Phát triển kinh tế huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc đến năm 2020 - Pdf 22


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
TRẦN BÁ KIÊN
PHÁT TRIỂN KINH TẾ HUYỆN BÌNH XUYÊN,
TỈNH VĨNH PHÚC ĐẾN NĂM 2020

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Phí Vĩnh Tƣờng

THÁI NGUYÊN - 2014

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu


Tôi xin chân thành cảm ơn ! .

Vĩnh Phúc, ngày 03 tháng 8 năm 2014
Tác giả luận văn Trần Bá Kiên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4. Phương pháp nghiên cứu 4
5. Đóng góp của luận văn 4
6. ủa luận văn 5
Chƣơng 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TĂNG
TRƢỞNG KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN 6
1.1. Lý luận về tăng trưởng kinh tế và phát triển 6
1.1.1. Khái niệm về tăng trưởng kinh tế 6
1.1.2. Đo lường tăng trưởng kinh tế 7
1.1.3. Khái niệm phát triển 10

3.1.7. Tài nguyên khoáng sản 35
3.1.8. Tài nguyên du lịch và nhân văn 35
3.2. Dân số và nguồn lao động 36
3.2.1. Dân số 36
3.2.2. Lao động 37
3.3. Thực trạng phát triển kinh tế huyện Bình Xuyên 38
3.3.1. Tổng quan về phát triển kinh tế huyện Bình Xuyên 38
3.3.2. Thực trạng phát triển của các ngành kinh tế 45
3.4. Đánh giá chung 63
3.4.1. Những kết quả đã đạt được 63

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

v
3.4.2. Những mặt hạn chế 65
3.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế 67
Chƣơng 4. ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂ
2020 68
4.1. Bối cảnh và dự báo 68
4.1.1. Bối cảnh quốc tế và khu vực đến năm 2020 68
4.1.2. Tầm nhìn phát triển kinh tế Vĩnh Phúc đến năm 2020 70
4.2. Quan điểm, Mục tiêu và định hướng phát triển của huyện Bình Xuyên 73
4.2.1. Quan điểm 73
4.2.2. Mục tiêu 74
4.3. Các giải pháp phát triển kinh tế huyện 75
4.3.1. Định hướng giải pháp 75
4.3.2. Mô hình ma trận SWOT của huyện Bình Xuyên 75
4.3.3. Giải pháp cụ thể 77
4.4. Một số kiến nghị 97
4.4.1. Đối với cấp Trung ương và cấp tỉnh 97

UBND : ủy ban nhân dân
(UNDP) : Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc
WHO : Tổ chức y tế thế giới
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

vii
DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1. Diện tích và cơ cấu sử dụng đất huyện Bình Xuyên, năm 2013 33
Bảng 3.2. Dân số huyện Bình Xuyên giai đoạn 2005 - 2013 36
Bảng 3.3. Lao động làm việc trong các ngành kinh tế giai đ 2005-2013 . 37
Bảng 3.4. Một số chỉ tiêu phát triển KT-XH giai đoạn 2005-2013 43
Bảng 3.5. Kết quả phát triển ngành nông nghiệp giai đoạn 2005-2013 46
Bảng 3.6. So sánh năng suất và sản lượng một số loại cây trồng của Bình
Xuyên với các huyện khác trong tỉnh năm 2013 50
Bảng 3.7. Kết quả phát triển ngành công nghiệp-xây dựng 2005-2013 55
Bảng 4.1. Dự báo các chỉ tiêu phát triển kinh tế tỉnh Vĩnh Phúc 2015-2020 . 72
Bảng 4.2. Ma trận SWOT của huyện Bình Xuyên 76 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập ngày 01 tháng 9 năm
1998. Sau khi tách ra từ huyện Tam Đảo, huyện Bình Xuyên có 14 đơn vị

Xuyên cũng đang phải đối mặt với thách thức cải thiện môi trường chính sách,
góp phần không những thu hút đầu tư vì mục tiêu tăng trưởng mà còn tạo điều
kiện để những người dân trong huyện có đủ năng lực để hưởng thụ các cơ hội
đầu tư do Tỉnh và Huyện mang lại.
Để đạt được mục tiêu nói trên, huyện Bình Xuyên cần chủ động ban
hành những chính sách nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển.
Những chính sách đó cần có những luận chứng khoa học, đánh giá đúng tiềm
năng, thế mạnh của Huyện cũng như những hạn chế và nguyên nhân của
những hạn chế này. Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về tình hình phát triển của
tỉnh Vĩnh Phúc, nhưng những vấn đề riêng có của huyện Bình Xuyên chưa
được quan tâm nghiên cứu. Chưa có nhiều nghiên cứu đề xuất chính sách cho
huyện Bình Xuyên, đặc biệt nghiên cứu những vấn đề phát triển trong giai
đoạn vừa qua với những hàm ý chính sách để đạt được mục tiêu đến năm
2020 trở thành huyện tăng trưởng kinh tế cao và có năng lực duy trì được tốc
độ tăng trưởng cao.
Là một người trực tiếp ở huyện Bình Xuyên, tôi có những
điều kiện thuận lợi trong việc nh chính sách phát triển của
Huyện. Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “Phát triển kinh tế huyện Bình Xuyên,
tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020” làm luận văn tốt nghiệp. Đề tài này sẽ góp
phần luận giải những vấn đề phát triển của huyện Bình Xuyên hiện nay và
những yêu cầu chính sách cần có để đạt được mục tiêu phát triển đã được đề
ra trên cơ sở khai thác tốt các thế mạnh, tiềm năng vốn có của Huyện.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu
Trên cơ sở hệ thống lý luận tăng trưởng kinh tế, đánh giá đúng thực

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

3
trạng phát triển của Huyện, luận giải những vấn đề phát triển để đề xuất

4
chính sách từ nay đến 2015 cũng như cho giai đoạn 2016-2020.
3.2.3. Phạm vi ngành, lĩnh vực: Đề tài đánh giá tổng quan vấn đề ở cấp ngành
vốn có trong cơ cấu kinh tế huyện Bình Xuyên.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của kinh tế học phát triển, cũng như
dựa trên các định hướng phát triển của Đảng, Chính phủ và của chính quyền
tỉnh Vĩnh Phúc. Những định hướng phát triển đó được thể hiện trong các văn
bản như các chỉ thị, nghị quyết của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Vĩnh Phúc, của
Huyện ủy- UBND huyện Bình Xuyên.
* Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sẽ sử dụng phương pháp phân tích định tính làm cơ sở.
Những phân tích định tính được hỗ trợ bởi các phương pháp phân tích
thống kê phù hợp. Bên cạnh đó, đề tài sẽ sử dụng phương pháp SWOT để
đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu cũng như những cơ hội và thách
thức phát triển của địa phương.
Các số liệu để phục vụ cho phương pháp phân tích định tính sẽ là các
số liệu sơ cấp và thứ cấp, được lấy từ cơ quan thống kê của Huyện, cũng như
từ các báo cáo phát triển kinh tế xã hội, các qui hoạch phát triển kinh tế xã hội
của Huyện và của Tỉnh.
5. Đóng góp của luận văn
* Những đóng góp về mặt lý luận
Hệ thống hóa những lý luận về tăng trưởng kinh tế và phát triển đối với
một địa phương cấp huyện,
Luận giải vai trò, vị trí của chính quyền cấp huyện đối với nhiệm vụ
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển, đặt trong mục tiêu chung của Tỉnh.
* Những đóng góp về mặt thực tiễn
Trên cơ sở tổng hợp phân tích, đánh giá kết quả phát triển của huyện

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

6

Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
VỀ TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
1.1. Lý luận về tăng trƣởng kinh tế và phát triển
1.1.1. Khái niệm về tăng trưởng kinh tế
Hiện nay mọi quốc gia đều phấn đấu vì mục tiêu tăng trưởng kinh tế
và phát triển. Tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần của sự phát triển. Muốn
phát triển, trước hết phải tạo được thêm của cải, vật chất, tức là phải cải
thiện được năng lực sản xuất của nền kinh tế. Đây là lý do tại sao các nền
kinh tế kém phát triển, đang phát triển lại đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế
là mục tiêu ưu tiên hàng đầu.
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập/sản phẩm bình quân
đầu người hoặc thu nhập/sản phẩm quốc dân. Khi sản phẩm hoặc thu nhập
quốc dân của một nền kinh tế tăng lên cùng với quá trình sản xuất hàng hóa
và dịch vụ, nền kinh tế đó đạt được sự tăng trưởng.
Tăng trưởng kinh tế là phạm trù kinh tế diễn tả động thái biến đổi về
mặt số lượng sản phẩm hàng hoá dịch vụ của nền kinh tế. Nền kinh tế có tốc
độ tăng trưởng cao, liên tục sẽ có điều kiện nâng cao thu nhập, nâng cao chất
lượng cuộc sống của nhân dân, có tích luỹ để tái đầu tư, mở rộng sản xuất, thu
hút lao động, có khả năng đầu tư cho giáo dục, y tế để nâng cao chất lượng
lao động, có điều kiện để phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật và có điều kiện
thực hiện chính sách xã hội. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế chưa đề cập đến
mối quan hệ của sự gia tăng khối lượng của cải với các vấn đề xã hội phát
sinh từ quá trình gia tăng của cải đó.

trong nước hay người ngoại quốc. Tuy nhiên nó không bao gồm giá trị sản
lượng được tạo ra bởi người trong nước nhưng đang hoạt động ở nước ngoài.
Các giá trị GNP và GDP đó chia cho dân số của một quốc gia sẽ được thước
đo bình quân đầu người.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

8
Một trong những hạn chế của hai thước đo trên là việc đo lường phải
dựa trên việc tính toán thông qua thước đo giá trị. Việc tập trung vào các hàng
hóa, dịch vụ được trao đổi trên thị trường trước hết gây ra vấn đề bỏ sót, bởi
có rất nhiều các hoạt động có giá trị đối với xã hội đã bị loại ra khỏi quá trình
tính toán trong tổng sản phẩm quốc nội. Nguyên nhân căn bản là các thước đo
này là sản phẩm của một nền kinh tế thị trường đã phát triển, nơi có sự phân
công lao động xã hội theo hướng chuyên môn hóa cao, nơi các chi phí cơ hội
đều được nhận thức đầy đủ và minh bạch.
Khi công việc nội trợ, trông giữ trẻ được thực hiện thông qua việc sử
dụng các dịch vụ của xã hội, như dịch vụ người giúp việc được Việt Nam sử
dụng với thuật ngữ Ô-sin, các chi phí cho dịch vụ đó sẽ được tính trong GDP
vì những dịch vụ đó đã được “giao dịch trên thị trường”. Tuy nhiên, khi các
dịch vụ tương tự như thế được một hay một số thành viên trong gia đình thực
hiện, nó sẽ không được trả phí dịch vụ dưới dạng tiền lương và do đó không
được tính trong cấp phần của GDP.
Đối với các nền kinh tế kém phát triển và đang phát triển, con người có
xu hướng tận dụng sức lao động của các thành viên trong gia đình hơn là thuê
các dịch vụ xã hội. Có rất nhiều nguyên nhân giải thích cho xu hướng này.
Thứ nhất, do cơ cấu nền kinh tế vẫn còn nặng tính chất của nền kinh tế nông
nghiệp, nơi thiếu sự phân công lao động xã hội, những người lao động vẫn có
xu hướng sản xuất theo kiểu tự cung tự cấp. Thứ hai, do năng suất thấp dẫn
tới thu nhập thấp và ngân sách có khả năng thanh toán cho việc sử dụng một số

người ta dễ dàng bỏ qua việc khấu trừ giá trị do ô nhiễm và những tổn hại xã
hội khác do quá trình sản xuất hàng hóa và dịch vụ tạo ra.
Bên cạnh đó, nền kinh tế luôn tồn tại hai khu vực. Đó là khu vực kinh
tế chính thức và khu vực kinh tế ngầm. Những sản phẩm hàng hóa và dịch vụ
được tạo ra bởi khu vực kinh tế ngầm, ở nhiều quốc gia đã phát triển như Mỹ,
hay một số nước tư bản khác, có thể tương đương hoặc lớn hơn giá trị của nền
kinh tế chính thức. Các hàng hóa và dịch vụ đó cũng được giao dịch trên thị

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

10
trường nhưng không thể và không được tính toán vào trong giá trị của GDP
của nền kinh tế đó.
Trong nền kinh tế hiện đại, phúc lợi kinh tế ròng (NEW) đã cố gắng
khấu trừ chi phí của sự ô nhiễm, phạm pháp, tắc nghẽn giao thông và những
“điều xấu khác”, được các nhà kinh tế đưa ra như là một đơn vị đo lường thu
nhập quốc dân tốt hơn. Tuy nhiên, nó không được chấp nhận sử dụng rộng rãi.
Mặc dù còn những điểm khiếm khuyết, đối với nền kinh tế quốc dân, GDP
vẫn được sử dụng rộng rãi.
Đối với nền kinh tế của một địa phương, giá trị GDP có những hạn chế
nhất định trong việc ước tính, cả về giá trị tuyệt đối và cả về tốc độ tăng
trưởng. Những vấn đề trong tính toán giá trị tuyệt đối đã được trình bầy ở trên.
Và để khắc phục, một số nhà thống kê đã đề nghị thay thế việc tính kết quả
tăng trưởng kinh tế dựa trên GDP của địa phương bằng việc tính toán dựa trên
giá trị tổng sản lượng (GO). Tuy nhiên, bản thân giá trị tổng sản lượng cũng
vẫn còn nhiều hạn chế mà đề tài sẽ không bàn đến do vượt qua phạm vi đối
tượng nghiên cứu. Bên cạnh đó, với địa phương có qui mô kinh tế nhỏ, một
sự thay đổi nhỏ về giá trị có thể dẫn tới những thay đổi lớn về kết quả tăng
trưởng. Chính vì vậy trong luận văn này sẽ luôn phân tích dựa trên sự kết hợp
của cả giá trị tuyệt đối và tốc độ tăng trưởng.

được trả lương cao hơn. Nếu tăng trưởng kinh tế mà không tạo ra được sự
chuyển dịch cơ cấu thì nó phản ánh sự tập trung nguồn thu trong một nhóm
dân cư của nền kinh tế. Mặc dù tăng trưởng kinh tế không đi kèm với phát
triển rất hiếm khi gặp phải, và không mang tính qui luật, nhưng nó không phải
là điều không thể xảy ra. Kinh nghiệm của Ghine Xích đạo là một ví dụ minh
chứng cho trường hợp có tăng trưởng kinh tế nhưng không có phát triển.
Các nền kinh tế trên thế giới theo đuổi mục tiêu tăng trưởng kinh tế và
phát triển với các xuất phát điểm hết sức đa dạng, phong phú và những đặc
điểm riêng này ảnh hưởng quan trọng đến sự lựa chọn phát triển của họ. Tuy
nhiên, kinh nghiệm phát triển đa dạng và phong phú cho thấy mỗi quốc gia
ngày nay không nhất thiết phải rập khuôn theo đúng tiến trình phát triển mà
các nước phát triển đã trải qua. Với mỗi cái gọi là điều kiện tiên quyết cho sự

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

12
phát triển diễn ra thì thường có một số lựa chọn chiến lược thay thế khác nhau
để mỗi nước sử dụng.
1.1.4. Mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển kinh tế
Các chỉ tiêu đo lường mức tăng trưởng kinh tế được sử dụng làm thước
đo trình độ phát triển nền kinh tế một cách cụ thể. Ở một góc độ nào đó tăng
trưởng kinh tế không phản ảnh được chính xác phúc lợi của các nhóm dân cư
khác nhau trong xã hội, chênh lệch giàu nghèo có thể tăng lên, chênh lệch giữa
nông thôn và thành thị có thể tăng cao và bất bình đẳng xã hội cũng có thể
tăng. Tăng trưởng có thể cao nhưng chất lượng cuộc sống có thể không
tăng, môi trường có thể bị hủy hoại, tài nguyên bị khai thác quá mức, cạn kiệt,
nguồn lực có thể sử dụng không hiệu quả, lãng phí.
Như vậy giữa tăng trưởng và phát triển có mối quan hệ mật thiết với
nhau. Tăng trưởng là điều kiện, tiền đề cho sự phát triển và ngược lại sự
phát triển về mọi mặt của nền kinh tế sẽ là động lực để đẩy nhanh tốc độ

Mục tiêu 8: Tạo lập quan hệ đối tác toàn cầu vì sự phát triển.
Có thể thấy rằng, để đánh giá được các thành tựu của nền kinh tế cần có
những khái niệm và thước đo. Mặc dù còn nhiều hạn chế, GDP bình quân đầu
người và do đó tăng trưởng GDP bình quân đầu người vẫn là chỉ tiêu phổ
dụng ở cấp độ quốc gia. Tuy nhiên, như đã lý luận ở trên, đối với các vùng
kinh tế thuộc một nền kinh tế, đặc biệt theo địa giới hành chính, còn nhiều
hạn chế và GDP không được đo lường một cách chính xác. Thay vào đó, giá
trị tổng sản lượng có thể là một chỉ tiêu tốt. Tuy nhiên trong đề tài này, việc
sử dụng các chỉ tiêu thay thế tốt hơn sẽ không được thực hiện do những hạn
chế về năng lực, về tính sẵn có của số liệu.
Mặc dù tăng trưởng kinh tế là thước đo tương đối khách quan về năng
lực kinh tế. Phát triển, đôi khi còn được dùng là phát triển kinh tế lại là khái
niệm mang tính chuẩn tắc. Các chỉ số phát triển con người (HDI) hay các mục
tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGs) có thể là những chỉ tiêu tốt nhất đến nay
có được để phản ánh sự phát triển của mỗi nền kinh tế. Tuy nhiên vẫn còn
những thách thức đối với việc áp dụng vào một địa phương. Mặc dù vậy, nó
vẫn có những giá trị trong việc giúp các nhà hoạch định chính sách cấp địa

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

14
phương trong quá trình ra quyết định, như xây dựng chiến lược, kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội của mình.
1.2. Các nhân tố ảnh hƣởng đến tăng trƣởng kinh tế
Mặc dù phần thứ nhất đã bàn về tăng trưởng kinh tế và đo lường tăng
trưởng kinh tế, nên đáng lẽ việc trình bày các nhân tố ảnh hưởng đến tăng
trưởng kinh tế cũng phải trình bày trong phần một. Tuy nhiên do tầm quan
trọng của việc xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng, với ý nghĩa là
cơ sở phân tích thực trạng phát triển và hàm ý chính sách, đề tài quyết định
tách riêng việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế như

Tuy nhiên cũng thấy rằng tăng trưởng này không phải là yếu tố quyết định
đến phát triển, đặc biệt những biến động chính trị đối với chính quyền
Mubarak và cách mạng Ai-cập năm 2011. Trong nhóm này có khoảng 8 quốc
gia khác.
Nhóm thứ tư làm được nhiều hơn thế. Trong cùng giai đoạn 1960-2003,
các nước này đã đẩy thu nhập bình quân đầu người tăng trưởng với mức lớn
hơn 3%/năm. Một số nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao hơn mức tăng
trưởng 5% năm như Singapore, Hàn Quốc. Đây là mốc tăng trưởng cao của
thế giới trong 4 thập kỷ phát triển. Ví dụ Singapore đạt mức tăng trưởng
10,7%/năm hay Hàn Quốc đạt mức tăng trưởng 11,36% năm trong giai đoạn
1960-2003. Các mức tăng trưởng này tạo ra sự khác biệt rất lớn. Với mức
tăng trưởng bình quân 1%/năm thì phải sau 70 năm thu nhập bình quân đầu
người mới tăng gấp đôi. Trong khi đó, với mức tăng trưởng bình quân đầu
người 7%/năm, quá trình tăng gấp đôi thu nhập bình quân đầu người rút
xuống chỉ còn 7 năm.
1.2.2. Vai trò của các yếu tố sản xuất đối với tăng trưởng kinh tế
Các nhà kinh tế và các nhà hoạch định chính sách đã nỗ lực tìm hiểu
các yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế. Trong các lý thuyết về tăng trưởng
kinh tế, đó là mối quan hệ giữa các yếu tố vốn và lao động với yếu tố tổng sản
lượng của nền kinh tế.
Một số nền kinh tế được thiên nhiên ưu đãi, ban tặng các nguồn vốn tự

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

16
nhiên nhu dầu mỏ, vàng, kim cương, cao su … và có thể khai thác để phục vụ
mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Thông qua việc khai thác, sử dụng các nguồn tài
nguyên, các nền kinh tế đó đẩy nhanh được quá trình tích lũy vốn trong tăng
trưởng kinh tế và thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển.
Theo các mô hình tăng trưởng kinh tế, tổng sản lượng là một hàm số

suất sử dụng các yếu tố đầu vào.
Có nhiều mô hình giải thích sự tăng trưởng kinh tế trong mối quan hệ
với sự tích lũy các yếu tố sản xuất cũng như các yếu tố tác động đến quá trình
tích lũy các yếu tố sản xuất này. Một trong những mô hình tăng trưởng căn
bản, được các nhà kinh tế và các nhà hoạch định chính sách sử dụng, nhất là
trong công tác qui hoạch, dự báo phát triển, là mô hình tăng trưởng Solow.
Đương nhiên, như sẽ phân tích ở dưới, mô hình này cũng có những điểm hạn
chế, thể hiện ở tư tưởng trọng vốn. Các mô hình mới đã có những điều chỉnh
bổ sung yếu tố con người, nhưng không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Ý tưởng chính của mô hình Solow và của nhiều mô hình khác có những
điểm chính sau:
Đầu tư mới làm tăng quĩ vốn. Đầu tư vào máy móc, nhà xưởng thiết bị
trực tiếp gia tăng quĩ vốn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng sản xuất.
Để tăng quĩ vốn, giá trị của các khoản đầu tư mới phải lớn hơn giá trị khấu
hao lượng vốn hiện có. Các nhà máy và máy móc thường hao mòn dần theo
thời gian, và một lượng nhất định trong phần đầu tư mới là cần thiết để duy trì
qui mô vốn như cũ. Đầu tư lớn hơn phần khấu hao trực tiếp sẽ bổ sung quĩ
vốn. Đầu tư phải lớn hơn mức khấu hao và mức tăng trưởng của lực lượng lao
động để có sự gia tăng vốn trên mỗi công nhân.
Đầu tư được hình thành từ tiết kiệm. Một trong những phương trình cơ
bản của tài khoản quốc gia là đầu tư bằng tiết kiệm. Điều này hàm ý nhân tố
tiết kiệm chính là một trong những nhân tố quyết định việc tích lũy vốn cho
nền kinh tế
Nguồn gốc của tiết kiệm: Được hình thành từ những khoản thu nhập
hiện tại. Tiết kiệm được hình thành từ các cấu phần như tiết kiệm của hộ gia

Trích đoạn Những mặt hạn chế Nguyên nhân của những hạn chế Tầm nhìn phát triển kinh tế Vĩnh Phúc đến năm 2020 Quan điểm Mô hình ma trận SWOT của huyện Bình Xuyên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status