Bước đầu tìm hiểu phép so sánh trong tổ chức các thông điệp nghệ thuật trong
Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu văn chương đi theo hướng phân
tích diễn ngôn. Những thành tựu của ngôn ngữ học hiện đại ngày càng cho thấy
rõ hơn cái định đề “nói là hành động”. Hoạt động của tác giả trong sáng tạo văn
chương, ngày nay được hiểu như là một “hành động diễn ngôn” mang tính chủ
đích cao. Trong hoạt động đó, ngoài việc tạo ra một không gian tưởng tượng và
hư cấu đủ cho các nhân vật vùng vẫy, nhà văn còn phải dụng công “diễn ngôn”
sao cho văn bản được tạo ra là duy nhất, không lặp lại. Những hoạt động ngôn từ
của tác giả, vì vậy, được coi là một thực tế diễn ngôn có dụng ý cao và độc đáo.
Tuy nhiên, vì viết là “để tha nhân đọc và hiểu được ý mình định gởi gắm”, cho
nên dầu muốn dầu không, nhà văn vẫn phải tìm một con đường thỏa hiệp hợp lí
giữa mình và bạn đọc. Cách dung hòa ấy có thể đi từ hệ thống chủ đề quen
thuộc; để bạn đọc dễ hình dung diễn tiến câu chuyện qua kinh nghiệm bản thân);
cũng có thể là đi từ các xung đột đầy kịch tính giữa các tình huống éo le kiểu
hình sự) nhưng chất văn chương thì tầm thường, nhạt nhẽo. Và trong thực tế tồn
tại muôn vàn cách để nhà văn đạt được một dung hòa, một thỏa hiệp như vậy.
Trong văn đàn Việt Nam, có một nhà văn đã không tìm đến một “cách
sống chung dễ dãi” như vậy giữa mình và bạn đọc. Ông đặt ra nhiều cách dụng
ngôn, bắt người đọc phải suy nghĩ và buộc cũng phải mệt mỏi gần bằng ông khi
sáng tạo. Người đọc được ông tôn trọng, được nâng giá trị lên khi đọc ông, và dĩ
nhiên được lao động một cách sáng tạo như ông. Đó là Nguyễn Tuân.
1.2. Nguyễn Tuân là một trong số ít những nhà văn được chọn lọc trong chương
trình phổ thông với tư cách là một tác gia tiêu biểu với phong cách sáng tạo nghệ
thuật độc đáo và có nhiều cống hiến cho văn chương Việt Nam thế kỷ 20.
qua hệ thống ngôn từ. Bản thân người viết là một giáo viên giảng dạy môn Ngữ
văn bậc THPT cũng đã gặp khó khăn này. Luận văn mong được đóng góp một
phần vào việc giải quyết những khó khăn đó.
Bước đầu tìm hiểu phép so sánh trong tổ chức các thông điệp nghệ thuật trong
Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
Từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Phép so sánh trong kí của
Nguyễn Tuân”.
2. Lịch sử nghiên cứu
Bao quát toàn bộ lịch sử nghiên cứu không phải là nhiệm vụ của luận văn
này. Nhưng nghiên cứu ngôn ngữ vốn là một phần việc không hoàn toàn tách rời
khỏi quy trình nghiên cứu văn nghiệp chung của tác giả. Cho nên, người viết đề
cập khái lược lịch sử nghiên cứu về tác gia này.
Nguyễn Đăng Mạnh, trong lời giới thiệu Tuyển tập Nguyễn Tuân (NXB
Văn học, 1981), đã chỉ ra cái dễ và khó trong tùy bút và đi đến khẳng định sự
độc đáo trong tùy bút của Nguyễn Tuân. Với Nguyễn Tuân, cái tôi trong tùy bút
là một cái tôi “với lối chơi độc tấu” nhưng lại “có duyên mặn mà” để người đọc
không nhàm chán. Để có được cái duyên này, Nguyễn Tuân đã luôn bứt phá lên
trên chính mình “gan góc và bền bỉ phấn đấu” để không lặp lại chính mình.
Sau cách mạng tháng Tám, cái nhìn của Nguyễn Tuân về thế giới xung
quanh đã có sự thay đổi nhiều. Nguyễn Tuân mở rộng lòng và túy bút của ông
“không chỉ giàu chất hiện thực mang tính thời sự cao mà còn đậm đà chất trữ
tình thơ mộng”. Nhà nghiên cứu Hà Văn Đức còn khẳng định rằng “chất trữ
tình đậm đà được kết hợp với chất trí tuệ sắc sảo đã tạo nên một nét riêng biệt
cho tùy bút Nguyễn Tuân” [34, tr 140]. Và chính điều này đã góp phần tạo nên
sự tỏa sáng cho tùy bút Nguyễn Tuân – “một khối ru-bi nhiều mặt” mà mặt nào
cũng rực rỡ.
Trong Nguyễn Tuân và thể tùy bút theo ý kiến của nhà nghiên cứu Vương
trong các sáng tác của Nguyễn Tuân cũng được một số nhà nghiên cứu đề cập tới
nhưng chỉ tập trung trong một vài sáng tác cụ thể. Đó chỉ là những ý kiến đánh
giá riêng lẻ, chưa thành một hệ thống. Với luận văn này, chúng tôi cố gắng khảo
sát một cách có hệ thống phép so sánh trong các tác phẩm ký của Nguyễn Tuân
trên tinh thần tiếp thu những thành quả của các nhà nghiên cứu đi trước.
Bước đầu tìm hiểu phép so sánh trong tổ chức các thông điệp nghệ thuật trong
Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
3. Mục đích và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của công trình nghiên cứu là tìm hiểu phép so sánh và hiệu quả
của nó trong kí của Nguyễn Tuân.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Tác phẩm ký của Nguyễn Tuân sau 1945
4. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn đề ra những nhiệm vụ sau:
- Giới thiệu được những nét cơ bản về Nguyễn Tuân và thể kí. Phân biệt thể loại
kí với một số thể loại văn học khác.
- Nêu được cơ sở khoa học của phép so sánh và lực dụng học của phép so sánh
này, nhất là trong sáng tác văn chương.
- Khảo sát tư liệu tìm ra các dạng so sánh trong kí Nguyễn Tuân đồng thời tìm
hiểu bước đầu công dụng của phép so sánh này trong thi pháp của Nguyễn Tuân.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Các dạng so sánh mà Nguyễn Tuân đã dùng trong kí. Tư liệu được rút ra từ
các bài kí trong Tuyển tập Nguyễn Tuân, NXB Văn học, 2005, 3 tập)
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
4. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
6. Đóng góp của luận văn
7. Cấu trúc luận văn
NỘI DUNG
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
Bước đầu tìm hiểu phép so sánh trong tổ chức các thông điệp nghệ thuật trong
Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
1.1. Phép so sánh và Cấu trúc so sánh
1.2. Thể loại kí
1.3. Giới thiệu về Nguyễn Tuân và tác phẩm
1.4. Tiểu kết
Chƣơng 2: PHÉP SO SÁNH TRONG KÝ NGUYỄN TUÂN
2.1. Cấu trúc so sánh trong kí Nguyễn Tuân
2.2. Mô tả cấu trúc theo đặc điểm ngữ pháp
2.3. Mô tả cấu trúc so sánh theo nội dung (ngữ nghĩa) ở các vế
2.4. Tiểu kết
Chƣơng 3: BƢỚC ĐẦU TÌM HIỂU VỀ GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT CỦA
PHÉP SO SÁNH TRONG KÍ NGUYỄN TUÂN
3.1. Dẫn nhập
3.2. Khai thác khả năng mở rộng các vế trong so sánh
3.3. Khai thác tương quan về nội dung giữa các vế
3.4. Nhận xét về hiệu lực so sánh trong kí Nguyễn Tuân
3.5. Tiểu kết
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
sáng tạo hình tượng nghệ thuật.
Phương thức so sánh cũng sớm được các nhà ngôn ngữ học nước ta đề cập
đến. Bắt đầu từ những năm 60 của thế kỉ XX, khi các công trình nghiên cứu về
tiếng Việt xuất hiện, so sánh cũng được nhắc đến trong các bài giảng về phong
cách học.
Có thể kể đến những công trình nghiên cứu có đề cập tới so sánh như:
Giáo trình Việt ngữ, 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt của Đinh
Trọng Lạc; Phong cách học tiếng Việt của Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa,
Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt của Cù Đình Tú, Phong cách học
tiếng Việt của Hữu Đạt; …
Bước đầu tìm hiểu phép so sánh trong tổ chức các thông điệp nghệ thuật trong
Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Trong những công trình kể trên, hầu hết các tác giả đều đưa ra sự phân
biệt giữa so sánh tu từ và so sánh logic (so sánh luận lí). Theo các tác giả này,
trong so sánh logic, cái được so sánh và cái so sánh là các đối tượng cùng loại.
Và mục đích của so sánh là xác lập sự tương đương giữa hai đối tượng. Ví dụ:
- Bố nặng cân hơn mẹ.
- Anh chạy nhanh hơn tôi.
- Giá trị của (a + b)
2
bằng giá trị của (a
2
+ 2ab + b
2
).
So sánh tu từ khác so sánh logic ở tính hình tượng, tính biểu cảm và tính
dị loại (không cùng loại) của sự vật. Ví dụ:
Theo Cù Đình Tú trong Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, “So
sánh tu từ là cách công khai đối chiếu hai hay nhiều đối tượng cùng có một dấu
hiệu chung nào đấy (nét giống nhau) nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm
của một đối tượng” [49, tr 272]…
Như vậy, theo nhiều quan niệm của các nhà nghiên cứu đã nêu ở trên,
chúng ta có thể rút ra một vài đặc điểm của phương thức so sánh như sau:
- So sánh là việc đối chiếu ít nhất hai sự vật, hiện tượng theo một phương
diện nào đó.
- Những sự vật, hiện tượng đưa ra đối chiếu phải khác loại.
- Những sự vật, hiện tượng đưa ra đối chiếu phải có nét tương đồng sâu
xa nào đó trong những ngữ cảnh nhất định mà giác quan có thể nhận biết được.
- Đối chiếu để tìm ra các nét giống nhau và khác biệt giữa các đối tượng
được so sánh và so sánh.
1.1.2. Cấu trúc so sánh
1.1.2.1. Có nhiều quan niệm khác nhau về cấu trúc so sánh
Theo Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa trong Phong cách học tiếng
Việt, hình thức đầy đủ nhất của phương thức so sánh gồm 4 yếu tố:
a. Cái cần được so sánh, kí hiệu là (A)
b. Cơ sở so sánh, kí hiệu là (t)
c. Từ so sánh, kí hiệu là (tss)
Bước đầu tìm hiểu phép so sánh trong tổ chức các thông điệp nghệ thuật trong
Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
d. Cái được dùng làm chuẩn để so sánh, kí hiệu là (B)
A
(t)
(tss)
B
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
(Đỗ Trung Quân)
Trong Phong cách học tiếng Việt hiện đại, Hữu Đạt đã đưa ra mô hình
khái quát của phép so sánh như sau:
A – X – B
Trong mô hình trên, có thể nhận thấy sự thiếu vắng của yếu tố chỉ phương
diện so sánh. Điều này đã khiến cho cấu trúc so sánh mà tác giả đưa ra chỉ có 3
yếu tố. Và biến thể của cấu trúc này chỉ có hai loại là:
- Cấu trúc so sánh không có từ so sánh:
Mô hình: A – B
Biến thể: A - B1, B2…; A2… - B; A1, A2 - B1, B2
Ví dụ:
Bác ngồi đó lớn mênh mông
Trời cao biển rộng, ruộng đồng nước non
(Tố Hữu)
- Cấu trúc so sánh có từ so sánh:
Mô hình: A – X – B
Biến thể: A-X-B1, B2; A1, B1-X-B; A1, B1-B1, B2
Ví dụ:
Lũ đế quốc như bầy quỷ sống
Nướng người ăn, nhảy nhót, reo cười
(Tố Hữu)
Đồng quan điểm với Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa, Nguyễn Thế
Lịch trong một bài viết cho rằng một cấu trúc so sánh hoàn chỉnh luôn gồm 4
yếu tố:
a. Yếu tố cần so sánh, tức là được (hay bị) so sánh (YTĐSS) – (A);
Bước đầu tìm hiểu phép so sánh trong tổ chức các thông điệp nghệ thuật trong
Trong như tiếng hạc bay qua
Đục như tiếng suối mới sa nửa vời
(Nguyễn Du)
b. Yếu tố phương diện so sánh: có vai trò thể hiện thuộc tính của sự vật mà
yếu tố được so sánh biểu thị, là thuộc tính được xem như tiêu biểu của sự vật mà
yếu tố so sánh biểu thị. Khi trong cấu trúc so sánh vắng yếu tố phương diện thì
phải dựa vào liên tưởng để tìm ra nét tương đồng giữa yếu tố được so sánh và
Bước đầu tìm hiểu phép so sánh trong tổ chức các thông điệp nghệ thuật trong
Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
yếu tố so sánh, từ đó mới có thể xác định được là đã thực hiện sự so sánh về
phương diện nào.
c. Yếu tố quan hệ: được xem là đơn giản nhất trong cấu trúc so sánh, bao
gồm các từ so sánh, từ là, và cặp từ hô ứng bao nhiêu…bấy nhiêu.
Các từ so sánh được dùng phổ biến nhất là: như, tựa, tựa như, như là, như
thể, hồ như,…., ví dụ:
Cổ tay em trắng như ngà
Con mắt em liếc như là dao cau
(Ca dao)
Từ là trong cấu trúc so sánh có giá trị so sánh tương đương từ như, nhưng
sắc thái ý nghĩa hoàn toàn khác nhau. Như có sắc thái giả định, chỉ sự tương
đồng về một khía cạnh nào đó, cảm nhận thiên về chủ quan; là có sắc thái khẳng
định sự đồng nhất hoàn toàn, sự đánh giá có cơ sở khách quan. Ví dụ:
Tình tôi là giọt thủy ngân
Dù nghiền chẳng nát, dù lăn vẫn tròn
(Ca dao)
Cặp từ hô ứng bao nhiêu…bấy nhiêu, ví dụ:
Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang
Mẹ già như chuối ba hương
Như xôi nếp mật, như đường mía lau
(Ca dao)
b. Vắng yếu tố phương diện và yếu tố quan hệ, ví dụ:
Người giai nhân: bến đợi dưới cây già
Tình du khách: thuyền qua không buộc chặt
(Xuân Diệu)
c. Vắng yếu tố được so sánh, ví dụ:
Có phải duyên nhau thì thắm lại
Đừng xanh như lá, bạc như vôi
(Hồ Xuân Hương)
Bước đầu tìm hiểu phép so sánh trong tổ chức các thông điệp nghệ thuật trong
Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
Theo tác giả, chính loại cấu trúc vắng yếu tố được so sánh đã tạo ra vô số
các thành ngữ so sánh kiểu như: cao như núi, ngọt như mía lùi, đỏ như son, vàng
như nghệ …. Chúng đã giúp cho người nói và nghe tri nhận dễ dàng hơn vì
phương diện so sánh đã được hiển ngôn.
d. Vắng yếu tố được so sánh và yếu tố phương diện, ví dụ:
- Như diều gặp gió
(Thành ngữ)
- Như nước vỡ bờ
(Thành ngữ)
1.1.2.2. Tiếp thu những quan niệm của các tác giả đi trước, tác giả luận văn này
cho rằng:
Một cấu trúc so sánh hoàn chỉnh bao gồm 4 yếu tố theo mô hình:
A + x + tnss + B
d. So sánh để biểu lộ tình cảm, ví dụ:
Chúng ta hãy phấn đấu như mùa xuân, với nhiệt tình như ánh nắng. (Hồ
Chí Minh)
e. So sánh liên tiếp, ví dụ:
Đôi ta như lửa mới nhen
Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu
(Ca dao)
f. So sánh phát triển, ví dụ:
Thân em như tấm lụa đào
Dám đâu xé lẻ vuông nào cho ai
(Ca dao)
g. So sánh hơn – kém, ví dụ:
Ngọc nào bằng tay em (Tố Hữu)
Bước đầu tìm hiểu phép so sánh trong tổ chức các thông điệp nghệ thuật trong
Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
h. So sánh đặc biệt:
Đây là kiểu so sánh mà hai vế được thể hiện hoàn toàn cân đối về hình
thức và nội dung. Kiểu so sánh này không được dùng khi diễn đạt thuộc tính mà
chỉ dùng trong diễn đạt tình huống hoặc sự kiện mà ở đó tính cân đối là điều kiện
quan trọng để nhận ra có sự so sánh. Ví dụ:
Cây khô xuống núi cũng khô
Phận nghèo đi đến nơi mô cũng nghèo
(Ca dao)
Tác giả Hữu Đạt khi phân loại các kiểu so sánh đã dựa vào cả hai tiêu chí
hình thức và nội dung của nó. Theo đó, chúng ta có các kiểu so sánh sau:
a. So sánh ngang bằng, ví dụ:
Nước da nâu và nụ cười bỡ ngỡ
dụ:
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim
(Tố Hữu)
2. So sánh dị biệt. Căn cứ vào mức độ thể hiện thuộc tính giữa hai vế so
sánh và được so sánh, và các từ ngữ so sánh, có thể chia dạng này thành 2 kiểu
sau đây:
a. So sánh dị biệt hơn. Kiểu này bao gồm:
a1. So sánh dị biệt hơn tuyệt đối: Đây là kiểu so sánh có các số từ
(thứ tự) thể hiện mức độ kiểu như nhất (A), nhì (B), tam, tứ …, thứ nhất (A), thứ
nhì (B)… Thông thường, trong dạng kết cấu này, A và B được xếp theo thứ tự
phân dạng đánh giá. Ví dụ:
Nhất canh trì, nhì canh viên, tam canh điền
(Tục ngữ)
Tuy nhiên đôi khi các từ thứ tự này chỉ mang tính tương đối hoặc có khi
chỉ là một sắp xếp hình thức, có tính ước lệ. Nhất là trong các dạng ngữ cố định,
yêu cầu về vần điệu được ưu tiên hơn các sắp xếp khác.
Bước đầu tìm hiểu phép so sánh trong tổ chức các thông điệp nghệ thuật trong
Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20
a2. So sánh dị biệt tương đối: Kiểu so sánh này thường dùng các từ
so sánh như hơn,( còn) hơn,… Ví dụ:
Tốt gỗ hơn tốt nước sơn
Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người
(Tục ngữ)
b. So sánh dị biệt kém: Các từ đặc trưng cho kiểu so sánh này thường
là: thua, kém, không bằng, sao bằng, không tày, chẳng bằng, … Ví dụ:
Đêm nằm ở dưới bóng trăng
của Tư Mã Thiên vừa mang tính sử học lại vừa mang tính văn chương. Tuy vậy,
nếu nghiên cứu kĩ tiến trình văn học Việt Nam thì cũng không thể không thừa
nhận sự ảnh hưởng to lớn của báo chí đến các sáng tác phẩm văn chương. Tính
chính luận, thời sự và tính chiến đấu cao của báo chí trong những giai đoạn lịch
sử nhất định có sức hấp dẫn riêng của nó và là nguồn sáng tạo đích thực, gây
cảm hứng đầy sinh lực đối với văn học.
Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi hạn chế chỉ trong kí văn học. Việc
xác định một khái niệm đúng đắn về kí khó khăn một phần vì trong kí là một tập
hợp đa dạng nhiều bút pháp và chất liệu. Ngay việc các tác giả quan niệm về
sáng tác của mình đôi khi cũng không hoàn toàn trùng với khung lí luận văn học.
Chẳng hạn, Tây sương kí của Vương Thục Phủ thực ra là kịch, Tây du kí của
Ngô Thừa Ân lại mang hình hài một tiểu thuyết, Nhật kí người điên của Lỗ Tấn
thực chất là truyện ngắn, Nhật kí ở rừng của Nam Cao cũng là một truyện ngắn
còn Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh thì lại là tập thơ được Chủ tịch lấy cảm
hứng từ những năm tháng bị giam cầm
Trong 150 thuật ngữ văn học, kí được Lại Nguyên Ân định nghĩa: “Tên
gọi chung cho một nhóm thể tài nằm ở phần giao nhau giữa văn học và ngoài
văn học (báo chí, chính luận, ghi chép tư liệu các loại…) chủ yếu là văn xuôi tự
sự, gồm các thể như bút kí, hồi kí, du kí, phóng sự, kí sự, nhật kí…” [1, tr.176].
Tuy nhiên, khi xem xét kí trong hệ thống trữ tình - tự sự - kịch ta thấy: Hệ thống
Bước đầu tìm hiểu phép so sánh trong tổ chức các thông điệp nghệ thuật trong
Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
22
này hoàn toàn đúng cho văn chương thẩm mĩ mà không bao gồm hết các loại,
vốn không phải là văn chương thẩm mĩ nhưng vẫn có giá trị nghệ thuật cao. Đó
là chính luận. Không thể xếp văn chính luận vào kí như quan niệm từ trước đến
nay vì văn chính luận chủ yếu không phải nhằm thông tin thực tại mà là thông tin
về lập luận. Do vậy nên xếp loại bút kí chính luận vào văn chính luận thì chính
qua đó nhà văn trình bày quan niệm thẩm mĩ của mình. Hai là, về bút pháp, văn
học thường sử dụng những phương thức của văn học nói chung để tạo ra một
giọng điệu phong phú, sinh động. Ba là, trong thể kí văn học, cái Tôi bao giờ
cũng là cái tôi thẩm mĩ, người nghệ sĩ tái tạo hiện thực trên cơ sở những cảm xúc
thẩm mĩ, trình bày những quan điểm thẩm mĩ của mình qua tác phẩm. Chính bởi
vậy, bên cạnh những thủ pháp nghệ thuật khác, thủ pháp hư cấu vẫn thường
được nhà văn sử dụng. Nói cách khác, nhà văn có thể sử dụng những hình thức
không xác định để trình bày cái xác định. Hư cấu nghệ thuật được sử dụng trong
kí còn bởi một thực tế: tác giả không thể đồng thời chứng kiến tất cả các khía
cạnh của sự việc đang xảy ra. Muốn có được một bức tranh toàn cảnh của sự
việc, nhà văn có thể lấy thông tin từ nhiều nguồn khác nhau rồi chế biến theo
định niệm của mình. Như vậy ngay trong kí, vai trò của tưởng tượng và tư duy
theo lối hình tượng vẫn phải đảm bảo ở mức cao nhất. Tuy nhiên, không phải
người viết ký tưởng tượng và hư cấu thế nào cũng được. Về nguyên tắc, những
thành phần xác định của người thật việc thật (tên tuổi, ngoại hình, địa chỉ, nguồn
gốc … ) người viết phải phấn đấu thể hiện xác thực đến mức tối đa. Nhà văn có
thể tưởng tượng hư cấu rộng rãi hơn với những thành phần không xác định ( như
nội tâm nhân vật, cảm xúc, thiên nhiên, nhân vật phụ…) cũng như việc sắp xếp
tổ chức hệ thống tác phẩm. Tóm lại, trong tác phẩm kí văn học, nhà văn có thể
hư cấu nhưng nhìn chung có phần hạn chế và thường ở những thành phần không
xác định.
1.2.1.3. Sáng tác văn học dạng kí thường thịnh hành ở các giai đoạn văn học sử
ứng với thời kỳ xã hội có khủng hoảng của các quan hệ cũ, nảy sinh một nếp
sống mới, làm tăng cường chú ý đến sự miêu tả các thói tục. Có thể thấy những
Bước đầu tìm hiểu phép so sánh trong tổ chức các thông điệp nghệ thuật trong
Ký Nguyễn Tuân – Trần Văn Nam (Ngữ văn)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
24
ví dụ sinh động trong nền văn học thế giới biểu hiện rõ rệt điều này: văn học Nga
25
biền ngẫu, bản ngã cá tính còn dè dặt, miêu tả cụ thể nhưng vẫn thiên về ngoại
cảnh hơn là về tình cảm nội tâm. Đây chính là bước khởi đầu về thời kì chuyển
tiếp từ kí trung đại sang kí hiện đại.
Từ 1930 – 1945, các thể ký văn học đã được khẳng định với những tác
phẩm phóng sự về nông thôn của Ngô Tất Tố, về đời sống của phu nghèo thành
thị mọi tệ nạn trộm cắp, cờ bạc… của Vũ Trọng Phụng, Tam Lang, về Hà Nội ba
sáu phố phường của Thạch Lam và đặc biệt là qua phong cách tuỳ bút tài hoa,
độc đáo của Nguyễn Tuân. Trong các thể của loại hình kí, có thể nói gây nhiều
chú ý hơn cả là những bài tuỳ bút. Về thể loại này, hai nhà văn Thạch Lam và
Nguyễn Tuân được coi là hai “khai quốc công thần” với vai trò tiên phong, chủ
lực. Và tác phẩm tuỳ bút đầu tiên có lẽ là bài Chơi thành Cổ Loa (1938) của
Nguyễn Tuân. Đây là một bài tuỳ bút rất ngắn. Trong khuôn khổ 4 trang sách in
(từ trang 131 đến trang 134 – Nguyễn Tuân toàn tập, tập 1), tác giả miêu tả cảnh
rêu phong hoang phế của thành Cổ Loa, bộc lộ những hoài niệm về những tấn bi
kịch trong truyền thuyết và ngậm ngùi, xót xa trước sức tàn phá của thời gian.
Giọng điệu câu văn biến hoá rất linh hoạt: “Đường lối đã thuộc, dấu tích đã nhớ,
ta chỉ còn đem cặp mắt thu cái tàn đô của Cổ Loa, rồi đứng trước nếp thành cổ,
nhớ lại người xưa, đem con tim khối óc mà cảm khái cuộc đời đổi thay !”.
Như vậy, đến năm 1945, thể ký đã cơ bản hoàn tất quá trình thai nghén và
sinh thành thể loại tuỳ bút. Cùng với thơ mới, truyện ngắn, phóng sự, bút kí, tiểu
thuyết, tuỳ bút là thể loại đóng góp đáng kể để làm nên một thời đại văn chương
với nhiều thành tựu rực rõ. Tác giả Lê Dục Tú đã có nhận định: “Phóng sự và
tuỳ bút là hai tiểu loại ký tiêu biểu làm nên những thành tựu nổi bật của ký giai
đoạn 1930 – 1945” [34, tr 408].
Từ 1945 – 1975, trong văn học Việt Nam, ký giữ một vai trò đặc biệt quan
trọng. Nhiều tác phẩm ký có giá trị lần lượt xuất hiện, góp phần tạo nên bộ mặt
đa dạng của đời sống văn học. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống