MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
NHNN : Ngân hàng Nhà nước
NHTW : Ngân hàng Trung ương
NN : Nhà nước
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHTMNN : Ngân hàng thương mại nhà nước
TCTD : Tổ chức tín dụng
TP : Thành phố
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, cùng với quá trình mở cửa của nền kinh tế nước ta, hệ thống tài
chính ngân hàng đã và đang hội nhập ngày càng sâu rộng vào tiến trình phát triển
của khu vực và thế giới. Hoạt động của các NHTM Việt nam hiện nay đang được
mở rộng theo hướng hiện đại hóa và đa dạng hóa. Nhưng đi kèm với việc mở rộng
và sự gia tăng cả về mức độ, số lượng và loại hình ruỉ ro mà các NHTM phải đối
mặt. Điều này đang đặt ra một nhiệm vụ cho hoạt động thanh tra của NHTW Việt
Nam đối với các NHTM là phải hoàn thiện thanh tra, kiểm tra và giám sát hoạt
động đối với hoạt động của NHTM. NHNN phải đánh giá được thực trạng hoạt
động của NHTM, đồng thời đưa ra những cảnh báo sớm về những rủi ro tiềm ẩn có
thể xảy ra cho từng ngân hàng hoặc cho tòan hệ thống ngân hàng. Như vậy, việc
phát triển và đổi mới hoạt động thanh tra giám sát đối với NHTM là nhu cầu tất yếu
của NHNN. Tuy nhiên, thực tế hoạt động thanh tra của NHNN hiện nay chỉ là thanh
tra sự tuân thủ về việc chấp hành các quy định pháp luật của các NHTM. Thực tế
hiện nay, các NHTM thường tìm cách đối phó với những yêu cầu trong hoạt động
do NHNN quy định.
Thủ đô Hà nội là một thành phố lớn, là trung tâm văn hóa chính trị và giao
lưu quốc tế của cả nước với 396 TCTD, chi nhánh TCTD với 2060 điểm giao dịch;
trong đó có 84 chi nhánh NHTMNN; lực lượng thanh tra của NHNN chi nhánh TP
Hà Nội phải hết sức vất vả để có thể hoàn thành nhiệm vụ thanh tra giám sát của
mô hình hóa kết hợp với điều tra khảo sát thực tiễn. Ngoài ra, luận văn sử dụng
bảng biểu, sơ đồ để minh họa các số liệu, tư liệu thực tế, các lý luận nghiệp vụ ngân
hàng và lý luận nghiệp vụ thanh tra gắn với thực tiễn Việt Nam để làm sâu sắc thêm
luận điểm của đề tài.
5. Bố cục của luận văn
2
Kết cấu của luận văn: Ngoài phần mục lục, danh mục viết tắt, danh mục tài
liệu tham khảo, bảng biểu, sơ đồ phần mở đầu, kết luận; nội dung chính của luận
văn được trình bày trong trang; Gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hoạt động thanh tra của ngân hàng trung
ương đối với các ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng hoạt động thanh tra đối với các chi nhánh Ngân hàng
thương mại Nhà nước tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - Chi nhánh TP Hà Nội
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động thanh tra đối với các chi nhánh
Ngân hàng thương mại nhà nước tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - Chi nhánh
thành phố Hà nội.
3
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG
THANH TRA CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG ĐỐI VỚI
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về hoạt động thanh tra của NHTW
1.1.1 Khái niệm về ngân hàng Trung Ương
1.1.1.1 Khái niệm
Căn cứ vào quy định của các quốc gia trên thế giới thì có nhiều khái niệm về
ngân hàng Trung ương. Theo từ điển Winipidia, NHTW là cơ quan đặc trách quản
lý hệ thống tiền tệ của quốc gia, nhóm quốc gia, vũng lãnh thổ và chịu trách nhiệm
thi hành chính sách tiền tệ, là người cho vay cuối cùng, đảm bảo và chịu trách
nhiệm, đảm bảo an toàn, tránh nguy cơ đổ vỡ của cả hệ thống ngân hàng
NHTW ra đời từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ 2, có nguồn gốc từ ngân
hàng phát hành. Do ảnh hưởng của cuộc Đại suy thoái năm 1929-1933, cũng như sự
trong việc phát hành tiền. Đồng tiền do NHTW phát hành được quy định trong luật
hoặc Chính phủ phê duyệt về mệnh giá, loại tiền… Đây là đồng tiền duy nhất được
lưu thông hợp pháp đảm bảo cho sự thống nhất và an toàn của hệ thống tiền tệ. Bất
cứ đồng tiền nào không phải từ NHTW phát hành đều bị xử lý hình sự. Trách nhiệm
của NHTW phải xác định thời điểm phát hành, số lượng cũng như phương thức
thực hiện.
+ Ngân hàng của các ngân hàng: NHTW không trực tiếp kinh doanh tiền tệ
mà chỉ thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng với các NHTM, cụ thể:
Yêu cầu các NHTM mở tài khoản tiền gửi tại NHTW. NHTM chuyển tiền
gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi thanh toán vào tài khoản này để NHTW quản lý.
Cho vay tái chiết khấu các giấy tờ có giá ngắn hạn do các NHTM nắm giữ.
Ngoài ra, NHTW còn cho vay ứng trước có đảm bảo bằng các chứng khoán đủ tiêu
chuẩn, các khoản tiền gửi bằng ngoại tệ tại NHNN;
5
Là trung tâm thanh toán bù trừ cho hệ thống NHTM: Các NHTM có thể
thanh toán không dùng tiền mặt qua NHTW thay vì thanh toán trực tiếp với nhau
thông qua tài khoản tiền gửi tại NHTW.
+ Cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ: với chức năng là ngân hàng của
Chính phủ, NHTW có nghĩa vụ cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho Chính phủ,
đồng thời làm đại lý, đại diện và tư vấn chính sách cho Chính phủ.
- Chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại
hối.
Đây là chức năng quyết định bản chất ngân hàng trung ương của một ngân
hàng phát hành. Việc thực hiện chức năng này không thể tách rời khỏi các nghiệp
vụ ngân hàng của NHNN. Nói cách khác, NHNN quản lý vĩ mô các hoạt động tiền
tệ và tín dụng thông qua khả năng kinh doanh của mình.
+ Xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia: Chính sách tiền tệ là
chính sách kinh tế vĩ mô theo đó NHTW sử dụng các công cụ của mình để điều tiết
và kiểm soát khối lượng tiền trong lưu thông nhằm ổn định giá trị đồng tiền, thúc
đẩy sự tăng trưởng kinh tế và đảm bảo công ăn việc làm.
chức tín dụng và hệ thống tài chính
Hiện nay số lượng các TCTD là rất lớn, chính vì vâỵ sự canh tranh rất gay gắt để
tồn tại và phát triển. Trong quá trình hoạt động, nhiều TCTD sẽ lới lỏng nhiều điều kiện
để thu hút khách hàng và đạt mục tiêu lợi nhuận; theo đó là vi phạm các nguyên tắc tín
dụng dẫn đến nợ xấu tăng cao ngân hàng mất khả năng chi trả. Thanh tra ngân hàng
định kỳ và đột xuất tiến hành kiểm tra phát hiện kịp thời và kiến nghị xử lý khiến cho các
TCTD hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, góp phần bảo đảm sự phát triển an toàn,
lành mạnh của hệ thống các tổ chức tín dụng và hệ thống tài chính.
- Hai là, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và khách hàng
của tổ chức tín dụng
7
Người gửi tiền vào TCTD nhằm mục tiêu giữ được tiền an toàn và tìm kiếm
lợi nhuận mong muốn, ngân hàng được phép sử dụng số tiền này để đầu tư hoặc cho
vay. Tuy nhiên, một số ngân hàng quản lý yếu kém, đầu tư vào lĩnh vực mạo hiểm
gặp phải rủi ro hậu quả là ngân hàng bị đổ vỡ hoặc mất khả năng thanh toán.
Trường hợp này, người gửi tiền phải chịu thiệt thòi mất vốn. Vì vậy, để các ngân
hàng hoạt động an toàn, hiệu quả, đúng pháp luật, NHTW phải thường xuyên thanh
tra các TCTD và hoạt động ngân hàng của tổ chức khác về mọi hoạt động ngân
hàng cũng như quản trị điều hành để quản lý rủi ro nhằm mục tiêu bảo vệ quyền lợi
cho người gửi tiền và đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng.
- Ba là, duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đối với hệ thống tín dụng
Lòng tin của dân chúng đối với hệ thống tín dụng là vô cùng quan trọng. Khi
công chúng không có lòng tin, họ sẽ rút tiền gửi hàng loạt ở tổ chức tín dụng, dẫn đến
ngân hàng có khả năng đổ vỡ trong thời gian ngắn. Đây là phản ứng dây truyền, nó lây
lan rất nhanh. Nếu không có biện pháp hiệu quả trấn an dân chúng thì khả năng xảy ra sự
sụp đổ của hệ thống tài chính là khó tránh khỏi. Thanh tra trong qua trình hoạt động phát
hiện những sai phạm, góp phần giúp ngân hàng hoạt động hiệu quả, đúng pháp luật sẽ
duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đối với hệ thống tín dụng.
- Bốn là, bảo đảm việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ và ngân hàng
Hệ thống quy phạm pháp luật trên thế giới để điều chỉnh hoạt động ngân
quy định các công đoạn của quá trình cấp phép như: đánh giá vốn chủ sở hữu, năng
lực của Hội đồng quản trị cũng như Ban điều hành…Thanh tra giám sát cũng có
quyền xem xét hoặc từ chối việc chuyển quyền sở hữu, quyền kiểm soát ngân hàng
hiện tại cho bên khác. Quyền rà soát các đầu tư lớn, cơ cấu ngân hàng…để đảm bảo
ngân hàng hoạt động an toàn, hiệu quả.
- Các nguyên tắc thuộc chủ đề về quy định và yêu cầu thận trọng: (gồm các
nguyên tắc từ số 6 đến số 15):
9
- Các thanh tra giám sát phải đưa ra yêu cầu về vốn an toàn và phù hợp cho
các ngân hàng; Đánh giá các chính sách, thực tiễn hoạt động, đánh giá chất lượng
tài sản của ngân hàng. Phải đảm bảo ràng các ngân hàng có hệ thống thông tin
nghiêm ngặt, có quy trình quản trị rủi ro, có hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động
hiệu quả…
- Các nguyên tắc về giám sát ngiệp vụ ngân hàng (gồm các nguyên tắc từ số
16 đến số 20):
Bao gồm các hình thức giám sát tại chỗ và không tại chỗ; phải thu thập thông
tin, rà soát và phân tích các báo cáo, liên hệ với ban điều hành để hiểu rõ hoạt động
ngân hàng; từ đó thẩm định và đánh giá, phân tích thông tin; tăng cường năng lực
của các chuyên gia giám sát…
- Các nguyên tắc về yêu cầu thông tin (chuẩn mực21):
Phải biết các ngân hàng có hệ thống lưu trữ tài liệu phù hợp với chuẩn mực
kế toán. Phải thường xuyên báo cáo để chuyên gia giám sát thấy được tình hình tài
chính, lợi nhuận, khả năng sinh lời của hoạt động ngân hàng.
- Các nguyên tắc về quyền hợp pháp của chuyên gia giám sát (chuẩn mực
22)
Nguyên tắc này quy định rõ quyền hạn của thanh tra giám sát, quyền được
đưa ra các chế tài khi ngân hàng không tuân thủ các quy định. Trường hợp khẩn
cấp, thanh tra giám sát có quyền thu hồi giấy phép hoạt động của ngân hàng.
- Các nguyên tắc thuộc hoạt động ngân hàng xuyên biên giới( chuẩn mực 23
đến 25)
NHTM bao gồm:
- Thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về tiền tệ và hoạt động
ngân hàng, việc thực hiện các quy định trong giấy phép hoạt động ngân hàng.
11
- Thanh tra để phát hiện, ngăn chặn và xử phạt vi phạm hành chính theo chức
năng, thẩm quyền; báo cáo kiến nghị với các cơ quan cấp trên có thẩm quyền để xử
lý vi phạm.
- Thông qua hoạt động giám sát, thanh tra NHTW phân tích, cảnh báo, ngăn
chặn kịp thời các hành vi, các sai phạm trong hoạt động ngân hàng của các TCTD;
từ đó ra quyết định thanh tra tại chỗ đạt chất lượng, hiệu quả. Hoạt động này rất
phát triển đối với các nước tiên tiến do các quốc gia này có hệ thống công nghệ tiên
tiến, hiện đại, đồng bộ.
Qua hoạt động thanh tra của NHTW về tiền tệ và hoạt động ngân hàng: đề
xuất và kiến nghị đối với Ban lãnh đạo NHTW và các cơ quan hữu quan có thẩm
quyềnn thực hiện các biện pháp bảo đảm thi hành pháp luật và tiền tệ trong hoạt
động ngân hàng.
Hoạt động thanh tra đã tiến hành xác minh, hoàn thành biên bản, kết luận
thanh tra và kiến nghị với cấp trên có thẩm quyền các vướng mắc trong quá trình
tiến hành thanh tra của NHTW. Đôn đốc đối tượng chỉnh sửa, khắc phục hậu quả
sau thanh tra.
Ngoài hoạt động thanh tra tại chỗ và giám sát từ xa, phải thực hiện giải quyết
khiếu nại tố cáo theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo liên quan đến tổ chức và
hoạt động ngân hàng. Tham mưu giúp Ban lãnh đạo NHTW chỉ đạo công tác phòng
ngừa và đấu tranh chống tham nhũng và tội phạm trong ngành ngân hàng.
Hoạt động thanh tra có đặc thù riêng, khi tiến hành thanh tra tại chỗ hoặc
giám sát từ xa đối với NHTM; do tính nhậy cảm của hoạt động ngân hàng có những
nội dung, vấn đề ta rất thận trọng, ví dụ như ngân hàng mất khả năng thanh
toán Tuy nhiên, với các nội dung trong hoạt động thanh tra theo quy định của pháp
luật, căn cứ phương pháp hoạt động thanh tra giám sát mà quy trình, thủ tục cũng
như các bước tiến hành, được thực hiện khác nhau. Để làm rõ nội dung hoạt động
13
Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường, có nhiều loại hình TCTD cùng tồn tại
và phát triển. Sự cạnh tranh của các loại hình này diễn ra gay gắt để lôi kéo khách
hàng, dẫn đến có nhiều nguy cơ mất an toàn cho hệ thống tài chính quốc gia. Thanh
tra sẽ giúp cho các đối tượng này hoạt động kinh doanh đúng pháp luật, từ đó đảm
bảo an toàn cho hệ thống tài chính của đất nước.
Sự cần thiết hoàn thiện hoạt động thanh tra của NHTW đối với các NHTM
do hoạt động ngân hàng là hoạt động có tính chất đặc biệt, việc hoàn thiện thanh tra
tạo lập khung pháp lý và nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra:
Thứ nhất, ngân hàng là nơi tích trữ tiết kiệm hàng đầu của công chúng, đặc
biệt là tiết kiệm của cá nhân và hộ gia đình. Việc thất thoát vốn này trong trường
hợp ngân hang phá sản sẽ trở thành thảm họa cho nhiều cá nhân và gia đình.
Thứ hai, các ngân hàng được quản lý chặt chẽ bởi khả năng “tạo tiền” trừ
những khoản tiền thông qua hoạt động cho vay và đầu tư (mở rộng tín dụng)
Thứ ba, các ngân hàng chịu sự quản lý chặt chẽ bởi chúng cung cấp cho cá
nhân và doanh nghiệp những khoản cho vay, tài trợ tiêu dùng hoặc tài trợ đầu tư.
1.2.2 Các phương thức hoạt động của thanh tra NHTW đối với các ngân
hàng thương mại.
1.2.2.1 Giám sát từ xa
Giám sát từ xa: dựa trên cơ sở các bảng cân đối kế toán, các chỉ tiêu do
NHTM định kỳ gửi đến NHTW theo quy định, Thanh tra ngân hàng sẽ phân tích,
đánh giá tình hình của NHTM; có biện pháp kiến nghị xử lý kịp thời khi phát hiện
những chỉ tiêu bất thường.
Quy trình giám sát từ xa:
Bước 1: Tiếp nhận và kiểm tra tính chính xác của thông tin
Bước 2: Tiến hành xử lý thông tin
Bước 3: Thực hiện phân tích dữ liệu
14
Bước 4: Lập báo cáo lãnh đạo thanh tra, ra văn bản chấn chỉnh các NHTM có
vi phạm.
- Tăng cường sự tuân thủ pháp luật, chấp hành các chính sách chủ trương của
Nhà nước. Từ đó bảo đảm các đối tượng tra thanh tra hoạt động bình thường theo
chính sách pháp luật.
- Phát hiện các dấu hiêụ vi phạm pháp luật, các hành vi sai phạm gây tổn
thất. Xác định mức độ sai phạm, nguyên nhân trách nhiệm từ đó đưa ra biện pháp
xử lý.
- Bổ sung những bất cập của chính sách, pháp luật về quản lý nhà nước đối
với hoạt động của đối tượng thanh tra.
Một cuộc thanh tra toàn diện gồm những nội dung sau:
- Thanh tra quản trị, điều hành
- Thanh tra nguồn vốn
- Thanh tra chất lượng tín dụng
- Thanh tra nghiệp vụ bảo lãnh
- Thanh tra hoạt động kinh doanh ngoại tệ
- Thanh tra góp vốn liên doanh
- Thanh tra nghiệp vụ ngoại hối
Hiện nay thanh tra tại chỗ thường tiến hành đánh giá sự tuân thủ pháp luật
(Thanh tra tuân thủ) chấp hành chính sách chủ trương của Nhà nước. Từ đó bảo
đảm các đối tượng thanh tra hoạt động bình thường theo chính sách pháp luật.
- Thanh tra tuân thủ phát hiện các dấu hiệu vi phạm pháp luật, các hành vi sai
phạm gây tổn thất. Thanh tra tuân thủ trả lời câu hỏi đúng hay sai? Có hay không?
Sau đó xác định mức độ vi phạm nguyên nhân trách nhiệm, từ đó đưa ra biện pháp
16
xử lý. Thanh tra tuân thủ khi tiến hành thanh tra sẽ bổ sung những bất cập chính
sách pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt động của đối tượng thanh tra.
- Thanh tra tuân thủ phụ thuộc vào ý chí chủ quan của tổ chức, cá nhân ban
hành pháp luật, chính sách. Thanh tra tuân thủ đánh giá trên phạm vi hạn chế.
Không đánh giá mối quan hệ tương quan với thị trường trong nước và trên toàn cầu.
Chỉ giới hạn trong phạm vi nội dung, đối tượng hành vi trên cơ sở các tài liệu, hồ sơ
cụ thể không đánh giá chung tổng thể hệ thống.
tại chỗ sẽ mất ít thời gian hơn tại TCTD. Khi thực hiện thanh tra trên cơ sở rủi ro,
thanh tra NHNN có khả năng đánh giá tốt hơn năng lực pháp lý của TCTD, tính
chất phức tạp của hoạt động kinh doanh và những ruỉ ro mà TCTD gặp phải; tập
trung tối đa nguồn lực để giải quyết các lĩnh vực có rủi ro cao nhất, làm lành mạnh
hóa hoạt động của TCTD, góp phần ổn định hệ thống các TCTD.
Thanh tra trên cơ sở rủi ro gồm 6 bước:
Bước 1: Hiểu biết về TCTD và đánh giá rủi ro của TCTD
Bước 2: Lập kế hoạch thanh tra
Bước 3: Thành lập đoàn thanh tra và công tác chuẩn bị
Bước 4: Tiến hành hoạt động thanh tra
Bước 5: Kết luận và các biện pháp sửa chữa
Bước 6: Giám sát việc TCTD chấn chỉnh sau thanh tra
Bước 1, 2 và 6 thường được hoàn thành tại NHTW bởi bộ phận giám sát từ
xa, bộ phận phân tích, Ban lãnh đạo cơ quan thanh tra giám sát và thanh tra viên
được giao nhiệm vụ giám sát và báo cáo về TCTD giữa các kỳ thanh tra
Bước 3,4 và 5 được hoàn thiện từ kết quả thanh tra của đoàn thanh tra tại
chỗ. Việc ra kết luận và các biện pháp sửa chữa do Chánh thanh tra, giám sát ngân
hàng đưa ra.
18
1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến hoàn thiện hoạt động thanh tra của NHTW
đối với các NHTM
1.3.1 Nhân tố khách quan
a. Hệ thống pháp luật đồng bộ
Mọi hoạt động trong xã hội đều có pháp luật điều chỉnh. Hoạt động thanh tra
cũng không nằm ngoài sự điều chỉnh đó. Nếu hệ thống luật thanh tra nói chung và
luật thanh tra ngân hàng nói riêng đồng bộ, đầy đủ, rõ ràng phù hợp với thực tế sẽ là
công cụ sắc bén cho công tác thanh tra. Ngược lại sẽ làm lãng phí nguồn lực thanh
tra, giảm hiệu quả của công tác thanh tra.
b. Chính sách kinh tế vĩ mô đúng đắn:
Đây là nền tảng để phát triển một hệ thống tài chính ổn định. Nếu các chính
hàng, từ đó khuyến khích hoạt động kiểm soát nội bộ của NHTM, mặt khác cũng
đánh giá đựợc mức độ rủi ro và năng lực quản trị rủi ro của NHTM
f. Kiểm toán độc lập
Khi tiến hành thanh tra tại chỗ, đoàn thanh tra thường sử dụng kết quả của
kiểm toán như kết quả báo cáo tài chính, công tác hạch toán, kế toán để bổ sung
căn cứ cho việc định hướng hoạt động thanh tra NHTM.
1.3.2 Nhân tố chủ quan
Nhân tố chủ quan ảnh hưởng trực tiếp đến hoàn thiện hoạt động thanh tra của
NHNN là yếu tố con người và cơ sở vật chất để phục vụ cho hoạt động thanh tra.
Trong đó, nhân tố con người là quan trọng nhất, giữ vai trò quyết định trong việc
hoàn thiện hoạt động thanh tra của NHNN.
a. Nhân tố con người
Một hệ thống thanh tra giám sát hoạt động hoàn thiện đòi hỏi phải có cán bộ
vững vàng và độc lập, được bảo vệ với các quy định cuả pháp luật, với các mục
tiêu, trách nhiệm rự rõ ràng và sự hỗ trợ của các cấp lãnh đạo. Trong hoạt động
20
thanh tra, giám sát các cán bộ thường phải đưa ra các đánh giá, phán quyết của
mình, tiếp cận và xử lý công việc một cách chủ động. Đi đôi với tính độc lập là tính
chủ động và chịu trách nhiệm. Đầu tiên, cán bộ thanh tra phải có hiểu biết như cán
bộ ngân hàng trong các lĩnh vực: tài chính, ngân hàng, quản lý rủi ro và khuynh
hướng thị trường. Thị trường luôn biến động, các sản phẩm tài chính liên tục ra đời,
trong khi đó các quy định thường không theo kịp. Cán bộ thanh tra giám sát phải
chủ động thảo luận với các ngân hàng để xây dựng các quy định về an toàn một
cách phù hợp và hiệu quả.
Bên cạnh đó, cán bộ thanh tra giám sát cần có trình độ chuyên môn và các kỹ
năng cần thiết đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của công việc. Hiện nay, các
ngân hàng thương mại đang nỗ lực đầu tư và triển khai hệ thống phần mềm tích hợp
cho các hoạt động của mình. Điều này làm thay đổi tư duy rất lớn trong kế toán,
quản lý tài chính, quản trị ngân hàng và tạo điều kiện để rất nhiều sản phẩm dịch vụ
ra đời. Trong khi đó cơ quan thanh tra giám sát chưa có những thay đổi tương ứng,
+ Ở Mỹ: hoạt động thanh tra tại chỗ được coi trọng và được tiến hành bởi 3
cơ quan gồm: Cơ quan kiểm tra tiền thường xuyên kiểm tra ngân hàng lớn khoảng 2
năm 1 lần. Cơ quan bảo hiểm tiền gửi liên bang định kỳ 36 tháng 1 lần, các cuộc
kiểm tra của hệ thống dự trữ liên bang thường 18 tháng 1 lần. Các cuộc kiểm tra
thường không báo trước. Giám sát từ xa cũng được đánh giá trên 5 lĩnh vực là an
toàn vốn, chất lượng tài sản có, khả năng quản lý, khả năng thanh toán, khả năng
sinh lời.
+ Ở Anh: việc đánh giá ngân hàng không tiến hành thanh tra định kỳ mà qua
việc nghiên cứu, phân tích các báo cáo, qua thảo luận các cuộc phỏng vấn với các
nhà lãnh đạo ngân hàng, qua thông tin truyền thông.
+ Ở Trung Quốc: Việc tiến hành giám sát các ngân hàng qua Vụ thanh tra và
Kiểm tóan của Ngân hàng Nhân dân Trung hoa. Thông thường cũng tiến hành thanh
tra tại chỗ 3năm/lần; các định chế tài chính 2 năm/1 lần; hợp tác xã tín dụng do
Ngân hàng Nông nghiệp giám sát.
22
+ Ở Thái lan: Bộ trưởng Bộ tài chính bổ nhiệm các thanh tra viên. Việc giám
sát các tổ chức tài chính do NHTW thực hiện thông qua Vụ giám sát các ngân hàng
và Vụ giám sát kiểm tra các tổ chức tài chính. Hoạt động thanh tra cũng thực hiện 2
phương thức giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ.
Như vậy các nước trên thế giới đều áp dụng hai hình thức giám sát từ xa và
thanh tra tại chỗ. Tuy nhiên, mỗi nước lại coi trọng một phương pháp chính tùy
thuộc vào tình hình cụ thể của các nước.
1.4.2 Bài học kinh nghiệm cho NHNN Việt Nam
Mô hình tổ chức cũng như hoạt động thanh tra ở các nước trên thế giới hiện
nay khá phong phú. Tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế, trình độ quản lý và hệ
thống phát triển tài chính tiền tệ của các nước. Mỗi mô hình đều có ưu điểm và
nhược điểm riêng. Vì vậy Việt Nam cần phải có biện pháp cụ thể để nâng cao vai
trò, vị thế của thanh tra ngân hàng, cũng như hoàn thiện phương thức hoạt động của
thanh tra, nhằm đảm bảo cho hoạt động của các NHTM hiệu quả, an toàn. Thời
gian tới, NHNN cần quan tâm đến những vấn đề sau: