Trường ĐHHH Bài tập lớn kinh tế vĩ mô Khoa KTVTB
Kinh tế học là môn học ra đời cách đây hơn hai thế kỷ. Từ đó đến nay
kinh tế học đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển và cũng đã xuất hiện khá
nhiều định nghĩa. Một trong số định nghĩa thông dụng về kinh tế học được
nhiều nhà kinh tế hiện nay thống nhất đó là : “Kinh tế học là môn khoa học
nghiên cứu xem xã hội sử dụng như thế nào nguồn tài nguyên khan hiếm để
sản xuất ra những hàng hoá cần thiết và phân phối cho các thành viên của
xã hội.”.
Như vậy, kinh tế học là môn học nghiên cúu hoạt động của con người
trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá. Kinh tế học có quan hệ chặt chẽ với
nhiều môn khoa học xã hội khác như: Triết học, chính trị học, sử học , xã
hội học… và có liên quan tới một số môn học khác, đặc biệt là thống kê học.
Kinh tế học thường được chia thành hai phân ngành lớn: Kinh tế học vi
mô và Kinh tế học vĩ mô. Kinh tế vi mô nghiên cứu sự hoạt động của các tế
bào trong nền kinh tế là các doanh nghiệp hoặc các hộ gia đình, nghiên cứu
những yếu tố quyết định giá cả trong các thị trường riêng lẻ… Trong khi
đó , Kinh tế vĩ mô nghiên cứu hoạt động của toàn bộ tổng thể rộng lớn của
nền kinh tế như tăng trưởng kinh tế, sự biến động của giá cả và việc làm của
cả nước; cán cân thanh toán và tỉ giá hối đoái…
Như đã trình bày, một trong những vấn đề quan trọng mà Kinh tế học vĩ
mô quan tâm nghiên cứu là cán cân thanh toán quốc tế. Việt Nam nhìn
chung thâm hụt cán cân thanh toán. Vậy tầm quan trọng của cán cân thanh
toán đối với nền kinh tế như thế nào? Chúng ta sẽ cùng nhau nghiên cứu về
Sinh viên: Vũ Thị Lê
Lớp: KTB 50-ĐH3
1
Trường ĐHHH Bài tập lớn kinh tế vĩ mô Khoa KTVTB
cán cân thanh toán quốc tế và các nhân tố ảnh hưởng đến cán cân thanh
toán quốc tế. Là người học tập và nghiên cứu về Kinh tế học vĩ mô, việc nắm
vững các kiến thức về cán cân thanh toán và làm thế nào để giữ cân bằng
cán cân thanh toán là một bài toán khó mà yêu cầu chúng ta phải tìm hiểu
Sinh viên: Vũ Thị Lê
Lớp: KTB 50-ĐH3
3
Trường ĐHHH Bài tập lớn kinh tế vĩ mô Khoa KTVTB
Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu sự vận động và những mối quan hệ kinh tế
chủ yếu của một đất nước trên bình diện toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Nghĩa là kinh tế học vĩ mô nghiên cứu sự lựa chọn của mỗi quốc gia trước
những vấn đề kinh tế xã hội cơ bản như: tăng trưởng, lạm phát, thất nghiệp,
xuất nhập khẩu hàng hoá và tư bản, sự phân phối nguồn lực và phân phối thu
nhập giữa các thành viên trong xã hội . Cụ thể là:
• Làm thế nào để tăng trưởng nhanh và ổn định.
• Làm thế nào để kiềm chế lạm phát.
• Làm thế nào để tạo được việc làm cho người lao động.
• Làm thế nào để ổn định tỉ giá hối đoái và cân bằng cán cân thanh toán.
• Làm thế nào để phân bổ nguồn lực một cách hợp lý và phân phối của
cải một cách công bằng giữa các thành viên trong xã hội.
Muốn giải quyết những vấn đề nêu trên một cách có căn cứ khoa học,
kinh tế vĩ mô cố gắng mô tả và giải thích sự vận động của guồng máy kinh
tế quốc dân bằng cách nghiên cứu mối quan hệ giữa các tổng lượng kinh tế
vĩ mô chủ yếu như: Tổng sản phẩm quốc dân, mức giá chung, lãi suất, tỉ giá
hối đoái…
Những vấn đề then chốt được kinh tế học vĩ mô quan tâm nghiên cứu bao
gồm mức sản xuất, thất nghiệp, mức giá chung và cán cân thương mại của
một nền kinh tế. Phân tích kinh tế học vĩ mô hướng vào giải đáp các câu hỏi
như: Điều gì quyết định giá trị hiện tại của các biến số này? Điều gì quy
định những thay đổi của các biến số này trong ngắn hạn và dài hạn? Thực
chất chúng ta khảo sát mỗi biến số này trong những khoảng thời gian khác
nhau: hiện tại, ngắn hạn và dài hạn. Mỗi khoảng thời gian đòi hỏi chúng ta
phải sử dụng các mô hình thích hợp để tìm ra các nhân tố quyết định các
biến kinh tế vĩ mô này.
Sinh viên: Vũ Thị Lê
Lớp: KTB 50-ĐH3
5
Trường ĐHHH Bài tập lớn kinh tế vĩ mô Khoa KTVTB
hóa, luân chuyển các yếu tố sản xuất như vốn, lao động và kĩ thuật trên thế
giới ngày càng thông thoáng hơn, một vấn đề được kinh tế học vĩ mô hiện
đại quan tâm nghiên cứu là cán cân thương mại. Tầm quan trọng của cán
cân thương mại là gì điều gì quyết định sự biến động của nó trong ngắn hạn
và dài hạn? Để hiểu cán cân thương mại vấn đề then chốt cần nhận thức là
mất cân bằng thương mại liên quan chặt chẽ với dòng chu chuyển vốn quốc
tế. Nhìn chung, khi một nước nhập khẩu nhiều hàng hóa hơn từ thế giới bên
ngoài so với xuất khẩu, nước đó cần phải trang trải cho phần nhập khẩu dôi
ra đó bằng cách vay tiền từ thế giới bên ngoài, hoặc phải giảm lượng tài sản
quốc tế hiện nắm giữ. Ngược lại, khi xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu, thì
nước đó sẽ tích tụ thêm tài sản của thế giới bên ngoài. Như vậy, nghiên cứu
về mất cân bằng thương mại liên quan chặt chẽ với việc xem xét tại sao các
công dân một nước lại đi vay hoặc cho vay các công dân nước khác vay tiền.
Một quốc gia có thể có lựa chọn khác nhau tùy thuộc vào các ràng buộc
của họ về các nguồn lực kinh tế và các hệ thống chính trị - xã hội. Song, sự
lựa chọn đúng đắn nào cũng cần đến những hiểu biết sâu sắc về hoạt động
mang tính khách quan của hệ thống kinh tế. Kinh tế học vĩ mô sẽ cung cấp
những kiến thức và công cụ phân tích kinh tế đó. Những kiến thức và công
cụ phân tích này được đúc kết từ nhiều công trình nghiên cứu và tư tưởng
của nhiều nhà khoa học kinh tế thuộc các thế hệ khác nhau. Ngày nay, chúng
càng được hoàn thiện thêm để có thể mô tả chính xác hơn đời sống kinh tế
vô cùng phức tạp của chúng ta.
b. Phương pháp nghiên cứu môn Kinh tế học vĩ mô.
Trong khi phân tích các hiện tượng và mối quan hệ kinh tế quốc dân, Kinh
tế học vĩ mô sử dụng chủ yếu phương pháp phân tích cân bằng tổng hợp.
Theo phương pháp này, kinh tế học vĩ mô, khác với kinh tế học vi mô, xem
Lớp: KTB 50-ĐH3
7
Trường ĐHHH Bài tập lớn kinh tế vĩ mô Khoa KTVTB
nhân và gia đình,những kiến thức trong tiêu dùng,biến động của chỉ số giá, tỉ
giá hối đoái hay thất nghiệp và cơ hội việc làm cho bản thân…
Trong chương trình học đại học kinh tế học vĩ mô có vai trò quan trọng
trong việc tiếp tục bổ sung cho kinh tế học vi mô, đồng thời trang bị cho
sinh viên tầm nhìn kinh tế sâu rộng hơn trên phạm vi kinh tế quốc gia với
vai trò của một nhà hoạch định kinh tế cho đất nước. Đối với một sinh viên
ngành Kinh tế, việc học tập tốt kinh tế vĩ mô là vô cùng cần thiết do đây là
một trong những môn học cơ sở cực kì quan trọng, làm nền tảng cho các
môn học chuyên ngành kinh tế sau này. Có nắm vững được các kiến thức
kinh tế vĩ mô thì mới có thể học tập và nghiên cứu những môn học chuyên
môn đạt kết quả tốt được.
=>Vì vậy, việc học tập và nghiên cứu kinh tế vĩ mô là cần thiết với tất cả
sinh viên nói chung, đặc biệt hơn là với sinh viên học kinh tế, để có một kiến
thức và tầm nhìn tổng quát về kinh tế nhất là trong điều kiện kinh tế hội
nhập hiện nay.
Sinh viên: Vũ Thị Lê
Lớp: KTB 50-ĐH3
8
Trường ĐHHH Bài tập lớn kinh tế vĩ mô Khoa KTVTB
B/ Cán cân thanh toán quốc tế - Kết cấu và các nhân tố ảnh hưởng.
I/ Khái niệm và kết cấu của Cán cân thanh toán quốc tế.
Cán cân thanh toán quốc tế là một bản kết toán tổng hợp tất cả những
giao dịch giữa công dân và Chính phủ của một nước với công dân và chính
phủ của một nước khác về toàn bộ luồng buôn bán hàng hóa và dịch vụ, các
luồng chu chuyển vốn và tài sản.
Cán cân thanh toán có hình thức như một tài khoản gồm bên có và bên nợ.
Quy tắc để xử lý việc ghi vào bên có hay bên nợ của bất kì khoản mục nào là
được gộp chung vào trong tính toán này.Đối với phần lớn các quốc gia thì
cán cân thương mại là thành phần quan trọng nhất trong tài khoản vãng lai.
Tuy nhiên, đối với một số quốc gia có phần tài sản hay tiêu sản ở nước ngoài
lớn thì thu nhập ròng từ các khoản cho vay hay đầu tư có thể chiếm tỷ lệ lớn.
Vì cán cân thương mại là thành phần chính của tài khoản vãng lai, và
xuất khẩu ròng thì bằng chênh lệch giữa tiết kiệm trong nước và đầu tư trong
nước, nên tài khoản vãng lai còn được thể hiện bằng chênh lệch này.
Tài khoản vãng lai thặng dư khi chênh lệch giữa các khoản xuất khẩu với
các khoản nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ cộng với thu nhập ròng từ nước
ngoài mang dấu cộng (+), nghĩa là quốc gia xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu,
hay khi tiết kiệm nhiều hơn đầu tư. Điều này có nghĩa là số thu từ buôn bán
hàng hóa và dịch vụ và các khoản thu nhập chuyển nhượng từ nước ngoài
lớn hơn số chi của tài khoản. Mức thâm hụt tài khoản vãng lai lớn hàm ý
quốc gia gặp hạn chế trong tìm nguồn tài chính để thực hiện nhập khẩu và
đầu tư một cách bền vững. Theo cách đánh giá của IMF, nếu mức thâm hụt
tài khoản vãng lai tính bằng phần trăm của GDP lớn hơn 5, thì quốc gia bị
coi là có mức thâm hụt tài khoản vãng lai không lành mạnh.
Sinh viên: Vũ Thị Lê
Lớp: KTB 50-ĐH3
10
Trường ĐHHH Bài tập lớn kinh tế vĩ mô Khoa KTVTB
Tài khoản tư bản(còn gọi là cán cân vốn) là một bộ phận của cán cân
thanh toán của một quốc gia. Nó ghi lại tất cả những giao dịch về tài sản
(gồm tài sản thực như bất động sản hay tài sản tài chính như cổ phiếu, trái
phiếu, tiền tệ), trong đó tư nhân hoặc Chính phủ cho vay và đi vay và phần
lớn thực hiện dưới dạng mua hay bán tài sản – tài sản tài chính và tài sản
thực.
=> Cán cân thanh toán là tổng các tài khoản vãng lai và tài khoản tư bản.
Nếu một trong hai tài khoản là có và tài khoản kia là nợ với cùng một quy
mô thì cán cân thanh toán bằng không (=0). Nếu cả hai tài khoản vãng lai và
bằng cán cân thanh toán. Ngân hàng Trung Ương (nhà nước) can thiệp bằng
cách mua hoặc bán dự trữ ngoại tệ hoặc trái phiếu của Chính phủ để giữ cho
Sinh viên: Vũ Thị Lê
Lớp: KTB 50-ĐH3
12
Trường ĐHHH Bài tập lớn kinh tế vĩ mô Khoa KTVTB
tỉ giá hối đoái không đổi, hạn chế ảnh hưởng của tỉ giá hối đoái lên cân bằng
cán cân thanh toán. Hoạt động này được phản ánh vào mục kết toán chính
thức.
II/ Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến Cán cân thanh toán quốc tế.
Cán cân thanh toán quốc tế là một tài liệu hết sức quan trọng để phân
tích những biến đổi kinh tế vĩ mô trong một nền kinh tế mở. Do đó, cán cân
thanh toán có quan hệ với hầu hết các biến số kinh tế vĩ mô. Quan hệ hàm ý
rằng cán cân thanh toán tác động và bị tác động bởi các biến số kinh tế vĩ mô
đó.
Các yếu tố ảnh hưởng đến CCTTQT đó là: cán cân thương mại, lạm
phát, thu nhập quốc dân, tỷ giá hối đoái, sự ổn định kinh tế - chính trị của
đất nước, trình độ quản lý kinh tế của chính phủ.
1) Tác động của Cán cân thương mại lên Cán cân thanh toán quốc tế.
Cán cân thương mại là một mục trong tài khoản vãng lai của cán cân
thanh toán quốc tế. Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất
khẩu và nhập khẩu của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định
(quý hoặc năm) cũng như mức chênh lệch (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu) giữa
chúng.
Cán cân thương mại là giá trị xuất khẩu ròng (NX = X –Im) .Khi mức
chênh lệch là lớn hơn 0, tức là xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu, thì cán cân
thương mại có thặng dư. Ngược lại, khi mức chênh lệch nhỏ hơn 0, nhập
khẩu lớn hơn xuất khẩu thì cán cân thương mại có thâm hụt. Khi mức chênh
lệch đúng bằng 0, cán cân thương mại ở trạng thái cân bằng.
Sinh viên: Vũ Thị Lê
lên thì giá cả của hàng hóa nhập khẩu sẽ trở nên rẻ hơn trong khi giá hàng
xuất khẩu lại trở nên đắt đỏ hơn đối với người nước ngoài. Vì thế việc tỷ giá
đồng nội tệ tăng lên sẽ gây bất lợi cho xuất khẩu và thuận lợi cho nhập khẩu
Sinh viên: Vũ Thị Lê
Lớp: KTB 50-ĐH3
14
Trường ĐHHH Bài tập lớn kinh tế vĩ mô Khoa KTVTB
dẫn đến kết quả là xuất khẩu ròng giảm. Ngược lại, khi tỷ giá đồng nội tệ
giảm xuống, xuất khẩu sẽ có lợi thế trong khi nhập khẩu gặp bất lợi và xuất
khẩu ròng tăng lên.
Ví dụ : một bộ ấm chén sứ Hải Dương có giá 70.000 VND và một bộ
ấm chén tương đương của Trung Quốc có giá 33 CNY (Nhân dân tệ). Với
tỷ giá hối đoái 2.000 VND = 1 CNY thì bộ ấm chén Trung Quốc sẽ được
bán ở mức giá 66.000 VND trong khi bộ ấm chén tương đương của Việt
Nam là 70.000 VND. Trong trường hợp này ấm chén nhập khẩu từ Trung
Quốc có lợi thế cạnh tranh hơn. Nếu VND mất già và tỷ giá hối đoái thay
đổi thành 2.300 VND = 1 CNY thì lúc này bộ ấm chén Trung Quốc sẽ được
bán với giá 75.900 VND và kém lợi thế cạnh tranh hơn so với ấm chén sản
xuất tại Việt Nam.
2) Tác động của tỉ giá hối đoái lên Cán cân thanh toán quốc tế.
TGHĐ chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau nhưng đồng thời nó
cũng tác động tới nhiều mặt khác nhau của nền kinh tế trong đó quan trọng
nhất là tới hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư, tín dụng quốc tế.
Sự biến động của TGHĐ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động ngoại
thương thông qua kênh giá cả. Dựa trên TGHĐ, chúng ta có thể tính được
giá xuất nhập khẩu của một loại hàng hoá của một nước theo tiền tệ của một
nước khác. Vì vậy, tỷ giá thay đổi kéo theo sự thay đổi của giá cả hàng hoá
xuất nhập khẩu.
Về tác động của tỷ giá đến cân bằng bên ngoài: Do cán cân thanh
toán (BOP) được xem như sự cân bằng giữa xuất khẩu ròng với dòng vốn ra,
Trường ĐHHH Bài tập lớn kinh tế vĩ mô Khoa KTVTB
4) Tác động của lãi suất lên Cán cân thanh toán quốc tế.
Tài khoản tư bản hay tài khoản vốn là một trong hai bộ phân hợp
thành cán cân thanh toán. Lãi suất có tác động tới tài khoản tư bản, qua
đó tác động tới cán cân thanh toán tổng thể.
Giả sử ban đầu tài khoản vốn cân bằng tương ứng với mức lãi suất
trong nước. Khi lãi suất tăng lên , tài khoản vốn trở nên thặng dư. Nếu lãi
suất hạ xuống mức , tài khoản vốn trở nên thâm hụt.Vì vốn có quan hệ mật
thiết với lãi suất. Vì thế, cân đối tài khoản vốn cũng có quan hệ mật thiết với
lãi suất. Khi lãi suất trong nước tăng lên, đầu tư vào trở nên hấp dẫn hơn, vì
thế dòng vốn vào sẽ gia tăng, trong khi đó dòng vốn ra giảm bớt. Cán cân tài
khoản vốn, nhờ đó, được cải thiện. Ngược lại, nếu lãi suất trong nước hạ
xuống, cán cân vốn sẽ bị xấu đi. Khi lãi suất ở nước ngoài tăng lên, cán cân
tài khoản vốn sẽ bị xấu đi. Khi lãi suất tăng, đồng nội tệ trở nên có giá hơn
tức là tỉ giá đồng nội tệ tăng, đầu tư nước ngoài vào trong nước tăng, giả
định cán cân thương mại cân bằng thì cán cân thanh toán sẽ thặng dư và
ngược lại, nếu tỉ giá đồng nội tệ giảm thì cán cân thanh toán sẽ thâm hụt.
5) Tác động của thu nhập tới Cán cân thanh toán quốc tế.
Thu nhập có ảnh hưởng tới xuất nhập khẩu và sự cân bằng của cán cân
thương mại. Thu nhập quốc dân có ảnh hưởng tới nhập khẩu ngược lại thu
nhập nước ngoài ảnh hưởng tới xuất khẩu (đã trình bày ở phần 1) tác động
của cán cân thương mại )=> giả sử cán cân vốn cân bằng, sự thâm hụt hay
cân bằng của cán cân thương mại sẽ ảnh hưởng tới cân bằng cán cân thanh
toán.
Sinh viên: Vũ Thị Lê
Lớp: KTB 50-ĐH3
17
Trường ĐHHH Bài tập lớn kinh tế vĩ mô Khoa KTVTB
6) Tác động của sự ổn định kinh tế – chính trị và trình độ quản lí kinh tế
của nhà nước lên Cán cân thanh toán quốc tế.
hành nền kinh tế theo cơ chế thị trường được tích luỹ sau 15 năm đổi
mới, tình hình chính trị-xã hội ổn định, quan hệ quốc tế được mở
rộng nước ta vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức mới
phát sinh ở trong nước, thiên tai lớn gây thiệt hại nặng nề xảy ra hàng
năm, dịch SARS, cúm gia cầm tái phát từ 2003-2005 trên diện rộng, cơ
sở hạ tầng yếu kém…ở ngoài nước, tình hình chính trị sau sự kiện 11-
9-2001 có những biến động phức tạp, thị trường, giá cả hàng hoá dịch
vụ diễn biến bất lợi, giá dầu, sắt thép, vật tư nhập khẩu tăng đột biến,
Sinh viên: Vũ Thị Lê
Lớp: KTB 50-ĐH3
19
Trường ĐHHH Bài tập lớn kinh tế vĩ mô Khoa KTVTB
thị trường xuất khẩu thu hẹp, nhất và hàng dệt may, giày dép, nông
sản đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển của đất nước.
Tổng sản phẩm trong nước năm 2002 tăng 7,04% so với 2001, trong đó
khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,06%, khu vực công nghiệp và
xây dựng tăng 9,44%, khu vực dịch vụ tăng 6,54%. Trong 7,04% tăng
trưởng GDP, khu vực Công nghiệp và xây dựng đóng góp 3,45%, khu vực
dịch vụ 2,68%; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản 0,91%. Cơ cấu kinh
tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH. Tỷ trọng ngành lâm nghiệp
và thủy sản giảm từ 25,43% năm 1999 xuống còn 22,99% năm 2002; các
con số tơng ứng của khu vực công nghiệp và xây dựng là 34,49% và
38,55%; của khu vực dịch vụ là 40,08% và 38,46%.
Kinh tế tăng trưởng với tốc độ tương đối cao và cơ cấu kinh tế tiếp tục
chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Năm 2003 tổng sản phẩm trong nước tăng 7,24%, trong đó khu vực nông,
lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,42%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng
10,08%; khu vực dịch vụ tăng 6,37%.
Vốn đầu tư phát triển và cơ sở hạ tầng của nền kinh tế đã tăng lên đáng kể
trọng ngành công nghiệp và xây dựng tiếp tục tăng trưởng, dự kiến đạt
41,1%, tăng 1,1% so với năm 2003. Đặc biệt tỷ trọng ngành dịch vụ sau 3
năm liên tục giảm thì năm 2004 đã có xu hướng phục hồi, dự kiến đạt
38,5% (năm 2003 là 38,2%). Giá trị công nghiệp tăng 15,6%, trong đó giá
trị tăng thêm đạt 10,6%, cao nhất từ nhiều năm nay đã góp phần vào tăng
trưởng chung của nền kinh tế.
Theo Uỷ ban Kinh tế và Xã hội khu vực châu Á-Thái Bình Dương
(ESCAP), với tốc độ tăng trưởng 8,4%, mức cao kỷ lục trong vòng 5 năm
trở lại đây, là một con số biết nói lên tất cả, Việt Nam là nền kinh tế tăng
trưởng nhanh nhất ở khu vực Đông Nam Á trong năm 2005. Chỉ số năng
Sinh viên: Vũ Thị Lê
Lớp: KTB 50-ĐH3
21
Trường ĐHHH Bài tập lớn kinh tế vĩ mô Khoa KTVTB
lực cạnh tranh tăng trưởng của Việt Nam giảm từ 77 xuống 81, chỉ số năng
lực cạnh tranh doanh nghiệp từ 79 xuống 80. Chỉ số phát triển con người
của Việt Nam năm 2005 tăng 4 bậc, lên mức 108.
Kết quả điều tra kinh tế xã hội trong khu vực của ESCAP cho thấy, ngành
sản xuất là động lực chủ yếu của nền kinh tế và tăng trưởng trong lĩnh vực
sản xuất công nghiệp được ghi nhận ở mức 10,6%. Ngành dịch vụ cũng
tăng trưởng mạnh với tốc độ 8,4%; trong khi ngành nông nghiệp tăng 4%.
Về hoạt động thương mại, xuất khẩu của Việt Nam ước tính tăng
khoảng 20% trong năm ngoái, nhập khẩu tăng 22,5%. Thâm hụt cán cân tài
khoản vãng lai đã giảm từ mức -2% GDP trong năm 2004 xuống còn -0,9%
GDP trong năm 2005.
Tăng trưởng kinh tế cũng được tiếp sức bởi mức đầu tư cao (21 tỷ USD),
chiếm 38,9% GDP (cao nhất trong những năm gần đây).
Đầu tư từ khu vực tư nhân (chiếm hơn 32% tổng vốn) có tốc độ phát
triển nhanh nhất, tăng 28%. Đầu tư của khu vực tư nhân có hiệu quả cao
hơn so với khu vực nhà nước và giúp tạo ra nhiều việc làm cho nền kinh tế.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
- tỉ USD
1,1 1,3 1,4 1,4 1,6 1,9 2,3
2,6 3,0
3,3
Kiều hối - tỉ USD 1,7 1,9 2,0 2,2 3,1 3,4 4,0
4,4 4.6 4,7
*Số dư ngân sách/GDP (%) -4,1 -5,4 -4,5 -4,7 -3,3 -4,6 -4,1
-3.6 -3.8 -4.0
*Cán cân xuất nhập
khẩu/GDP (%)
-2,5 -2,3 -5,2 -8,4 -7,6 -4,2 -3,3
-5,6 -3.5 2.8
Cán cân thanh toán/GDP
(%)
3,6 2,1 -1,7 -4,9 -2,1 -1,0 -0,5
-2,4 -1.5 -0,8
*Giá (tỷ lệ tăng, %) -1,6 -0,04 3,9 3,1 7,8 8,3 7,5
7,9 8.7 8,2
Tiền tệ (tỷ lệ tăng, %) 39 25,5 17,6 24,9 29,5 29,7 33,6
37,7 40.3 46,8
Tín dụng (tỷ lệ tăng, %) 38,1 21,4 22,2 28,4 35,7 36,8 40,4
43,2 50,2 28,9
Nợ nước ngoài - tỉ USD 12,8 13,0 13,3 16,0 18,0 19,3 21.1
23.4 25,6
27,92
Nợ nước ngoài/GDP (%) 41,7 40,5 38,7 41,0 40,5 37,7 36.7
38,9 35.5 40.2
Dự trữ ngoại tệ (tỉ USD) 3,4 34 4,1 6,2 7,0 9,0 13,3 15.5 19.4 22.6
Tỷ lệ dân nghèo đói (%) 37 32 29 …