LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, vấn đề thị trường chứng khoán đã ,đang và sẽ trở
thành một vấn đề “thời sự nhất” đối với nền kinh tế của tất cả các quốc gia trên
toàn thế giới hiện nay.Khi nền kinh tế thị trường phát triển tới một mức độ nhất
định và nó đòi hỏi phải hình thành thêm một hình thức thị trường kinh tế phát triển
hiện đại hơn, chính xác hơn và thu hút được nhiều thành phần kinh tế cùng các cá
nhân tham gia- đó chính là thị trường chứng khoán.Thực tế đã chứng minh rằng
thị trường chứng khoán cung cấp một nguồn vốn rất quan trọng cho nền kinh tế thị
trường ,nó thúc đẩy nền kinh tế của các quốc gia tham gia phát triển mạnh hơn
,nhanh chóng hơn.
Thị trường chứng khoán Việt Nam mới ra đời và bắt đầu hoạt động từ 10
năm trước.Tuy còn non trẻ và có nhiều hạn chế nhưng trong quá trình phát triển
cũng đã đạt được một số thành tựu nhất định.Trong nền kinh tế thế giới nói chung
và nền kinh tế Đông Nam Á nói riêng, Việt Nam là một nước kinh tế đang phát
triển, một điểm đầu từ hấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài.Trong đó không thể
không kể đến vai trò, tiềm năng, sự phát triển của thị trường chứng khoán. Các
nhà kinh tế tin tưởng rằng “thị trường chứng khoán Việt Nam” sẽ phát triển và đạt
nhiều triển vọng trong những năm tới
Đối với Việt Nam thị trường chứng khoán đã được hình thành và đang tiếp
tục phát triển.Thị trường chứng khoán ra đời ở nước ta đã phù hợp với chiến lược
phát triển kinh tế “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế
độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp, ưu tiên phát triển lực
lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng
XHCN ”.
Cũng như các quốc gia khác trên thế giới, để có thể phát triển kinh tế với
đường lối chiến lược như vậy đòi hỏi nước ta phải có nguồn lực lớn, nguồn vốn
lớn để phát triển kinh tế
Vì vậy em xin nêu một vài điểm khái quát về thị trường chứng khoán Việt
Nam
Trong khuôn khổ đề tài tiểu luận, do trong quá trình gặp nhiều khó khăn nên
không tránh khỏi những sai sót.Em mong nhận được sự góp ý của cô để bài tiểu
Những đặc điểm nổi bật là:
+ Hoạt động của sở giao dịch chứng khoán sôi động hơn và chất lượng cao
hơn.
+ Thị trường luôn đáp ứng thông tin đầy đủ và công khai tới công chúng đầu
tư qua các phương tiện hiện đại, được cập nhật thường xuyên và được công chúng
tham gia rộng rãi.
+ Các sàn giao dịch trên thế giới được kết nối cho phép hoạt động liên tục
24/24.
+ Với những đặc điểm như vậy cho phép mọi công dân đầu tư chứng khoán
bất cứ ở đâu và bất cứ khi nào mà họ muốn.
II. KHÁI NIỆM,PHÂN LOẠI VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN.
1. Khái niệm về thị trường chứng khoán.
1.1 Khái niệm về chứng khoán.
Chứng khoán là những giấy tờ có giá trị, được xác nhận quyền sở hữu hợp
pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát
hành chứng khoán.Chứng khoán bao gồm các loại như: Cổ phiếu, Trái phiếu và
các loại giấy tờ khác có giá trị.
Cổ phiếu là loại chứng chỉ xác nhận việc góp vốn của một người vào công ty
cổ phần.Cổ phiếu xác nhận quyền sở hữu của người này đối với công ty cổ phần,
người sở hữu được gọi là cổ đông, cổ đông có các quyền hạn và trách nhiệm đối
với công ty cổ phần, được chia lời (cổ tức) theo kết quả kinh doanh của công ty cổ
phần: được quyền bầu cử, ứng cử vào ban quản lý, ban kiểm soát.Cổ phiếu có thể
được phát hành vào lúc thành lập công ty, hoặc lúc công ty cần them vốn để mở
rộng, hiện đại hóa sản xuất kinh doanh.
Một đặc điểm của cổ phiếu là cổ đông được chia cổ tức theo kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của công ty. Cổ đông có thể được hưởng lợi nhuận
nhiều hơn giá trị của cổ phiếu và cũng có thể bị mất trắng khi công ty làm ăn thua
lỗ. Cổ đông không được quyền đòi lại số vốn mà người đó đã góp vào công ty cổ
phần, họ chỉ có thể thu lại tiền bằng cách bán cổ phiếu đó ra trên thị trường chứng
tăng trưởng và tạo nên sự thịnh vượng.
Theo định nghĩa nêu trên thị trường chứng khoán không phải là cơ quan mua
vào hoặc bán ra các loại chứng khoán.Thị trường chứng khoán chỉ là nơi giao
dịch, ở đó việc mua bán chứng khoán được thực hiện bởi những người môi giới
Thị trường
chứng khoán
Thị trường vay
nợ dài hạn
TTCK d i hà ạn
(trên một năm)
TTCK ngắn hạn
(dưới một năm)
Thị trường
tiền tệ
TTCK
chứng khoán.Như vậy thị trường chứng khoán không phải là nơi giao dịch chứng
khoán của những người muốn mua hay muốn bán các loại chứng khoán mà là của
những nhà môi giới. Nếu một người muốn mua hay muốn bán chứng khoán, người
này sẽ thông qua người môi giới chứng khoán của anh ta trên thị trường chứng
khoán để tiến hành việc mua bán chứ không trực tiếp tham gia mua bán. Giá cả
chứng khoán được hình thành một cách khách quan theo hệ thống bán đấu giá hai
chiều.Người môi giới mua khác được với giá thấp nhất, người môi giới bán cạnh
tranh với những người môi giới bán khác để bán được giá cao nhất. Vì thế mà thị
trường chứng khoán là thị trường có tính tự do cao nhất trong các loại thi trường.
2. Phân loại thị trường chứng khoán.
Về phương diện pháp lý, thị trường chứng khoán gồm có:
_ Thị trường chứng khoán chính thức (TTCK tập trung) là thị trường hoạt
động theo đúng các quy luật pháp định, là nơi mua bán các loại chứng khoán đã
được đăng biểu hay được biệt lệ.
+ Chứng khoán đăng biểu là loại chứng khoán đã được cơ quan có thẩm
khoán,vào thị trường để huy động vốn. Đây là phương thức tài trợ vốn qua phát
hành và lúc đó nguồn vốn của DN tăng lên.Lúc này rủi ro đối với doanh nghiệp là
rất nhỏ vì những cổ đông của họ đã gánh đỡ thay. Một điều thuận lợi nữa, khi DN
chưa có cơ hội sản xuất kinh doanh, các DN có thể dự trữ chứng khoán như là một
tài sản kinh doanh và các chứng khoán đó sẽ được chuyển nhượng thành tiền khi
cần thiết thông qua thị trường chứng khoán.Ngoài ra, khi DN niêm yết trên thị
trường chứng khoán, có nghĩa là đã có chữ tín đối với công chúng đầu tư.Như vậy
các công ty chứng khoán sẽ là tác nhân kích thích giúp DN tạo vốn nhanh chóng
hơn.
1.3. Thị trường chứng khoán là công cụ đánh giá DN, dự đoán tương lai.
Thị trường chứng khoán ngày càng đa dạng và phức tạp,liên quan đến vận
mệnh của nền kinh tế quốc dân.Sự hình thành thị giá chứng khoán của một DN
trên thị trường chứng khoán đã bao hàm sự hoạt động của DN đó trong hiện tại và
dự đoán tương lai.Khi giá cổ phiếu của một DN cao (hay thấp) biểu hiện trạng thái
kinh tế tức là khả năng mang lại cổ tức cao (hay thấp) cho các cổ đông của DN
đó.Triển vọng tương lai của các DN cũng được thể hiện một cách trực tiếp trên thị
giá cổ phiếu và cũng như sự biến động của nó.
Ngoài ra, với phương pháp chỉ số hoá thị giá của các loại chứng khoán chủ
yếu trong nền kinh tế và việc nghiên cứu, phân tích một cách khoa học hệ thống
chỉ số giá chứng khoán trên thị trường chứng khoán ở từng nước trong mối quan
hệ với thị trường thế giới, đã dự đoán được trước sự biến động kinh tế của một
hoặc hàng loạt các nước trên thế giới.
2. Chức năng của thị trường chứng khoán.
2.1. Chức năng thu hút vốn nhàn rỗi vào đầu tư phát triển.
Ta biết muốn đầu tư, phát triển thì phải tự tích luỹ hoặc huy động vốn từ bên
ngoài.Vốn huy động từ bên ngoài bao gồm vốn vay tín dụng của các tổ chức tài
chính và phát hành cổ phiếu, trái phiếu.Ưu điểm của phát hành trái phiếu, cổ phiếu
đối với dân chúng là họ dễ dàng đầu tư vào bất cứ DN nào họ muốn hoặc mua bán
kiếm lợi.Còn đối với các DN là họ không phải trả lãi suất hàng tháng và không
phải trả nợ gốc khi bị thua lỗ.
nền kinh tế thế giới.
2.4. Chức năng điều tiết vĩ mô.
Thị trường chứng khoán là công cụ của Nhà nước thông qua Uỷ ban chứng
khoán nhà nước và Ngân hàng trung ương.
Nghiệp vụ chủ yếu là thắt chặt hay nới lỏng sự đầu tư trên thị trường.Khi sản
xuất sa sút, thiếu vốn, Nhà nước tung tiền ra mở rộng cho vay để khuyến khích sản
xuất thông qua việc mua vào những lô chứng khoán có giá trị lớn.Khi hiện tượng
đầu tư quá mức, đầu cơ thịnh hành, thì bán chứng khoán nhằm thắt chặt tín dụng
giảm bớt đầu tư kinh tế.Vậy thị trường chứng khoán là công cụ hữu hiệu để nhà
nước kịp thời điều tiết nguồn vốn trên thị trường.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM QUA CÁC
THỜI KỲ
I. Giai đoạn 2000-2005: Giai đoạn chập chững biết đi của thị trường
chứng khoán.
Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh dấu bằng việc
đưa vào vận hành Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh ngày
20/07/2000 và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000.Ở thời
điểm lúc bấy giờ, chỉ có 2 doanh nghiệp niêm yết 2 loại cổ phiếu (REE và SAM)
với số vốn 270 tỷ đồng và một số ít trái phiếu Chính phủ được niêm yết giao dịch.
Từ đó cho đến 2005, thị trường luôn ở trong trạng thái gà gật, loại trừ cơn
sốt vào năm 2001(chỉ số VN index cao nhất đạt 571.04 điểm sau 6 tháng đầu năm
nhưng chỉ trong vòng chưa đầy 4 tháng [từ tháng 6 đến tháng 10] các cổ phiếu
niêm yết đã mất giá tới 70% giá trị, chỉ số VN Index sụt từ 571,04 điểm vào ngày
25/4/2001 xuống chỉ còn khoảng 200 điểm vào tháng 10/2001). Trong 4 tháng
“hoảng loạn” này, trong khi nhiều nhà đầu tư tháo chạy khỏi thị trường với lời
nguyền không bao giờ quay lại thì một số nhà đầu tư khác vẫn bình tĩnh bám trụ,
âm thầm mua bán và tiếp tục kiếm được lợi nhuận thì trong 5 năm chỉ số VN-
Index lúc cao nhất chỉ có 300 điểm, mức thấp nhất xuống đến130 điểm. Lý do
chính là ít hàng hoá, các doanh nghiệp niêm yết cũng nhỏ, không nổi tiếng, không
hấp dẫn nhà đầu tư trong nước, trong khi "room" cũng hết.
hoạt động giao dịch sôi động tại cả 3 “sàn”: Sở giao dịch Tp.Hồ Chí Minh, Trung
tâm Giao dịch Hà Nội và thị trường OTC
Với mức tăng trưởng đạt tới 60% từ đầu đến giữa năm 2006 thị trường chứng
khoán Việt Nam trở thành "điểm" có tốc độ tăng trưởng nhanh thứ 2 thế giới, chỉ
sau Dim-ba-buê.Và sự bừng dậy của thị trường non trẻ này đang ngày càng "hút
hồn" các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Không thể phủ nhận năm 2006 vừa qua thị trường chứng khoán Việt Nam
non trẻ này đã có “màn trình diễn” tuyệt vời và có thể sẽ không bao giờ có lại
được với khối lượng vốn hoá tăng gấp 15 lần trong vòng 1 năm.
Năm 2006 , TTCK Việt Nam có sự phát triển vượt bậc, chỉ số Vn-Index tại
sàn giao dịch TP. Hồ Chí Minh (HASTC) tăng 144% năm 2006, tại sàn giao dịch
Hà Nội (Hastc) tăng 152,4%.
Thị trường chứng khoán Việt Nam 2006: VN-Index cuối năm tăng 2,5 lần
so đầu năm.
Tổng giá trị vốn hóa đạt 13,8 tỉ USD cuối năm 2006 (chiếm 22,7% GDP)
giá trị cổ phiếu do các nhà đầu tư nước ngoài đang nắm giữ đạt khoảng 4 tỉ USD,
chiếm 16,4% mức vốn hóa của toàn thị trường.
Hàng ngày có khoảng 80-100 công ty có cổ phiếu giao dịch, đây là những
cổ phiếu được phát hành theo Luật Doanh nghiệp là chính.Trên thị trường phi tập
trung, tổng khối lượng giao dịch gấp khoảng 6 lần so với khối lượng giao dịch trên
Hastc.
Số công ty niêm yết tăng gần 5 lần, từ 41 công ty năm 2005 đã lên tới 193
công ty, số tài khoản giao dịch đạt hơn 10 vạn gấp 3 lần năm 2005 và 30 lần so với
6 năm trước. Trong vòng một năm, chỉ số Vn-Index tăng hơn 500 điểm, từ hơn
300 điểm cuối 2005 lên 800 điểm cuối 2006.
Trong khoảng từ giữa đến cuối năm 2006, tình trạng đầu tư vào cổ phiếu ở
nước ta mang tâm lý “đám đông”, cả người có kiến thức và hiểu biết, cả những
người mua, bán theo phong trào, qua đó đẩy TTCK vào tình trạng “nóng”, hiện
tượng “bong bóng” là có thật.
Mức vốn hóa của thị trường chứng khoán Việt Nam đã tăng đột biến, tháng
với tổng giá trị giao dịch toàn thị trường đạt 224.000 tỷ đồng, gấp 2 lần khối lượng
và 2,8 lần giá trị giao dịch so với năm 2006. Bình quân mỗi phiên giao dịch có 9,2
triệu chứng khoán được chuyển nhượng tương đương với 980 tỷ đồng.
TTGDCK Hà Nội thực hiện thành công 248 phiên giao dịch, với tổng khối
lượng giao dịch toàn thị trường đạt 616,3 triệu chứng khoán tương đương với tổng
giá trị giao dịch toàn thị trường đạt 63.859 tỷ đồng, tăng gấp 6 lần về khối lượng
và 15,8 lần về giá trị giao dịch so với năm 2006. Quy mô giao dịch tăng trưởng
mạnh khi mức giao dịch bình quân năm 2007 đạt 255 tỷ đồng/phiên trong khi năm
2006 chỉ đạt 19 tỷ đồng/phiên.
Nhìn nhận khách quan từ góc độ thị trường, bên cạnh những thành công,
TTCK qua một năm hoạt động cũng ghi lại dấu ấn cho những giai đoạn thăng trầm
nhất định khi thị trường trải qua những biến động trồi sụt thất thường:
1. Giai đoạn thị trường bùng nổ trong 3 tháng đầu năm 2007.
Đây là giai đoạn thị trường có những đợt sóng cao, khiến Index của cả 2 sàn
giao dịch đều lập kỷ lục: chỉ số VNIndex đã đạt mức đỉnh là 1.170,67 điểm sau 7
năm hoạt động và Hastc – Index thiết lập mức đỉnh 459,36 điểm sau 2 năm hoạt
động.Có thể nói, đây là giai đoạn thị trường đạt mức tăng trưởng với tốc độ lớn
nhất khi đạt mức tăng 126% chỉ trong vòng 3 tháng giao dịch.
Nhờ sự tăng trưởng về giá của các cổ phiếu, tổng giá trị vốn hóa của thị
trường trong giai đoạn này lên đến con số 398.000 tỷ đồng. So với tổng giá trị vốn
hóa 492.900 tỷ đồng của cả năm 2007, con số của 3 tháng đầu năm đã chiếm tỷ
trọng 4/5. Nhưng điều quan trọng góp phần gia tăng giá trị vốn hóa của thị trường
không phải do số lượng chứng khoán niêm yết gia tăng mà do yếu tố giá cổ phiếu
tăng mạnh.
Trong giai đoạn này, giá các cổ phiếu tăng trưởng với tốc độ phi mã, đồng
loạt các cổ phiếu từ Blue – chip, Penny stock, các cổ phiếu mới niêm yết trên
sàn… tất cả đều đạt mức tăng trưởng trên 50% giá trị so với mức giá giao dịch đầu
năm, trong đó có những cổ phiếu đạt mức tăng trưởng trên 100% như: STB
(113,57%), REE (122,66%), ACB (197%),…. Rất nhiều mã CP thiết lập mức giá
đỉnh kể từ khi lên sàn trong giai đoạn này như: SJS (728.000 đ/CP), FPT (665.000
30/07/2007 chỉ có 3.296.340CP được giao dịch), sàn HN cũng chỉ có vẻn vẹn
600.000 CP được chuyển nhượng thành công (ngày 8/8/2007 khớp lệnh 603.100
CP).
Giai đoạn này, các NĐTNN cũng tỏ ra khá thờ ơ khi lượng giao dịch của
khối này trên cả 2 sàn giao dịch đều sụt giảm mạnh.Giá trị giao dịch bình quân của
khối NĐTNN trong giai đoạn này đạt khoảng 170 tỷ đồng/phiên, giảm tới 52% so
với giai đoạn đầu năm.
3. Giai đoạn phục hồi của thị trường vào những tháng cuối năm.
Thị trường bước vào giai đoạn phục hồi mạnh mẽ trong khoảng thời gian đầu
tháng 9 đến cuối tháng 10/2007.
Giá các cổ phiếu trên sàn có xu hướng phục hồi nhanh chóng, đặc biệt là các
mã cổ phiếu blue – chip trên cả 2 sàn đều lấy lại được những gì đã mất trong 6
tháng giữa năm, tuy nhiên sức bật của các cổ phiếu không đủ mạnh để đưa các cổ
phiếu trở về mức giá đỉnh thiết lập vào tháng 3. Trong giai đoạn này, VNIndex đã
có những phiên giao dịch vượt lên trên ngưỡng 1.100 điểm (1.106,6 điểm vào
ngày 3/10/2007), Hastc – Index cũng gần chạm trở lại ngưỡng 400 điểm (393,59
điểm ngày 01/10/2007).
Đà tăng giá của các cổ phiếu trong giai đoạn này thể hiện rõ nét nhất ở
nhóm các cổ phiếu blue – chip như DHG, FPT, VIC… tại HOSE và nhóm cổ
phiếu Sông Đà: S99, SDA, S91…. tại HASTC.Lượng giao dịch bình quân phiên
tại HOSE luôn ở trên mức 10 triệu CP (phiên giao dịch kỷ lục đạt 19.047.000 CP
vào ngày 01/10/2008), sàn HASTC cũng đạt lượng giao dịch bằng 1/2 sàn HOSE
với trung bình phiên có 5 triệu CP được chuyển nhượng.
Tuy nhiên,Thị trường sau một đợt phục hồi đã nhanh chóng điều chỉnh giảm
vào 2 tháng cuối năm.Trong giai đoạn này, thị trường thỉnh thoảng cũng có các
đợt phục hồi giả với sự tăng lên mạnh mẽ của tất cả các yếu tố.Tuy nhiên sự phục
hồi này không duy trì được lâu, thậm chí đã có dấu hiệu suy giảm chỉ sau 1 phiên
tăng điểm.Chính điều này đã dẫn tới việc các nhà đầu tư bị đọng vốn.Trong khi
nguồn cầu có xu hướng cạn kiệt, thì nguồn cung vẫn tiếp tục gia tăng. Tương quan
cung cầu mất cân bằng khiến thị trường ngày càng tuột dốc cả về giá lẫn khối
VNIndex giảm mất 550,52 điểm- tương đương 59,77%. Bình quân trong mỗi
phiên, toàn thị trường có 8,02 triệu CP&CCQ được chuyển nhượng, tương đương
khoảng 482 tỷ đồng.
Trong đợt suy giảm này,nhóm cổ phiếu chịu nhiều tác động nhiều nhất là
nhóm cổ phiếu tài chính ngân hàng, công nghệ và công nghiệp (chủ yếu là các
doanh nghiệp BĐS).
Trong lịch sử hoạt động của TTCK, chưa có năm nào UBCKNN phải can
thiệp vào thị trường bằng các biện pháp mạnh tay nhiều như năm 2008.Tổng cộng
trong năm 2008, UBCKNN đã có 4 lần thay đổi biên độ dao động giá trên cả 2 sàn
chứng khoán. Nhằm hỗ trợ thêm cho sức cầu trên thị trường, ngăn đà suy giảm
mạnh của các chỉ số chứng khoán, ngày 04/03/2008, Chính phủ đã đưa ra nhóm 19
giải pháp ứng cứu thị trường: Cho phép SCIC mua vào cổ phiếu trên thị trường,
kêu gọi và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp niêm yết mua vào cổ phiếu quỹ
Sự tăng trưởng nóng trong năm 2007, đặc biệt vào những tháng cuối năm đã
đưa đến những dấu hiệu bất ổn về kinh tế vĩ mô. Chỉ số tiêu dùng bắt đầu gia tăng
với mức trung bình 2,07%/tháng trong cuối năm 2007. Tiếp nối xu thế này, trong
quý I năm 2008, chỉ số CPI tiếp tục gia tăng với tốc độ bình quân 3,06%/tháng và
đạt đỉnh vào tháng 05/2008 với mức tăng 3,91%.
Trong chu kỳ tăng giá nửa đầu năm 2008, tại đa số thời điểm, lương thực
được coi là yếu tố tác động chủ yếu đến chỉ số giá. Tính đến tháng 06, giá lương
thực đã tăng 57, 22% so với tháng 12/2007.
Chịu ảnh hưởng trực tiếp của tỷ lệ lạm phát tăng cao trong nước và sự biến
động mạnh của giá cả hàng hóa trên thế giới, thị trường hàng hóa và thị trường
tiền tệ Việt Nam tiếp tục có những biến động mạnh.
Trên thị trường hàng hóa,xăng dầu - loại hàng hóa cơ bản thuộc sự kiểm soát
của Chính phủ - đã được điều chỉnh mạnh.Trên thị trường tiền tệ, lãi suất từ
NHNN và NHTM liên tiếp xác định các mặt bằng mới. Chịu tác động sức ép từ
lạm phát, lãi suất từ các NHTM tăng mạnh trong cuối quý II, dao động từ 16 -
18% đối với huy động tiền gửi và 20-21% đối với các khoản vay.Đặc biệt các sản
phẩm huy động vốn với kỳ hạn ngắn, lãi suất cao là tiêu điểm của hệ thống NH
liên tiếp giảm điểm.Trong 86 phiên giao dịch tại HOSE, 49 phiên VNIndex mất
điểm. Đáy mới thiết lập trong giai đoạn này là 286, 85 điểm vào ngày 10/12/2008.
Cùng với nỗ lực giải cứu nền kinh tế của Chính phủ và động thái từ
NHNN, xen lẫn giữa những phiên giảm điểm ,TTCK Việt Nam vẫn có những
phiên phục hồi mạnh.Tuy nhiên, các “con sóng” trên thị trường thường rất ngắn và
không ổn định. Kết thúc giai đoạn này, VNIndex giảm mất 239, 52 điểm, tương
đương 43,15%.
Tốc độ giảm mạnh nhất trong giai đoạn này thuộc nhóm cổ phiếu các
ngành nguyên vật liệu, công nghiệp, tài chính và công nghệ.Nguyên nhân của sự
suy giảm trong giai đoạn này được nhận định một phần do sự tác động của xu thế
chung thị trường, ngoài ra, cũng là hệ quả của việc tăng khá chóng mặt của các các
cổ phiếu này trong giai đoạn trước đó.Một trong những đề tài nóng hổi và được
báo giới chú ý trong những tháng cuối năm là phong trào trả cổ tức bằng tiền mặt,
với tỷ lệ khá cao của các công ty niêm yết.
Nguồn vốn FII vào Việt Nam chủ yếu thông qua các quỹ đầu tư. Tuy
nhiên, kể từ cuối tháng 08/2008 cùng với sự sụt giảm của TTCK thế giới nói
chung TTCK Việt Nam cũng giảm mạnh. Tính đến tháng 12/2008, những dấu hiệu
về khả năng nhà đầu tư nước ngoài rút vốn ra khỏi thị trường chứng khoán cũng
bắt đầu xuất hiện, thể hiện qua việc bán ròng của khối ngoại trong những tháng
cuối năm.Ngoài ra, mặc dù lạm phát được kiềm chế nhưng lại có sự lo ngại về
giảm phát do chỉ số CPI tăng trưởng âm trong những tháng cuối năm.
Trong quý cuối năm, CPI đã giảm 0,23% trong tháng 10 và tăng lên thành
0,81% trong tháng 12 (so từng tháng).Tính cả năm 2008 , tỷ lệ lạm phát là 19,89%
(so với tháng 12/2007) và xấp xỉ 23% (so với bình quân 2007)
Giải pháp tài chính kịp thời trong những tháng cuối năm 2008 được thực
hiện thông qua việc điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản nhằm kích cầu sản xuất tiêu
dùng, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận vay vốn một cách dễ dàng hơn,
đồng thời giảm áp lực tín dụng cho các ngân hàng thương mại.
V. Giai đoạn năm 2009
Mặc dù về những tháng cuối năm TTCK Việt Nam đã có điều chỉnh giảm do
kể ( tuy nhiên hoạt động này bị cấm tháng 12/2009)
• Sự hồi phục của chứng khoán Mỹ nhất là mỗi lần chỉ số Dow Jones vượt
các mốc quan trọng đã có tác động tâm lý tích cực đối với nhà đầu tư trong
nước
Theo Bộ tài chính mức vốn hóa của TTCK Việt Nam đầu tháng 12 vào
khoảng 669 nghìn tỷ đồng, tương đương 55% GDP của năm 2008.So với cuối năm
2008 là 225 nghìn tỷ đồng, mức vốn hóa đã tăng gấp 3 lần. Tính đến đầu tháng 12
toàn bộ thị trường đã cso 730.000 tài khoản chứng khoán được mở, tăng them