường hiện nay có nhiều ngân hàng cung ứng sản
phẩm dịch vụ cho khách hàng. Vì vậy, khách hàng có sự so sánh, đánh giá và
quyết định lựa chọn ngân hàng có sản phẩm chất lượng cao. Thậm chí khách
hàng thay đổi quan hệ từ ngân hàng có sản phẩm chất lượng kém sang ngân
hàng có sản phẩm chất lượng tốt.
Đối với NHTM, để cạnh tranh bằng chất lượng phải xây dựng thật tốt cơ sở
hạ tầng hiện đại, nguồn nhân lực, bên cạnh việc kết hợp chiến lược thị trường,
13
chiến lược kinh doanh phù hợp. Chỉ có như vậy, các sản phẩm dịch vụ mà NHTM
cung cấp mới đáp ứng đúng và đầy đủ, kịp thời nhu cầu từ phía khách hàng.
Cơ sở hạ tầng hiện đại bao gồm cả việc hiện đại hóa công nghệ ngân hàng
và các phương thức kỹ năng nghiệp vụ ngân hàng tiên tiến nhằm phục vụ cho
khách hàng kịp thời, nhanh chóng và chính xác nhất. Chỉ trên cơ sở kỹ thuật
công nghệ hiện đại mới cho phép tạo ra những bước phát triển đột phá và nổi bật
trong sản phẩm dịch vụ ngân hàng, tạo ra tiện ích tối đa cho khách hàng, công
nghệ giúp cho các NHTM giảm chi phí, giảm thời gian giao dịch, tăng độ an
toàn cho khách hàng, từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ ngân hàng.
Ngân hàng thuộc ngành kinh doanh dịch vụ, vì vậy có thể nói nguồn
nhân lực là nhân tố rất quan trọng tạo nên chất lượng sản phẩm của các
NHTM trong quá trình hoạt động, cụ thể:
- Trong quá trình giao dịch trực tiếp với khách hàng, nhân viên ngân
hàng chính là một "hiện hữu" chủ yếu của sản phẩm dịch vụ, có thể làm tăng
thêm giá trị của sản phẩm dịch vụ cũng như làm giảm đi, thậm chí làm hỏng
giá trị sản phẩm dịch vụ.
- Đa số các ý tưởng cải tiến sản phẩm dịch vụ hoặc cung ứng sản
phẩm dịch vụ được đề xuất từ các hoạt động thực tiễn của nhân viên.
trình kinh doanh. Tổ chức tiêu thụ sản phẩm chính là hình thức cạnh tranh phi
giá cả gây ra sự chú ý và thu hút khách hàng.
Kênh phân phối là phương tiện trực tiếp đưa sản phẩm, dịch vụ của
ngân hàng đến khách hàng, đồng thời giúp ngân hàng nắm bắt chính xác và
kịp thời nhu cầu của khách hàng, qua đó, ngân hàng chủ động trong việc cải
tiến, hoàn thiện sản phẩm dịch vụ, tạo điều kiện thuận lợi trong việc cung cấp
sản phẩm dịch vụ cho khách hàng.
Để cạnh tranh bằng hệ thống phân phối, NHTM phải thực hiện tốt
chiến lược marketing kết hợp với việc tổ chức mạng lưới. Để tạo sự thuận tiện
cho khách hàng ở khắp mọi nơi, NHTM cần có một tổ chức mạng lưới rộng
15
khắp ở các vùng kinh tế chiến lược trong nước, các vị trí thuận lợi ở nước
ngoài. Tuy nhiên, việc mở rộng mạng lưới là cần thiết nhưng cần chọn nơi hội
đủ điều kiện có lợi cho hệ thống, nếu không sẽ gây trở ngại về vốn cũng như
nhân lực, tăng chi phí và giảm lợi nhuận cho ngân hàng.
Để có thể đưa sản phẩm, dịch vụ ngân hàng đến khách hàng một cách
tốt nhất, NHTM phải xây dựng tốt chiến lược marketing bao gồm:
+ Quảng bá thương hiệu;
+ Tiếp thị và xúc tiến thương mại;
+ Phát triển công nghệ và nghiệp vụ tiên tiến;
+ Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh;
+ Phát triển sản phẩm dịch vụ gắn với phát triển thị trường
Để mở rộng thị phần bán lẻ, các ngân hàng cần phát triển các hình thức
phân phối cùng nhiều tiện ích:
• Kênh phân phối truyền thống, bao gồm: Hệ thống các chi nhánh;
Ngân hàng đại lý.
• Kênh phân phối hiện đại: Trước năm 1950, các ngân hàng thường
phát triển mạnh mẽ mạng lưới chi nhánh để mở rộng thị phần và gây sức
ép lên đối thủ cạnh tranh. Tuy nhiên, từ năm 1980 trở lại đây, các kênh
phân phối hiện đại với ưu thế về nhiều mặt đang dần trở thành xu hướng
bình quân phải trên 10%/năm, các NHTM đều phải có tỷ lệ vốn tối thiểu tương
ứng với tài sản sinh lời. Vốn tự có cũng quyết định quy mô đầu tư tài sản cố
định, phát triển mạng lưới, công nghệ, cho vay khách hàng lớn và đầu tư góp
vốn liên doanh, liên kết, lập công ty con. Nếu vốn tự có quá nhỏ, Ngân hàng sẽ
mất cơ hội trên. Để đánh giá chỉ tiêu này, thường người ta đánh giá thông qua
quy mô vốn chủ sở hữu và quy mô tài sản có của ngân hàng.
• Quy mô và khả năng huy động vốn:
17
Khả năng huy động vốn là một trong những tiêu chí đánh giá tình hình
hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Khả năng huy động vốn còn thể hiện
tính hiệu quả, năng lực và uy tín của ngân hàng đó trên thị trường. Khả năng
huy động vốn tốt cũng đồng nghĩa với việc ngân hàng đó sử dụng các sản phẩm
dịch vụ, hay công cụ huy động vốn có hiệu quả, thu hút được khách hàng.
Quy mô huy động vốn phụ thuộc vào vốn tự có qua chỉ số “đòn bẩy huy
động” vốn, tức là mức huy động vốn được bao nhiêu lần so với vốn tự có. Nếu
vốn tự có thấp mà huy động quá nhiều sẽ làm cho hệ số an toàn vốn tối thiểu
giảm xuống, do phải tăng tài sản có.
• Khả năng thanh khoản
Theo chuẩn mực quốc tế, khả năng thanh khoản của ngân hàng thể hiện
qua tỷ lệ giữa tài sản Có có thể thanh khoản ngay với tài sản Nợ phải thanh
toán ngay. Chỉ tiêu này đo lường khả năng ngân hàng có thể đáp ứng được
nhu cầu rút tiền của người gửi tiền. Khi nhu cầu về rút tiền của người gửi tiền
bị giới hạn, thì uy tín của ngân hàng bị giảm một cách đáng kể, kết quả
NHTM đó sẽ bị phá sản.
• Khả năng sinh lời
Đánh giá chỉ tiêu này theo 02 tỷ số cơ bản :
- Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA- Return on assets)
ROA = Lợi nhuận ròng / Tổng tài sản bình quân * 100
Với chỉ tiêu này cho biết 100 đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợi
nhuận, tài sản có sinh lời càng lớn thì tỷ số này càng lớn.