i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác. Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn
đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hải Phòng, tháng 5 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Thành Trung
ii
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến toàn thể Quý thầy cô
Trường Đại học Hải Phòng nói chung, khoa Đào tạo sau đại học nói riêng đã tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa đào tạo Thạc sỹ Quản trị kinh doanh
này. Tôi xin cảm ơn thầy giáo TS.Nguyễn Hữu Lai, người đã trực tiếp hướng dẫn
rất nhiệt tình để tôi có thể hoàn thành bài luận văn tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn trường Đại học Hải Phòng, khoa Kinh tế và Quản
trị kinh doanh, anh chị em đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện trong công việc giúp
tôi có thể hoàn thành khóa học đúng hạn. Cảm ơn anh chị em trong Công ty Cổ
phần Cáp điện và Hệ thống LS-VINA đã cung cấp số liệu cũng như tình hình thực
tế của Công ty và đã hỗ trợ tôi hết mình.
Với vốn kiến thức còn hạn chế và thời gian thực hiện luận văn có hạn nên tôi
không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được những đóng góp, phê
bình của quý thầy cô và mọi người để hoàn thiện thêm kiến thức và bài luận văn của
mình sau đây.
iii
MỤC LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
[1]. Thanh Bình (2005), Gánh nặng đầu vào - nỗi lo của các doanh nghiệp, tạp chí
Thông tin Tài chính, (số 12) 82
[2]. Bộ Tài Chính (2005), Yêu cầu khắt khe của chất lượng tăng trưởng, trang tin
2.1
Tình hình doanh thu, chi phí và lợi nhuận của LS-VINA
giai đoạn 2011 – 2013
39
2.2 Tình hình lao động của LS-VINA giai đoạn 2011 - 2013 40
2.3
Doanh thu của LS-VINA phân theo sản phẩm giai đoạn
2011 – 2013
44
2.4
Cơ cấu doanh thu của LS-VINA phân theo khu vực thị
46
v
trường
2.5
Doanh thu thị trường nội địa của LS-VINA chia theo khu
vực địa lý
48
2.6
Doanh thu thị trường nội địa của LS-VINA chia theo
nhóm khách hàng
49
2.7
Tình hình tài sản, nguồn vốn của LS-VINA giai đoạn
2011 – 2013
53
3.1
Một số chỉ tiêu đánh giá các đối thủ cạnh tranh với LS-
VINA trong năm 2013
62
41
2.4
Giá trị tổng tài sản của LS-VINA qua các năm của giai
đoạn 2011 – 2013
42
2.5 Giá trị nộp ngân sách nhà nước của LS-VINA giai đoạn 43
vi
2011 – 2013
2.6
Cơ cấu doanh thu của LS-VINA phân theo sản phẩm
năm 2013
45
2.7
Doanh thu thị trường xuất khẩu và nội địa của LS-VINA
giai đoạn 2011 – 2013
46
2.8
Tình hình tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn
2011 – 2013
50
2.9
Lưu đồ kiểm soát chất lượng sản phẩm LS-VINA đang
áp dụng
56
2.10 Kênh phân phối trực tiếp của LS-VINA 59
2.11 Kênh phân phối gián tiếp của LS-VINA 59
3.1 Mô hình 4P trong Marketing mix 69
3.2
Mục tiêu định giá giai đoạn 1
79
VINA là một trong những doanh nghiệp lớn tại khu vực miền Bắc cũng như ở Việt
Nam, chuyên sản xuất các sản phẩm dây và cáp điện. Với ưu thế về tiềm lực tài
chính công ty đã mạnh đầu tư dây chuyền thiết bị công nghệ hiện đại để phục vụ
cho hoạt động sản xuất, đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm. Công ty Cổ phần
Cáp điện và Hệ thống LS – VINA là công ty con lớn nhất của công ty LS Cable &
2
System - Hàn Quốc đặt tại Việt Nam, những năm vừa qua, đơn vị chủ yếu tập trung
hướng vào xuất khẩu, mở rộng thị trường tại một số nước Châu Á, Châu Mỹ như
Singapore, Nhật Bản, Úc, Cuba… doanh thu hay số lượng khách hàng tại Việt Nam
– thị trường đầy tiềm năng thì còn khá khiêm tốn, chưa tương xứng với tiềm năng
của công ty. Xuất phát từ thực tế này, bài luận văn hướng vào đề tài: “Thực trạng
và các biện pháp phát triển thị trường nội địa của sản phẩm dây và cáp điện tại
Công ty Cổ phần Cáp điện và Hệ thống LS – Vina”.
2. Lịch sử nghiên cứu:
Tính đến nay, đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu khoa học liên quan
đến nội dung thị trường và phát triển thị trường của doanh nghiệp, cụ thể như:
- Luận văn thạc sĩ: “Một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ sản
phẩm của Công ty Que Hàn Điện Việt - Đức” Cao học Quản trị Kinh doanh Phạm
Mạnh Hùng, tháng 7 năm 2011. Trong nội dung luận văn tác giả đã làm rõ cơ sở lý
luận về thị trường và mở rộng thị trường, các tiêu chí phản ánh hiệu quả của công
tác mở rộng thị trường trong doanh nghiệp. Trên cơ sở lý luận này, tác giả áp dụng
vào thực tế tại Công ty Que hàn điện Việt – Đức thông qua các nội dung về kết quả
tiêu thụ tại các khu vực thị trường, các giải pháp mở rộng thị trường công ty đã áp
dụng… qua đó tìm ra những hạn chế, nguyên nhân dẫn đến các hạn chế cần khắc
phục trong việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty. Đề xuất các giải
pháp nhằm mở rộng thị trường cho Công ty Que hàn điện Việt – Đức trong thời
gian tới.
- Luận văn thạc sĩ: “Một số giải pháp mở rộng thị trường tiêu thụ tại Công
ty Cổ phần Điện nước lắp máy Hải Phòng đến năm 2015” cao học Quản trị Kinh
doanh Trần Ngọc Trung, tháng 9 năm 2012. Tác giả áp dụng phương pháp nghiên
- Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về thị trường và phát
triển thị trường của doanh nghiệp nói chung và của Công ty Cổ phần Cáp điện và
Hệ thống LS-VINA nói riêng.
- Nghiên cứu và phân tích thực trạng vấn đề thị trường và phát triển thị trường
nội địa tại Công ty Cổ phần Cáp điện và Hệ thống LS – VINA trong giai đoạn 2011
– 2013. Chỉ ra được ưu điểm, nhược điểm, những thành quả đạt được, tồn tại và
nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến vấn đề phát triển thị trường nội địa công ty.
4
- Đề xuất một số biện pháp cơ bản nhằm phát triển thị trường nội địa của Công
ty Cổ phần Cáp điện và Hệ thống LS – VINA trong thời gian tới để không ngừng
gia tăng doanh thu cũng như lợi nhuận cho công ty.
** Đối tượng nghiên cứu: lý thuyết về thị trường và phát triển thị trường tiêu
thụ sản phẩm của doanh nghiệp và thực trạng phát triển thị trường của Công ty Cổ
phần Cáp điện và Hệ thống LS-VINA nói riêng.
*** Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: hoạt động của Công ty Cổ phần Cáp điện và Hệ thống LS –
VINA ở thị trường Việt Nam.
+ Về thời gian: luận văn nghiên cứu thực trạng thị trường và phát triển
thị trường của Công ty Cổ phần Cáp điện và Hệ thống LS – VINA trong giai
đoạn 2011 – 2013.
4. Các luận điểm cơ bản và đóng góp của bài luận văn:
- Về lý luận: đã hệ thống hóa một số lý thuyết liên quan đến thị trường và phát
triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
- Về thực tiễn:
+ Đề xuất những biện pháp có căn cứ lý thuyết và có giá trị thực tiễn để Công
ty Cổ phần Cáp điện và Hệ thống LS-VINA phát triển thị trường nói chung và thị
trường nội địa nói riêng, góp phần gia tăng doanh thu và lợi nhuận cho công ty.
+ Bài luận văn là nguồn tư liệu tham khảo cho những người quan tâm
hoặc làm công tác nghiên cứu về thị trường nói chung và thị trường dây và
cáp điện Việt Nam nói riêng.
- Chương 3: Hoàn thiện các biện pháp nhằm phát triển thị trường nội địa của
Công ty Cổ phần Cáp điện và Hệ thống LS - VINA.
6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN
THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM
1.1. Khái quát về thị trường :
1.1.1. Khái niệm về thị trường:
Thị trường là phạm trù kinh tế tổng hợp gắn liền với quá trình sản xuất
và lưu thông hàng hoá. Thừa nhận sản xuất hàng hoá không thể phủ định sự
tồn tại khách quan của thị trường. Hiện nay có khá nhiều các cách tiếp cận
khác nhau về thị trường.
Hiểu một cách đơn giản thì thị trường là nơi giao dịch mua bán hàng hoá giữa
các chủ thể kinh tế, ở đó người có nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ sẽ được nhận thứ
mà mình cần và ngược lại người có hàng hoá, dịch vụ sẽ được nhận lại một số tiền
tướng ứng. Trong khái niệm này thị trường được hiểu theo nghĩa “cái chợ” -
“Market”. Lịch sử đã chứng minh rằng sự nhận thức phiếm diện về thị trường cũng
như sự điều tiết thị trường theo ý muốn chủ quan, duy ý chí trong quản lý và chỉ đạo
kinh tế đều đồng nghĩa với việc đi ngược lại các hệ thống quy luật kinh tế vốn có
của thị trường và hậu quả sẽ kìm hãm sự phát triển kinh tế .
Hình 1. 1: Hệ thống thị trường đơn giản.
[21, tr.94]
Quan điểm này chỉ thích ứng với nền sản xuất hàng hoá nhỏ, lượng hàng ít,
nhu cầu hầu như không biến đổi. Với sự phát triển ngày càng cao về nhu cầu đã tạo
nên sự đa dạng hoá về sản phẩm như hiện nay, hệ thống thị trường đơn giản không
còn phù hợp nữa. Theo Mác: “ Sự phân công là cơ sở chung của mọi nền sản xuất
hàng hoá ở đó có thị trường. Thị trường chẳng qua là sự biểu hiện của sự phân công
Sản xuất
Người bán – cung
Thị trường
Người mua – cầu
Thị trường chính phủ
Thị trường những
người tiêu thụ
Các nguồn tài nguyên
Tiền
Dịch vụ tiền
Tiền
Thuế hàng
Nguồn lao động
Tiền
Tiền
Dịch vụ
Tiền
Thuế
hàng
8
của doanh nghiệp. Nếu hàng hoá bán được, tức là được thị trường thừa nhận,
doanh nghiệp thương mại mới thu hồi được vốn, có nguồn thu trang trải chi phí và
có lợi nhuận. Ngược lại, nếu hàng hoá đưa ra bán nhưng không có ai mua, tức là
không được thị trường thừa nhận. Để được thị trường thừa nhận doanh nghiệp
phải nghiên cứu nhu cầu của khách hàng để từ đó tiến hành kinh doanh những sản
phẩm phù hợp. Sự phù hợp ở đây chính là phù hợp về số lượng, chất lượng, sự
đồng bộ, quy cách, cỡ loại, màu sắc, bao bì, giá cả, thời gian, và địa điểm thuận
tiện cho khách hàng.
b/ Chức năng thực hiện:
Chức năng này đòi hỏi hàng hoá và dịch vụ phải được thực hiện giá trị trao
đổi: hoặc bằng tiền hoặc bằng hàng, bằng các chứng từ có giá khác. Người bán
hàng cần tiền còn người mua cần hàng, sự gặp gỡ giữa người bán và người mua
được xác định bằng giá cả mà hai bên đã thoả thuận. Hàng hóa bán được tức là có
sự dịch chuyển từ người bán sang người mua, nghĩa là có sự thực hiện chuyển đổi
Bốn chức năng của thị trường có mối quan hệ mật thiết với nhau. Mỗi hiện
tượng kinh tế diễn ra trên thị trường đều thể hiện bốn chức năng này. Vì là những
tác dụng vốn có bắt nguồn từ bản chất thị trường, do đó không nên đặt vấn đề
chức năng nào quan trọng nhất hoặc chức năng nào quan trọng hơn chức năng
nào. Song cũng cần thấy rằng chỉ khi chức năng thừa nhận được thực hiện thì các
chức năng khác mới phát huy tác dụng.
1.1.3. Vai trò của thị trường:
10
Trong nền kinh tế hàng hoá, các doanh nghiệp kinh doanh dù là loại hình
nào: quốc doanh, tập thể, tư nhân đều là những chủ thể của sản xuất (hàng hoá)
kinh doanh hàng hoá, tồn tại trong một hệ thống nhất như một cơ thể sống vận
động trên thị trường, lấy thị trường làm môi trường như mảnh đất nuôi sống doanh
nghiệp. Doanh nghiệp với tư cách là người sản xuất, kinh doanh hàng hoá tham
gia thị trường sẽ làm thay đổi toàn bộ các quan hệ kinh tế, các quan hệ ngang sẽ
làm xuất hiện nhiều nhân tố mới. Mỗi doanh nghiệp sẽ cần đến nhiều loại vật tư
hàng hoá, cần đến chất xám, do đó thúc đẩy các ngành sản xuất vật tư và các
ngành kỹ thuật phát triển đòi hỏi của thị trường ngày cao và càng nhiều loại hàng
hoá với chủng loại kích cỡ khác như sẽ thúc đẩy sự ra đời của các ngành sản xuất
kinh tế mới. Mọi hoạt động của doanh nghiệp đều gắn bó với thị trường, sản phẩm
của doanh nghiệp có bán được trên thị trường thì mới có thể bù đắp được chi phí
và thu được lợi nhuận. Thị trường là nơi đánh giá mọi hoạt động của doanh nghiệp
một cách khách quan và chính xác. Vì vậy, vai trò của thị trường đối với doanh
nghiệp được thể hiện là:
Một là: thị trường là yếu tố sống còn đối với doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh hàng hoá. Thông qua thị trường, doanh nghiệp bù đắp chi phí kinh doanh,
có lợi nhuận để tái mở rộng kinh doanh.
Doanh nghiệp khi chiếm lĩnh được những thị phần mới là họ đã phát triển cả
về chiều rộng lẫn chiều sâu, mọi hoạt động kinh doanh cũng phát triển theo và khả
năng thu lợi nhuận sẽ tăng lên.
Doanh nghiệp khi mất đi thị phần sẽ gặp nhiều khó khăn, sản xuất kinh
sản xuất, kinh doanh của bản thân để có những chính sách cho sản xuất kinh
doanh thích hợp.
Năm là: thị trường là nơi kiểm nghiệm, đánh giá tính chất đúng đắn các chủ
trương, chính sách biện pháp kinh tế của nhà nước, của các nhà quản lý kinh
doanh, thông qua đó một mặt nâng cao trình độ quản lý kinh doanh của các nhà
sản xuất doanh nghiệp. Đồng thời nó cũng đào thải những nhà sản xuất, nhà quản
lý không thích nghi được sự năng động của nó. Tầm quan trọng của thị trường đối
với sự phát triển của doanh nghiệp là không thể phủ nhận. Nó là điều kiện cần và
đủ để doanh nghiệp tồn tại và phát triển.
Tóm lại, thị trường là khâu quan trọng nhất của quá trình tái sản xuất hàng
hoá, là “cầu nối” giữa sản xuất với tiêu dùng. Thị trường là tấm gương để các cơ
sở sản xuất kinh doanh nhận biết được nhu cầu xã hội và để đánh giá được hiệu
quả kinh doanh của chính bản thân mình. Thông qua đó, họ có thể điều kiển mọi
hành vi của bản thân cho thích nghi được với thị trường.
1.2. Thị trường của sản phẩm và thị trường của doanh nghiệp:
1.2.1. Thị trường của sản phẩm (nhóm sản phẩm):
Sản phẩm ở đây được hiểu là một hay một nhóm sản phẩm cùng loại. Nếu
sản phẩm là vật phẩm tiêu dùng thì phải xét từ tổng thể dân cư vùng lãnh thổ đang
xét, còn nếu sản phẩm là tư liệu sản xuất thì phải bắt đầu xét từ tổng thể các doanh
nghiệp trong vùng đó có sử dụng loại tư liệu sản xuất đó. Trước hết cần loại trừ
tập hợp những người hoặc doanh nghiệp không tiêu dùng tuyệt đối. Đây là những
khách hàng mà trong mọi trường hợp đều không quan tâm đến sản phẩm của
doanh nghiệp vì những lý do khác nhau như giới tính, lứa tuổi, nơi cư trú… hoặc
các đặc trưng cá biệt khác. Sự loại trừ này cho ta thị trường lý thuyết về sản phẩm
13
đang xét biểu hiện số lượng khách hàng tối đa và số lượng tiêu dùng tối đa đối với
sản phẩm đó.
Tiếp theo cần xác định thị trường không tiêu dùng tương đối là tập hợp
những người và doanh nghiệp hiện tại không tiêu dùng loại sản phẩm đó vì nhiều
lý do khác nhau, chẳng hạn :
Thứ hai, yếu tố quan trọng làm đối trọng với cầu trên thị trường là cung về
hàng hoá, dịch vụ do các cá nhân, doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân tạo
nên, chính sự tác động qua lại với nhau giữa cung và cầu về hàng hoá tạo nên quy
luật cung cầu chi phối hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường.
Thứ ba, thành phần không thể thiếu được tham gia trên thị trường của doanh
nghiệp là các hàng hoá, sản phẩm cụ thể, đối tượng để mua bán trao đổi.
Một khi trên thị trường có nhiều người mua, nhiều người bán và nhiều hàng
hoá tương tự nhau về chất lượng, giá cả tất yếu nảy sinh sự cạnh tranh. Đó là sự
cạnh tranh về chất lượng sản phẩm, về phương thức giao dịch mua bán hàng hoá,
thanh toán, cạnh tranh giữa người mua với người mua; cạnh tranh giữa người bán
với người mua; cạnh tranh giữa người bán với người bán và giữa những người
mua với nhau. Cạnh tranh là bộ máy điều chỉnh trật tự thị trường, là yếu tố quan
trọng kích thích tính tích cực, tính đa dạng và nâng cao chất lượng hàng hoá cho
phù hợp với nhu cầu thị trường.
1.2.3. Các chỉ tiêu đo lường quy mô của thị trường:
15
Để đo lường quy mô thị trường của doanh nghiệp ta có thể căn cứ vào một số
chỉ tiêu sau:
- Thị phần của doanh nghiệp: đây là tỷ phần tham gia thị trường ngành hàng
của tổng sản lượng hay doanh số bán mà doanh nghiệp xâm nhập được trong kỳ. Số
liệu thị phần được dùng để đo lường mức độ về sự tập trung của người bán trong
một thị trường.
+ Thị phần tuyệt đối là tỷ lệ phần doanh thu của doanh nghiệp so với toàn bộ
sản phẩm cùng loại được tiêu thụ trên thị trường (F1, F2 ):
Doanh số bán ra của doanh nghiệp
F1 =
_____________________________________________________
x 100% (Công thức 1.1)
Tổng doanh số bán ra của toàn ngành
Doanh số bán ra của sản phẩm
trường thực mới tăng bình quân .
Xét theo bề sâu thì đó là việc tăng được lượng bán hàng vào thị trường hiện
tại. Như vậy sự tăng trưởng thị trường thể hiện qua tốc độ tăng tổng kim ngạch bình
quân trên từng khu vực thị trường và toàn bộ tổng các khu vực thị trường.
- Số thị trường mới thực sự tăng bình quân:
t1 + t2+ …+ tn
T = (Công thức 1.4)
n
Trong đó: n là số năm, t1, t2…tn là số thị trường thực mới mà doanh nghiệp
khai phá được hàng năm. Số thị trường thực mới t được tính bằng số thị trường mới
khai phá được hàng năm trừ đi số thị trường mà doanh nghiệp để mất hàng năm.
T = 0: thể hiện sự tăng trưởng thị trường của doanh nghiệp quá kém, đến nỗi
số thị trường mới mở chỉ bằng số thị trường mà doanh nghiệp để mất hoặc doanh
nghiệp mới chỉ duy trì được hoạt động của mình trên các thị trường đó.
T < 0: chứng tỏ thị trường của doanh nghiệp ngày càng bị thu hẹp theo phạm
vi địa lý. Doanh nghiệp không những không thực hiện được việc tăng trưởng thị
trường mà còn đang mất dần thị trường hiện tại.
T > 0: chứng tỏ số thị trường của doanh nghiệp không ngừng tăng lên
hàng năm.
Chỉ tiêu trên dùng để đo lường sự tăng trưởng thị trường theo chiều rộng, nó
chỉ mới cho thấy mức độ tăng trưởng thị trường theo phạm vi không gian chứ
không thể hiện được những nỗ lực của doanh nghiệp trong việc tăng doanh số, tăng
khối lượng vào các thị trường hiện tại. Vì vậy, để khắc phục nhược điểm này, ta có
17
chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng thị trường mà có thể đo được quy mô mở rộng thị trường
theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu.
- Tốc độ tăng quy mô thị trường bình quân của doanh nghiệp:
K = (k
1.
k
hợp lý giữa các tỷ phần thị trường. Các thị trường cấp thấp có cơ cấu tương đồng
thì tỷ trọng giảm đi để nhường cho các phẩn thị trường cấp cao có dung lượng lớn
và nhu cầu cao.
- Sự gia tăng thị phần của doanh nghiệp:
- Thị phần tuyệt đối là tỷ lệ phần doanh thu của doanh nghiệp so với toàn
bộ sản phẩm cùng loại được tiêu thụ trên thị trường (F).
- Thị phần tương đối được xác định trên cơ sở thị phần tuyệt đối của doanh
nghiệp so với thị phần tuyệt đối của đối thủ cạnh tranh.
18
Doanh số bán ra của doanh nghiệp
F =
____________________________________________________________
x 100% (Công thức 1.6)
Tổng doanh số bán ra của toàn ngành
- Chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng, doanh thu, lợi nhuận so với kỳ gốc:
- Chỉ tiêu doanh thu: Đây là một chỉ tiêu tổng quát. Nó là kết quả tổng hợp
của công tác phát triển thị trường cho các loại sản phẩm doanh nghiệp sản xuất trên
các loại thị trường khác nhau. Cũng như chỉ tiêu sản lượng sản phẩm tiêu thụ,
Doanh nghiệp cũng cần so sánh mức độ tăng trưởng doanh thu kỳ trước mức tăng
doanh thu của ngành và của đối thủ cạnh tranh. Do chỉ tiêu doanh thu có liên quan
đến yếu tố tiền tệ nên chỉ tiêu này còn chịu sự tác động của sự thay đổi tỷ giá hối
đoái, lạm phát. Có nhiều trường hợp do lạm phát nên mặc dù doanh thu qua các kỳ
đều tăng trưởng nhưng trên thực tế sản lượng tiêu thụ lại không tăng. Do vậy, chưa
thể nói là doanh nghiệp đã thực hiện thành công chiến lược phát triển thị trường.
- Lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Lợi nhuận tuy không phải là chỉ tiêu phản ánh trực tiếp kết quả của công
tác phát triển thị trường nhưng nó lại là một chỉ tiêu có liên quan mật thiết với công
tác này. Vì vậy, thông qua mức tăng trưởng của lợi nhuận cả về tương đối và tuyệt
đối ta có thể nắm được phần nào kết quả của công tác tiêu thụ và phát triển thị
trường tiêu thụ của doanh nghiệp.
- Thị trường hàng cấp 1: chủ yếu là thị trường hàng ngắn ngày phục vụ cho
nhu cầu ăn, mặc và học.
- Thị trường hàng cấp 2: chủ yếu là thị trường phục vụ cho nhu cầu ở và đi lại.
- Thị trường hàng cấp 3: thị trường hàng hóa xa xỉ và đắt tiền.
1.3.1.3. Phân loại theo mục đích sử dụng hàng hóa:
- Thị trường hàng hoá: là thị trường trong đó đối tượng trao đổi là hàng hoá,
vật phẩm tiêu dùng với mục đích thoả mãn nhu cầu vật chất. Thị trường hàng hoá
bao gồm nhiều bộ phận thị trường khác nhau, điển hình là thị trường tư liệu sản
xuất và thị trường tư liệu tiêu dùng. Trên thị trường tư liệu sản xuất thường có các
nhà kinh doanh lớn, cạnh tranh diễn ra mạnh hơn, quy mô thị trường lớn hơn nhưng
nhu cầu thị trường không phong phú, đa dạng như nhu cầu thị trường hàng tiêu
dùng, thị trường tư liệu sản xuất bị phụ thuộc vào thị trường hàng tiêu dùng. Còn
trên thị trường hàng tiêu dùng số lượng người mua và người bán nhiều, mức độ
cạnh tranh của thị trường này không gay gắt như trên thị trường tư liệu sản xuất.