mở rộng tín dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng vpbank - Pdf 23

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi. Số liệu
được nêu trong luận văn là trung thực và có trích nguồn. Kết quả nghiên cứu
trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nghiên cứu nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trần Thị Ánh
1
LỜI CÁM ƠN
Tôi xin chân thành cám ơn Quý thầy cô Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
đã tận tâm giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt thời
gian tôi học tập tại trường. Đặc biệt, tôi xin chân thành cám ơn PGS.TS. Nguyễn
Ngọc Sơn đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn cho tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin chân thành cám ơn các anh chị đồng nghiệp đang công tác tại
Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng đã hết lòng hỗ trợ, cung cấp số liệu và
đóng góp ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn.
2
LỜI MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam có nhiều chuyển biến tích
cực, đời sống kinh tế - xã hội ngày càng mở rộng nâng cao, năng lực sản xuất kinh
doanh và sức cạnh tranh hàng hóa được nâng lên với sự góp mặt của nhiều thành
phần kinh tế, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa . DNNVV là công cụ góp
phần khai thác toàn diện mọi nguồn lực kinh tế, đặc biệt là những nguồn tiềm tàng
sẵn có ở mỗi người, mỗi đất nước. Đây là nguồn lực mạnh và trong tương lai không
xa chính họ sẽ tạo nên sự tăng trưởng mạnh mẽ cho nền kinh tế nước nhà, là tiền đề
để phát triển nền kinh tế mũi nhọn, phát triển cơ chế công nghiệp hóa hiện đại hóa
của toàn xã hội.
Nhưng để thúc đẩy phát triển DNNVV ở nước ta hiện nay đòi hỏi phải giải
quyết hàng loạt khó khăn mà các DN này đang gặp phải liên quan đến nhiều vấn đề.
Trong đó, khó khăn lớn nhất, cơ bản nhất là thiếu vốn để sản xuất và đổi mới công

DNNVV
-Phân tích, đánh giá về thực trạng hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp
nhỏ và vừa tại VP Bank, tìm ra các nguyên nhân gây ra những hạn chế trong hoạt
động tín dụng đối với DNNVV.
- Đưa ra các giải pháp nhằm mở rộng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và
vừa tại VP Bank cho phù hợp với định hướng phát triển của Ngân hàng, đảm bảo
ngân hàng phát triển một cách bền vững
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Hoạt động tín dụng cho các DNNVV tại VP Bank trong những năm gần đây và giai
đoạn 2011-2015
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
4
- Phương pháp thu thập, thống kê số liệu từ báo cáo các hoạt động tín dụng
của Ngân hàng theo quý, năm
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: việc đánh giá hoạt động tín dụng đối với
DNNVV sẽ được phân tích trên từng chỉ tiêu riêng biệt, sau đó tổng hợp và
nhận định để đưa ra các đánh giá tổng quan và khách quan về hoạt động tín
dụng đó
- Phương pháp so sánh đối chiếu: đối chiếu giữa lý luận và thực tiễn, so sánh
với các Ngân hàng TMCP khác để đánh giá thực trạng hoạt động của
VPBank
- Phương pháp khảo sát, tham khảo ý kiến của các cán bộ tín dụng trong Ngân
hàng để có cái nhìn khách quan hơn về thực trạng cũng như bổ sung thêm
các giải pháp để mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng
5. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì luận văn gồm ba chương:
Chương I. Cơ sở lý luận về tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển của DNNVV
Chương II .Thực trạng hoạt động tín dụng đối với DNNVV tại VPBank

Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Số lao động Tổng nguồn
vốn
Số lao động Tổng nguồn
vốn
Số lao động
I. Nông, lâm nghiệp
và thủy sản
10 người trở
xuống
20 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến
từ trên 20 tỷ
đồng đến 100
từ trên 200
người đến 300
6
200 người tỷ đồng người
II. Công nghiệp và
xây dựng
10 người trở
xuống
20 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến
200 người
từ trên 20 tỷ

những vai trò với mức độ khác nhau, song nhìn chung có một số vai trò tương đồng
như sau:
• Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế: các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường
chiếm tỷ trọng lớn, thậm chí áp đảo trong tổng số doanh nghiệp (Ở Việt Nam chỉ
xét các doanh nghiệp có đăng ký thì tỷ lệ này là trên 97%). Vì thế, đóng góp của
họ vào tổng sản lượng và tạo việc làm là rất đáng kể. Doanh nghiệp nhỏ và vừa
luôn giữ vai trò ổn định nền kinh tế: ở phần lớn các nền kinh tế, các doanh
nghiệp nhỏ và vừa là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn. Sự điều
chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn
định. Vì thế, doanh nghiệp nhỏ và vừa được ví là thanh giảm sốc cho nền kinh
tế.Bên cạnh đó do doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy mô nhỏ, nên dễ điều chỉnh
hoạt động (xét về mặt lý thuyết) nên nó làm cho nền kinh tế năng động.
7
• Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng: doanh nghiệp nhỏ và
vừa thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được dùng để lắp ráp
thành một sản phẩm hoàn chỉnh.
• Là trụ cột của kinh tế địa phương: nếu như doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở
những trung tâm kinh tế của đất nước, thì doanh nghiệp nhỏ và vừa lại có mặt ở
khắp các địa phương và là người đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, vào
sản lượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương
Tại đại hội các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được tổ chức trong hai ngày 10 và
11/1/2011 tại Hà Nội, tập hợp khoảng 350 đại biểu đại diện cho cộng đồng doanh
nghiệp nhỏ và vừa trong toàn quốc đã có báo cáo nêu rõ: Các doanh nghiệp nhỏ và
vừa đóng góp hơn 40% GDP cả nước. Nếu tính cả 133.000 HTX, trang trại và các
hộ kinh doanh cá thể thì khu vực này đóng góp vào tăng trưởng tới 60% GDP. Các
doanh nghiệp nhỏ và vừa không chỉ đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế của
đất nước mà còn giúp tạo ra hơn một triệu việc làm mới mỗi năm cho số lao động
phần lớn chưa qua đào tạo; góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng cường an sinh xã
hội… Hiện các doanh nghiệp này sử dụng trên 50% lao động xã hội
1.1.3. Đặc điểm của DNNVV trong nền kinh tế thị trường:

phận lớn chủ doanh nghiệp và giám đốc doanh nghiệp tư nhân chưa được đào tạo
bài bản về kinh doanh và quản lý, còn thiếu kiến thức kinh tế-xã hội và kỹ năng
quản trị kinh doanh. Mặt khác, DNNVV ít có khả năng thu hút được những nhà
quản lý và lao động có trình độ, tay nghề cao do khó có thể trả lương cao và có các
chính sách đãi ngộ hấp dẫn để thu hút và giữ chân những nhà quản lý cũng như
những người lao động giỏi.
Bên cạnh những đặc điểm thể hiện ưu điểm của DNNVV thì còn có một số
điểm còn hạn chế. DNNVV có vị thế trên thị trường thấp, tiềm lực tài chính nhỏ
nên khả năng cạnh tranh thấp và ít khả năng huy động vốn để đầu tư đổi mới công
nghệ giá trị cao. Do vậy, họ ít có điều kiện để đào tạo nhân công, đầu tư cho nghiên
cứu, thiết kế cải tiến công nghệ, đổi mới sản phẩm. Trong nhiều trường hợp thường
9
bị động vì phụ thuộc vào hướng phát triển của các doanh nghiệp lớn và tồn tại như
một bộ phận của doanh nghiệp lớn
1.2. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DNNVV:
1.2.1.Khái niệm và các hình thức tín dụng của NHTM đối với các DNNVV:
1.2.1.1. Khái niệm:
Tín dụng được coi là mối quan hệ vay mượn lẫn nhau giữa người cho vay và
người đi vay trong điều kiện có hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định.
Hay nói một cách khác: Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ
kinh tế mà trong đó mỗi cá nhân hay một tổ chức nhường quyền sử dụng một khối
lượng giá trị hoặc hiện vật cho một cá nhân hay một tổ chức khác với những ràng
buộc nhất định về thời gian hoàn trả, lãi suất, cách thức vay mượn và thu hồi. Trong
quan hệ mua bán chịu, thông thường giá bán chịu hàng hoá cao hơn giá bán trao
tiền ngay, phần chênh lệch này chính là lãi của hàng hoá đem bán chịu. Quan hệ
mua bán chịu chỉ diễn ra giữa các đơn vị liên quan trực tiếp với nhau. Vì vậy nó
không đáp ứng được nhu cầu vay mượn ngày càng tăng của nền sản xuất hàng hoá.
Mặt khác, do đặc điểm tuần hoàn vốn trong quá trình tái sản xuất, xã hội thường
xuyên xuất hiện hiện tượng thừa vốn tạm thời ở các tổ chức cá nhân này và nhu cầu
thiếu vốn ở các tổ chức cá nhân khác. Hiện tượng thừa thiếu vốn phát sinh do có sự

chiếm quá nửa tổng tài sản và tạo ra 1/2 -2/3 nguồn thu của ngân hàng. Đồng thời,
rủi ro trong hoạt động ngân hàng có xu hướng tập trung vào danh mục các khoản
vay.
Cho vay là một quan hệ kinh tế, trong quan hệ này người cho vay chuyển giao
quyền sử dụng tiền trong một thời gian nhất định cho người đi vay. Khi đến hạn trả
nợ người đi vay có nghĩa vụ hoàn trả số tiền gốc và lãi vay.
Như vậy cho vay được hiểu như sau :Cho vay phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa
một bên là người cho vay (NHTM) còn bên kia là người vay (khách hàng vay vốn )
11
- Chiết khấu: là việc Ngân hàng Thương mại ứng trước tiền cho khách hàng tương
ứng với giá trị của thương phiếu sau khi đã trừ đi phần thu nhập của Ngân hàng để
sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn. Về mặt pháp lý thì Ngân hàng không phải
là nhà cho vay với chủ sở hữu thương phiếu và chỉ là hình thức trao đổi trái quyền.
Tuy nhiên đối với Ngân hàng, việc bỏ tiền ở thời điểm hiện tại để thu về một khoản
tiền lớn hơn trong tương lai với lãi suất ấn định trước được coi như là hoạt động tín
dụng, nhưng có lẽ coi đây là một hoạt động đầu tư của Ngân hàng hơn là một hoạt
động tín dụng.
- Bảo lãnh: là việc Ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính thay khách
hàng của mình khi khách hàng của mình không có khả năng trả nợ. Mặc dù không
phải xuất tiền ra, song Ngân hàng vẫn thu được lợi từ khách hàng nhờ uy tín của
mình. Nghiệp vụ này được đưa vào tài khoản ngoại bảng của Ngân hàng. Tuy nhiên
nếu có nghiệp vụ phát sinh tức là Ngân hàng đứng ra thực hiện nghĩa vụ tài chính
thay cho khách hàng của mình thì nó lại được đưa vào tài khoản nội bảng.
- Cho thuê: là việc Ngân hàng đứng ra bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng thuê
theo những điều kiện nhất định. Sau thời gian đó khách hàng phải trả cả gốc lẫn lãi
cho Ngân hàng. Đây là hoạt động khá mới mẻ với Ngân hàng. Tuy nhiên hoạt động
này sinh lời khá cao, nhưng nó cũng chứa đựng nhiều rủi ro trong đó có yếu tố về
công nghệ. Điều này đòi hỏi cán bộ tín dụng không những phải có chuyên môn về
nghề nghiệp mà còn có cả sự hiểu biết về kỹ thuật, về công nghệ.
 Căn cứ vào thời hạn tín dụng, tín dụng được chia thành 3 loại

dụng này thường được cấp cho các khách hàng có uy tín cao, những khách hàng có
mối quan hệ tốt và lâu dài đối với Ngân hàng, họ có tình hình tài chính lành mạnh,
có mối quan hệ tốt với các tổ chức tài chính. Cũng có thể là các khoản vay thực hiên
theo chỉ thị của Chính phủ, hay Chính phủ yêu cầu không cần tài sản đảm bảo.
1.2.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với DNNVV:
13
Trong nền kinh tế thị trường để tồn tại và phát triển các DNNVV rất cần đến
nguồn vốn tín dụng, vì vậy tín dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng thúc đẩy các
DNNVV phát triển, thể hiện như sau:
 Tín dụng ngân hàng góp phần tạo nên một cơ cấu vốn tối ưu, và nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn của DNNVV. Để nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh doanh,
nhằm tối đa hoá lợi nhuận, các DNNVV cần có một cơ cấu vốn tối ưu. Phối hợp
hợp lý giữa vốn của chủ sở hữu và vốn tín dụng. Sử dụng nguồn vốn tín dụng
ngân hàng giúp cho các DNNVV phát huy được các đòn bẩy tài chính, nâng cao
hiệu quả hoạt động
 Tín dụng ngân hàng bổ sung vốn cho các DNNVV, đảm bảo hoạt động của
DNNVV phát triển ổn định và nâng cao năng lực cạnh tranh. Cạnh tranh là một
quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường, để tồn tại và phát triển chiếm
lĩnh thị trường, thị phần, các DNNVV cần thiết phải cải tiến kỹ thuật, đổi mới
máy móc thiết bị, dây truyền công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm. Mặt
khác để hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục không bị gián đoạn, các
DNNVV cần thiết phải dự trữ một lượng nhất định hàng hoá, nguyên nhiên vật
liệu. Để làm được việc này cần phải có vốn, trong khi trên thực tế thì rất ít có
DNNVV có đủ vốn để thực hiện. Tín dụng ngân hàng sẽ giúp các DNNVV chủ
động trong việc thực hiện mục đích của mình và bảo đảm cho sản xuất kinh
doanh được ổn địn
Mặt khác khi sử dụng vốn vay ngân hàng các DNNVV phải tuân theo các nguyên
tắc tín dụng, điều này giúp các DN phải luôn quan tâm đến việc sử dụng vốn vay
đúng mục đích, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, để hoàn trả nợ đúng hạn cả gốc và
lãi.

dùng mà không gây ra những nguy cơ về rủi ro tín dụng cho khu vực ngân hàng.
1.2.3.3. Các chỉ tiêu phản ánh mở rộng hoạt động tín dụng
Chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng dư nợ
15
Dư nợ tín dụng là con số thời điểm, dư nợ tín dụng phản ánh số tiền mà khách hàng
đang nợ ngân hàng vào một thời điểm nhất định (thường là cuối ngày, cuối tháng,
cuối quý, cuối năm).
Nhóm chỉ tiêu dư nợ có các chỉ tiêu dẫn suất như sau:
+ Mức gia tăng dư nợ :
Mức gia tăng dư nợ = dư nợ kỳ này – dư nợ kỳ trước.
+ Tốc độ tăng trưởng dư nợ.
Dư nợ kỳ này – Dư nợ kỳ trước
Tốc độ tăng dư nợ =
_________________________________ ______
X 100%
Dư nợ kỳ trước
Chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng dư nợ phản ánh sự gia tăng dư nợ cho vay so với một
điểm mốc thời gian nhất định (cuối kỳ trước, cùng kỳ năm trước…).
Chỉ tiêu dư nợ, mức gia tăng dư nợ, tốc độ tăng trưởng dư nợ là những chỉ tiêu rất
cơ bản để đánh giá mở rộng tín dụng. Suy cho đến cùng mục tiêu của mở rộng tín
dụng là tăng thu nhập từ hoạt động cho vay. Thu nhập từ hoạt động cho vay chủ yếu
là thu lãi. Khối lượng lãi tiền vay được xác định bằng dư nợ nhân với lãi suất cho
vay. Nếu bỏ qua yếu tố lãi suất cho vay thì thu lãi tiền vay tỷ lệ thuận với quy mô
dư nợ.
Để chi tiết hơn người ta còn có thể tính toán dư nợ bình quân của một thời kỳ. Dư
nợ bình quân là trung bình cộng dư nợ của các thời điểm trong kỳ phân tích.
Chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng số lượng khách hàng:
Mở rộng tín dụng còn được thể hiện thông qua việc mở rộng đối tượng cho vay.
Ngân hàng có thể mở rộng số lượng khách hàng thông qua việc lựa chọn nhiều đối
tượng cho vay khác nhau, bất kỳ loại đối tượng nào cũng có thể cho vay trừ những

vay về mặt số lượng mà còn phản ánh mở rộng cho vay về mặt chất lượng. Mở rộng
cho vay tốt sẽ dẫn tới làm gia tăng tương ứng lợi nhuận của hoạt động cho vay.
+ Tốc độ tăng lợi nhuận
Tốc độ gia tăng LN kỳ này- LN kỳ trước
Lợi nhuận =
_________________________________
X 100%
Cho vay LN kỳ trước
Chỉ tiêu phản ánh nợ xấu
Nợ xấu là những khoản nợ đã xuất hiện khả năng xảy ra rủi ro cao. Chỉ tiêu nợ xấu
là một trong những chỉ tiêu đo lường mở rộng cho vay về mặt chất lượng.
Theo quy định hiện hành thì dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng được phân chia
thành 05 nhóm: từ nhóm 1 đến nhóm 5 theo mức độ rủi ro khác nhau. Nợ xấu là
tổng dư nợ của các khoản cho vay được phân loại từ nhóm 3 đến nhóm 5. Cơ sở
pháp lý để các NHTM tiến hành phân loại dư nợ là quyết định 493 của ngân hàng
17
Nhà nước. Theo quyết định 493 của ngân hàng Nhà nước căn cứ để phân loại dư nợ
thành 5 nhóm là khả năng xảy ra rủi ro của các khoản cho vay mà thể hiện ra ngoài
chính là thời gian đã các khoản vay đã quá hạn theo hợp đồng đã ký với các NHTM
Đối với các ngân hàng thương mại thì việc quản lý chất lượng tín dụng có ý nghĩa
vô cùng quan trọng đối với mở rộng cho vay. Nếu quản lý tốt chất lượng cho vay thì
đó là nhân tố thúc đẩy mở rộng cho vay, ngược lại nếu quản lý không tốt chất lượng
tín dụng thì sẽ tác động tiêu cực đến mở rộng cho vay.
Liên quan đến nợ xấu có các chỉ tiêu như sau:
+ Tổng dư nợ xấu = tổng dư nợ các khoản cho vay được xếp loại từ nhóm 3 đến
nhóm 5.
+ Mức giảm nợ xấu
Nếu đem so sánh tổng dư nợ xấu giữa các thời kỳ ta có chỉ tiêu mức giảm nợ xấu
Mức giảm nợ xấu = dư nợ xấu kỳ trước – dư nợ xấu kỳ này.
+ Tỷ lệ nợ xấu

Thực tế, từ lâu dù có văn bản hay không thành văn bản thì các DNNVV của VN đều
được các NHTM coi là “khách hàng truyền thống”. Nhưng đáng tiếc chỉ "truyền
thống" về phương diện nhóm khách hàng, loại khách hàng chứ ít DNNVV nào được
trở thành khách hàng truyền thống với tư cách một pháp nhân đích danh giữ mối
quan hệ lâu dài, chung thủy và có uy tín với NHTM.
Bản thân các DNNVV ngoài nỗi khổ vì “thấp bé nhẹ cân” còn bị chịu cảnh cạnh
tranh không đồng nhất vì yếu thế các quyền lợi tiếp cận tài nguyên quốc gia như
mặt bằng, lao động, công nghệ, đào tạo, thị trường so với các doanh nghiệp nhà
nước. Nếu không có các quy định chuẩn mực hóa thông qua hệ tiêu chí hay các điều
kiện chuẩn mực về điều kiện vay vốn ngân hàng cho sản xuất, kinh doanh thì các
DNNVV cũng sẽ khó tiếp cận vốn ngân hàng. Bên cạnh đó, các DNVVVN hầu như
không thể huy động vốn bằng con đường lên sàn để phát hành trái phiếu công ty
hay cổ phiếu tăng vốn. Chính vì vậy, phải xem xét vấn đề tiếp cận vốn của DNNVV
trên cơ sở mối quan hệ lợi ích giữa DN này với DN khác trong môi trường thị
trường cạnh tranh. Bởi ngoài nguồn vốn tự có, các DNNVV hầu như chỉ nhờ vào
vốn NHTM, hơn nữa do đặc thù của từng ngành hàng mà giữa các DN hoặc giữa
các DN với bên bán hàng và bên mua hàng sử dụng vốn “gối đầu” của nhau để duy
trì sản xuất và tiêu thụ hàng hóa
1.2.4.2 Sự cần thiết của việc mở rộng tín dụng đối với các DNNVV tại NHTM
19
Trước thực trạng cạnh tranh gay gắt trong nền kinh tế thị trường, các ngân hàng
thương mại và tất cả các doanh nghiệp đều tập trung chiếm lĩnh thị trường. Ở nước
ta chủ yếu là nền sản xuất nhỏ, các dịch vụ ngân hàng hiện đại còn hạn chế vì vậy
hoạt động tín dụng chưa có điều kiện phát triển. Qua đó việc mở rộng hoạt động tín
dụng mà tập trung vào việc mở rộng cho vay của các NHTM không chỉ đem lợi ích
cho chính NHTM mà còn thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Vì vậy, mở rộng tín dụng
đối với các NHTM hiện nay là nhu cầu nhất thiết. Lợi ích cụ thể của mở rộng cho
tín dụng đem lại cho các NHTM được cụ thể như sau
 Mở rộng tín dụng làm gia tăng lợi nhuận của các ngân hàng thương mại: Mục
tiêu hoạt động của các ngân hàng thương mại là lợi nhuận. Các ngân hàng

khách hàng giao dịch thuận tiện hơn từ đó mở rộng tín dụng.
Trong nền kinh tế hiện nay, các NHTM đặc biệt là các NHTMCP đang theo đuổi
chiến lược Ngân hàng bán lẻ nên mạng lưới hoạt động là nhân tố quan trọng để mở
rộng các hoạt động tín dụng. Thông thường các NHTM khi thành lập có trụ sở đóng
ở các đô thị lớn sau đó mở các chi nhánh về các địa phương nơi có kinh tế phát triển
để mở rộng tín dụng.
- Về nguồn vốn: Quy mô vốn của ngân hàng quyết định mở rộng cho tín dụng, chỉ
khi có nguồn vốn mới có thể mở rộng được tín dụng. Vốn tự có của ngân hàng
thương mại thể hiện sức mạnh về tài chính của ngân hàng đó, vốn tự có càng cao
chứng tỏ ngân hàng đó càng mạnh. Để quản lý quy mô hoạt động thì các ngân hàng
thương mại phải đảm bảo các tỷ lệ an toàn hoạt động theo thông tư 13/2010/TT-
NHNN. Mặt khác để quản trị rủi ro, NHNN có đưa ra các giới hạn như giới hạn cho
vay đối với một khách hàng ( không quá 15% vốn tự có), tỷ lệ dùng vốn ngắn hạn
để cho vay trung dài hạn, tỷ lệ dùng vốn tự có để mua sắm tài sản cố định. Những
nhân tố đó sẽ trực tiếp hay gián tiếp tác động đến mở rộng tín dụng của các ngân
hàng thương mại.
Bên cạnh việc tăng thêm vốn tự có, để mở rộng tín dụng các NHTM phải tích
cực mở rộng huy động vốn trong và ngoài nước, dưới nhiều hình thức để đáp ứng
nhu cầu vốn tín dụng của các DNNVV.
21
- Quy mô và chất lượng CBCNV của ngân hàng cũng có tác động đến mở rộng tín
dụng. Muốn mở rộng tín dụng phải có nguồn nhân lực tương ứng. Nguồn nhân lực
không những có đủ về số lượng mà còn phải đáp ứng về chất lượng. Với đội ngũ
nhân viên được đào tạo bài bản, nắm vững và vận dụng linh hoạt quy trình nghiệp
vụ thì hoạt động tín dụng sẽ có nhiều cơ hội để phát triển, các rủi ro sẽ được kiềm
chế. Nếu chất lượng cán bộ tín dụng không đảm bảo sẽ ảnh hưởng xấu tới chất
lượng tín dụng từ đó mà tác động đến mở rộng tín dụng. Không chỉ nguồn nhân lực
trực tiếp mà số lượng cũng như chất lượng hệ thống kiểm soát tín dụng cũng cần
phải được bố trí tương ứng để đảm bảo kiểm soát chất lượng tín dụng.
- công nghệ: Với hệ thống thiết bị và công nghệ hiện đại, các thao tác và quy trình

nó sẽ kìm hãm tăng trưởng, mở rộng tín dụng.
1.3.1.2 Từ phía DNNVV:
Để đảm bảo khoản tín dụng xử dụng có hiệu quả, mang lại lợi ích cho ngân hàng
góp phần vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội thì khách hàng có vai trò
hết sức quan trọng. Một khách hàng có tư cách đạo đức tốt, có tình hình tài chính
vững vàng, có thu nhập sẽ sẵn sàng hoàn trả đầy đủ những khoản vốn vay của Ngân
hàng khi đến hạn, qua đó đảm bảo an toàn và nâng cao chất lượng và tín dụng.
Những nhân tố này bao gồm:
 Năng lực tài chính và đạo đức của khách hàng:
- Vốn khả năng tài chính của doanh nghiệp: Có nhiều nhóm chỉ tiêu khác nhau biểu
hiện tình hình tài chính, khả năng độc lập tài chính của doanh nghiệp như nhóm chỉ
tiêu về khả năng thanh toán, nhóm chỉ tiêu hoạt động, nhóm chỉ tiêu cơ cấu vốn,
nhóm chỉ tiêu về lợi nhuận. Ngoài ra khi xem xét về tình hình tài chính ngân hàng
còn quan tâm đến luồng tiền vào, luồng tiền ra, dự trữ ngân quỹ …. Khả năng tài
chính tốt là điều kiện để doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư
mua sắm thiết bị tiên tiến, sản xuất sản phẩm có chất lượng cao, chiếm lĩnh thị
trường và đem laị lợi nhuận lớn, hoạt động tốt là điều kiện để doanh nghiệp trả nợ
cho ngân hàng .
23
- Tư cách, đạo đức của người vay: Tư cách đạo đức xét trên phương diện ý muốn
hoàn trả khoản nợ vay, trong nhiều trường hợp người vay có ý muốn chiếm đoạt
vốn, không hoàn trả nợ vay mặc dù có khả năng trả nợ, điều này đã gây ra những
rủi ro không nhỏ cho ngân hàng
 Trình độ khả năng của cán bộ đội ngũ cán bộ lãnh đạo của doanh nghiệp.
- Đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn, đạo đức tốt sẽ có khả năng đưa ra chiến
lược kinh doanh, cạnh tranh phù hợp giúp doanh nghiệp đứng vững và phát triển.
Doanh nghiệp làm ăn tốt là điều kiện để họ bù đắp chi phí kinh doanh và và trả nợ
ngân hàng cả gốc và lãi đúng hạn, qua đó giảm rủi ro và nâng cao chất lượng tín
dụng.
- Trình độ năng lực cán bộ của doanh nghiệp là điều kiện quan trọng và được ngân

từ đó mà tạo điều kiện mở rộng cho vay.
- Không chỉ có chính trị trong nước mà tình hình chính trị quốc tế cũng tác động
đến mở rộng cho tín dụng. Toàn cầu hoá là xu thế tất yếu, các nền kinh tế của các
quốc gia hiện nay đều phát triển theo xu hướng phát triển nền kinh tế mở để tranh
thủ cơ hội phát triển kinh tế. Nền kinh tế mở chịu ảnh hưởng rất lớn của nền kinh tế
thế giới. Các biến động thị trường thế giới ngay lập tức tác động đến nền kinh tế
trong nước, và thông qua đó tác động đến giá cả và tác động đến sản xuất, từ sản
xuất sẽ tác động đến hoạt động tín dụn của ngân hàng. Nền kinh tế thế giới phát
triển ổn định là nhân tố thúc đẩy mở rộng tín dụng.
 Môi trường kinh tế vĩ mô:
- Khi nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tín dụng ngân hàng phát
triển. Nền kinh tế ổn định, lạm phát thấp không có khủng hoảng, hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp tiến hành tốt có hiệu quả mang lại lợi nhuận cao,
doanh nghiệp hoàn trả được vốn vay ngân hàng cả gốc và lãi, nên hoạt động tín
dụng của ngân hàng phát triển. Ngược lại trong thời kỳ suy thoái kinh tế, sản xuất
kinh doanh bị thu hẹp, đầu tư, tiêu dùng giảm sút, lạm phát cao, nhu cầu tín dụng
giảm, vốn tín dụng đã thực hiện cũng khó có thể sử dụng có hiệu quả hoặc trả nợ
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status