tóm tắt luận án cách mạng năm 1932 ở xiêm (thái lan) – tính chất và ý nghĩa lịch sử - Pdf 23

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa với sự thống
trị của tư bản độc quyền. Cùng với sự phát triển đó, chủ nghĩa tư bản ngày càng “bủa lưới” bao trùm cả thế
giới, các nước Đông Nam Á cũng ngày càng bị cuốn vào guồng quay của hệ thống kinh tế - chính trị thế
giới, trở thành những đối tượng bị chinh phục của chủ nghĩa tư bản thế giới. Hệ quả tất yếu là hầu hết các
nước trong khu vực Đông Nam Á đều lần lượt rơi vào vòng kiểm soát hoặc trở thành thuộc địa của chủ nghĩa
thực dân tư bản phương Tây ở những mức độ khác nhau. Trong bối cảnh đó, chỉ có hai quốc gia ở châu Á đã
thoát khỏi một cách ngoạn mục làn sóng xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây. Nếu ở Đông Bắc Á,
Nhật Bản là nước duy nhất giữ được độc lập thì ở Đông Nam Á, Xiêm cũng là quốc gia duy nhất không rơi
vào ách thuộc địa như các nước khác trong vùng và cơ bản vẫn duy trì được sự độc lập tương đối của mình.
Dưới các triều vua Rama IV (1851 - 1868), Rama V (1868 - 1910), ở Xiêm diễn ra khá thành công công
cuộc duy tân, phát triển đất nước theo hướng tư bản chủ nghĩa, đặt nền móng cho quá trình hiện đại hóa đất
nước của Xiêm. Với các cuộc cải cách này, Xiêm đã bước một bước đi đầu tiên vào quỹ đạo tư bản chủ
nghĩa, tuy nhiên, để hoàn tất quá trình định dạng chủ nghĩa tư bản thì Xiêm còn phải trải qua một quá trình
lâu dài và còn qua nhiều lần đổi mới, cải cách nữa, đặc biệt là một cuộc cách mạng vào năm 1932.
Nghiên cứu về cuộc cách mạng năm 1932 ở Xiêm, đặc biệt là tính chất và ý nghĩa lịch sử của nó không
chỉ làm rõ được những tiền đề, diễn biến, kết quả mà quan trọng hơn là đi sâu phân tích, đánh giá, nhận định
1
về tính chất và ý nghĩa của cuộc cách mạng, giải đáp những câu hỏi, những vấn đề xung quanh “sự kiện
Xiêm” trong thập niên 30 thế kỉ XX. Đồng thời, trên cơ sở những nhận xét, đối chiếu, so sánh sự kiện này
với phong trào cách mạng ở một vài nước trên thế giới và khu vực Đông Nam Á, ta có thể góp phần làm rõ
hơn con đường phát triển của nước Xiêm – Thái Lan thời cận đại. Ngoài ra, việc tìm hiểu về Priđi
Phanômyông – linh hồn của cuộc cách mạng 1932, đặc biệt là những tư tưởng cải tạo xã hội của ông sẽ giúp
ta rút ra được những bài học kinh nghiệm bổ ích và thiết thực đối với công cuộc xây dựng đất nước Việt
Nam theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày nay.
Trong điều kiện hiện nay, khi các quốc gia châu Á đang đứng trước xu thế toàn cầu hóa, những bài học
về quá trình hội nhập trong thời kì cận đại tuy thuộc về quá khứ, nhưng nếu được chứng nghiệm là xác đáng,
thì vẫn có giá trị nhất định đối với quá trình đổi mới để hội nhập. Việt Nam hiện nay đang trong quá trình đổi
mới, “mở cửa” trong quan hệ hợp tác với cộng đồng quốc tế, trong đó có Thái Lan và các nước trong khu
vực Đông Nam Á. Với phương châm “Việt Nam muốn là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu mà Luận án hướng tới là tính chất và ý nghĩa lịch sử của cuộc cách mạng năm
1932 ở Xiêm.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của Luận án về không gian là vương quốc Xiêm (Thái Lan). Tuy nhiên, để có thể
hoàn thành tốt được những nhiệm vụ đặt ra trong luận án, chúng tôi thấy cần đặt nước Xiêm và cuộc cách
mạng 1932 trong bối cảnh quốc tế và khu vực. Vì vậy, trong quá trình thực hiện, chúng tôi có mở rộng không
gian nghiên cứu ra khu vực châu Á và một vài nước trên thế giới.
Phạm vi thời gian mà Luận án bao quát chủ yếu là từ năm 1932, tức là năm bùng nổ cuộc cách mạng.
Tuy nhiên, để có thể tìm hiểu được những tiền đề, nguyên nhân sâu xa cũng như những nhiệm vụ của cuộc
cách mạng, chúng tôi phải mở rộng phạm vi thời gian nghiên cứu từ giữa thế kỷ XIX, khi Xiêm bắt đầu
những bước đầu tiên trong quá trình hội nhập với phương Tây.
Giới hạn cuối cùng về thời gian của Luận án là vào năm 1938, khi giới quân sự giải tán Nghị viện và
thành lập chính phủ mới, đánh dấu sự thắng thế hoàn toàn của giới quân sự trên chính trường Xiêm, mở đầu
một giai đoạn mới trong lịch sử Xiêm – Thái Lan.
4
Trong thời kì Luận án nghiên cứu, tên gọi của vương quốc Thái Lan được dùng là “Vương quốc Xiêm”
(gọi tắt là Xiêm) vì đến năm 1939 Xiêm mới đổi tên thành Thái Lan.
5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tài liệu
Để hoàn thành Luận án, chúng tôi dựa trên các nguồn tài liệu chủ yếu sau:
Tài liệu gốc:
Bao gồm các sắc lệnh, tuyên bố, thư từ, bài phát biểu của các vị vua Rama; những thông cáo, tuyên bố
của Hoàng gia Xiêm được trình bày trong các công trình nghiên cứu cụ thể như: The Political Economic of
Siam (1851 - 1910), tập 1, của tác giả Chatthip Nartsupha and Suthyprasartser, Hội Khoa học xã hội Thái
Lan xuất bản năm 1981; Siam in transition: A brief survey of cultural trends in the five years since the
Revolution of 1932, của tác giả Kenneth Perry Landon, Đại học Chicago xuất bản năm 1939; Chulalongkorn
the great của tác giả Prachomchochai xuất bản năm 1965 tại Tokyo; The End of the Absolute Monarchy in
Siam của tác giả Benjamin A. Batson, Đại học Oxford xuất bản năm 1986.

sử. Điều đặc biệt lưu ý là trong khi nghiên cứu chúng tôi quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng ta, của
chủ nghĩa Mác – Lênin về công tác nghiên cứu lịch sử, trên cơ sở đó rút ra những bài học lịch sử cần thiết,
bổ ích phục vụ cho công cuộc đổi mới mở cửa của nước ta hiện nay.
Về phương pháp cụ thể, trong Luận án, chúng tôi sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp lôgíc là
phương pháp nghiên cứu chủ yếu, qua đó, trình bày quá trình hình thành và phát triển của các vấn đề bằng
những sự kiện điển hình, phân chia giai đoạn phát triển bằng các mốc lịch sử theo thời gian, qua đó rút ra kết
luận khái quát.
Với phương pháp lịch sử, chúng tôi cố gắng dựng lại toàn bộ cuộc cách mạng 1932 ở Xiêm qua những
sự kiện, nhân vật, các giai đoạn, diễn biến và kết quả chính của nó.
Phương pháp lôgíc được sử dụng trong luận án nhằm rút ra những đặc điểm, những nhận định, đánh giá
về tính chất và ý nghĩa của cách mạng 1932, đồng thời đặt nó trong sự đối sánh với các cuộc cách mạng trên
thế giới và trong khu vực, từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm bổ ích đối với Việt Nam trong công cuộc
xây dựng đất nước ngày nay.
Đây là những phương pháp cơ bản, chủ đạo, xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu luận án. Chúng tôi rất
quan tâm đến việc trình bày các quan điểm trên cơ sở tôn trọng các sự kiện và tính chân thực lịch sử đúng như nó
đã diễn ra và đã từng tồn tại. Ngoài ra, từ việc nghiên cứu một sự kiện lịch sử trong tổng thể bối cảnh chung của
7
khu vực và thế giới đồng đại nên phương pháp so sánh được chúng tôi chú ý vận dụng. Bên cạnh đó, Luận án còn
vận dụng các phương pháp thống kê, tổng hợp và phân tích để Luận án có cái nhìn tổng quát hơn.
6. Đóng góp của Luận án
- Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên ở Việt Nam về cuộc cách mạng năm 1932 ở Xiêm (Thái
Lan), dựng lại bức tranh tương đối toàn diện, có hệ thống về cuộc cách mạng một cách khách quan và khoa
học.
- Cùng với việc việc nghiên cứu, trình bày một cách có hệ thống diễn biến và kết quả của cuộc Cách
mạng 1932 ở Xiêm, trọng tâm của Luận án là nghiên cứu và rút ra những ý kiến về tính chất, đặc điểm và ý
nghĩa của cuộc cách mạng này.
- Trong phạm vi những công trình và tài liệu nghiên cứu có thể tiếp cận, Luận án cố gắng cung cấp cho
người đọc những ý kiến, quan điểm khác nhau của các học giả trong và ngoài nước về cách mạng 1932 nói
chung và tính chất, ý nghĩa lịch sử của nó nói riêng. Từ đó, chúng tôi đưa ra những nhận định và đánh giá,
những quan điểm riêng của mình.

Đối với các học giả nước ngoài, cuộc Cách mạng năm 1932 ở Xiêm thường được đề cập một cách khái
quát trong các công trình viết về lịch sử Đông Nam Á hoặc lịch sử Thái Lan. Có thể kể đến một số công trình
như:
Công trình “Siam in transition – A brief survey of cultural trends in the five year since the Revolution of
1932” (Nước Xiêm chuyển biến – Khảo sát về những khuynh hướng văn hóa trong 5 năm kể từ Cách mạng
1932) của tác giả Kenneth Perry Landon, xuất bản năm 1939; Nhà nghiên cứu người Nga – E.O Bécdin với
cuốn sách “Lịch sử Thái Lan” xuất bản năm 1976 tại Mátxcơva; Công trình “Lịch sử hiện đại Thái Lan” do
nhà sử học Liên Xô N.V. Rêbricôva biên soạn và được Nhà xuất bản Văn học phương Đông, Mátxcơva xuất
bản năm 1960; Công trình “Thailand – A short history” (Sơ lược lịch sử Thái Lan) của tác giả David K. Wyatt
được xuất bản năm 1982 tại Luân Đôn; Công trình “Politics in Thailand” của tác giả David A. Wilson do
Trường Đại học Cornell, Ithaca, New York xuất bản năm 1962.
Liên quan rải rác đến đề tài mà luận án nghiên cứu còn phải kể đến một loạt các công trình:
J.D.G.Campbell với công trình “Siam in the twentieth century” (Xiêm trong thế kỉ XX) xuất bản năm 1902;
công trình “The Kingdom of Siam” (vương quốc Xiêm) của tác giả A.C.Carter xuất bản năm 1904; “Siam”
10
(Nước Xiêm) của W.A.Graham xuất bản năm 1924; “The Kingdom and People of Siam” (Vương quốc và cư
dân Xiêm) của John Bowring – Đại sứ Anh tại Xiêm xuất bản năm 1977 tại Singapo; công trình “A History
of the Kings of Thailand” (Lịch sử các nhà vua Xiêm) của hoàng thân Chula Chacrabongse xuất bản tại Băng
Cốc năm 1960; công trình “Mongkut - The King of Siam” (Vua Xiêm – Môngkút) của A.L.Moffat xuất bản
tại New York năm 1962; “Chulalongkorn the Great” (Chulalongkorn vĩ đại) của Prachom Choochai xuất
bản năm 1965; “State and Society in the Reign of Mongkut (1851 - 1868)” (Nhà nước và xã hội Xiêm thời
Môngkút (1851 - 1868)) của tác giả Wilson Constance; tác giả Walter E.J.Tips với công trình“Gustave Rolin
Jaequemyns and the Making of Modern Siam” (Gustave Rolin Jaequemyns và sự hình thành nước Xiêm
hiện đại ) do Nhà xuất bản White Lotus, Băng Cốc xuất bản năm 1996.
1.1.3. Các tác giả Việt Nam
Với tư cách là láng giềng gần gũi, các nhà khoa học Việt Nam cũng có những công trình nghiên cứu về
Thái Lan trên nhiều phương diện. Tuy nhiên, số lượng các công trình nói chung chưa nhiều và cho đến nay
chưa có một công trình chuyên khảo nào về cách mạng 1932. Có thể dẫn ra đây một số tác giả và công trình
tiêu biểu như:
Giáo sư Vũ Dương Ninh với “Lịch sử vương quốc Thái Lan”, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1994;

chế ở Xiêm. Đồng thời, làm rõ tiến trình cải cách hiến pháp ở Xiêm và một số nội dung quan trọng trong
những tư tưởng cải cách về kinh tế - xã hội của Priđi Phanômyông (1900 - 1983). Trên cơ sở đó, có những
nhận xét, so sánh đối chiếu với Việt Nam và rút ra những bài học kinh nghiệm quan trọng trong xây dựng đất
nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay.
Thứ ba, qua tìm hiểu tình hình nghiên cứu về cuộc Cách mạng 1932 ở Xiêm, chúng tôi nhận thấy ý kiến
về tính chất của cuộc cách mạng còn có nhiều khác biệt. Một số tác giả cho rằng cách mạng 1932 là một
cuộc cách mạng tư sản, một số khác cho rằng đây là cuộc chính biến, nhóm thứ ba lại cho đây vừa là cuộc
cách mạng tư sản vừa là cuộc chính biến. Xuất phát từ thực tế đó, trên cơ sở nghiên cứu và khái quát những
nhận định, đánh giá về tính chất cách mạng 1932 của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, chúng tôi
mạnh dạn trình bày suy nghĩ và bước đầu đưa ra ý kiến cá nhân của mình về vấn đề này.
13
Thứ tư, với tư cách là người Việt Nam, nghiên cứu lịch sử Thái Lan, thông qua việc so sánh với một số
cuộc cách mạng ở châu Âu trong những thế kỉ trước, chúng tôi cố gắng tập trung làm rõ những đặc điểm và ý
nghĩa của cuộc cách mạng này . Đây là một nội dung trọng tâm mà luận án hướng tới.
Cuối cùng, cho đến hiện tại, trong thời điểm thực hiện luận án, chúng tôi nhận thấy, ở Việt Nam chưa có
công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống, tổng thể và chuyên sâu về cách mạng 1932, đặc biệt là
tính chất và ý nghĩa lịch sử của nó.
Tóm lại, luận án vừa là sự kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các học giả, các nhà nghiên cứu đi
trước, vừa là sự cố gắng của bản thân tác giả trong việc tập trung nghiên cứu, góp phần làm rõ một sự kiện
quan trọng trong lịch sử Thái – Cách mạng năm 1932 – Tính chất và ý nghĩa lịch sử.
Chương 2
TIỀN ĐỀ VÀ DIỄN BIẾN CỦA CÁCH MẠNG 1932
2.1. Những tiền đề của Cách mạng 1932
2.1.1. Các cuộc cải cách nửa cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX
Giữa thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, trước áp lực xâm lược của chủ nghĩa tư bản phương Tây, triều đình
phong kiến Xiêm thời Rama IV – Môngkút (1851 - 1868) đã tiến hành canh tân đất nước, loại bỏ những hủ
tục phong kiến lạc hậu lỗi thời, tạo điều kiện cho chủ nghĩa tư bản phát triển. Sau khi Rama IV qua đời, năm
1868, Rama V – Chulalongkorn (1868 - 1910) lên kế vị và tiếp tục thực hiện những cải cách của vua cha.
14
Dưới thời Rama V, một cuộc cải cách toàn diện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, giáo dục,

Aganey, thảo một tối hậu thư tới nhà vua tuyên bố sự ra đời nền quân chủ lập hiến và yêu cầu nhà vua trở về
trị vì với tư cách một vị vua lập hiến.
Ngày 27 tháng 6 năm 1932, vua Prachathipok (1925 - 1935) chấp nhận kí vào bản Hiến pháp tạm thời do
Đảng Nhân dân đề ra, chấm dứt chế độ quân chủ chuyên chế, thành lập chế độ quân chủ lập hiến – một chế
độ mà nhà vua vẫn tồn tại với tư cách là người đứng đầu nhà nước nhưng chỉ mang tính chất tượng trưng, đại
diện cho truyền thống, cho sự thống nhất của quốc gia, không có nhiều quyền hành trong thực tế. Nói cách
khác nhà vua trị vị nhưng không cai trị.
16
2.2.2. Giai đoạn 2: Sự thiết lập nền quân chủ lập hiến và cuộc đấu tranh bảo vệ chế độ mới (27 tháng 6 năm
1932 đến tháng 3 năm 1933)
Sự kiện Rama VII (1925 - 1935) chấp nhận kí vào bản Hiến pháp tạm thời ngày 27 tháng 6 năm 1932
đánh dấu thiết chế nhà nước quân chủ lập hiến chính thức ra đời ở Xiêm. Mô hình nhà nước quân chủ lập
hiến được xây dựng dựa trên nguyên tắc tam quyền phân lập, với sự phân định rõ ba quyền: Lập pháp, Hành
pháp, Tư pháp và được quy định rõ trong Hiến pháp.
Qua một quá trình chuẩn bị, ngày 10 tháng 12 năm 1932, Hiến pháp chính thức được ban hành. Hiến
pháp chính thức quy định rõ về chức năng và quyền hạn của cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của nhà
nước. Giống như hiến pháp tạm thời, Hiến pháp chính thức quy định Nghị viện (Quốc hội) là cơ quan lập
pháp của nhà nước, theo chế độ một viện, cơ quan hành pháp là Hội đồng Nhà nước do vua bổ nhiệm gồm
Thủ tướng và 14 bộ trưởng được chọn trong số các nghị sĩ quốc hội (Nghị viện). Ngoài ra, có 10 thành viên
khác của Hội đồng nhà nước được chọn từ bên ngoài Nghị viện, tuỳ theo tài năng. Hội đồng nhà nước chịu
trách nhiệm trước Nghị viện và khi cần Nghị viện sẽ bỏ phiếu tín nhiệm. Tòa án vẫn là cơ quan tư pháp.
Như vậy, so sánh nội dung của hai bản hiến pháp có thể thấy rằng mặc dù được tiến hành trên cơ sở kế
thừa những nội dung cơ bản từ Hiến pháp tạm thời nhưng Hiến pháp chính thức tháng 12 năm 1932 có
những điểm nhượng bộ nhà vua. Sau khi thông qua Hiến pháp, giai cấp phong kiến quý tộc, đứng đầu là nhà
vua đã chuẩn bị đấu tranh quyết liệt với Đảng Nhân dân. Trong khi đó, những trí thức tiểu tư sản Xiêm, đứng
đầu là Priđi Phanômyông (1900 - 1983) nhận thức rõ sự cần thiết phải tiếp tục quá trình cải cách kinh tế, xã
17
hội sau khi giành được chính quyền. Với mục đích đó, Priđi Phanômyông (1900 - 1983) đã khởi thảo và đưa
ra chương trình cải tạo kinh tế, xã hội của mình.
2.2.3. Cuộc đấu tranh vì quyền lực và quá trình lên cầm quyền của phái quân sự - giai đoạn (1933 –

bản thân giai cấp tư sản (Cách mạng tư sản Pháp 1789) hoặc giai cấp tư sản liên minh với quý tộc mới (Cách
mạng tư sản Anh 1642).
Trong khi đó, ở Xiêm, lãnh đạo cuộc cách mạng tư sản 1932 là bộ phận cấp tiến vốn là những sĩ quan
trong quân đội và tầng lớp trí thức dân sự được du học ở châu Âu, chịu ảnh hưởng của những tư tưởng dân
chủ tư sản châu Âu. Đặc biệt trong số này phải kể tới nhân vật quan trọng – người được coi là linh hồn của
cuộc cách mạng 1932 – Priđi Phanômyông (1900 - 1983).
3.2.2. Cách mạng 1932 là cuộc cách mạng không có sự tham gia của quần chúng nhân dân và không sử
dụng bạo lực, không đổ máu
Khác với các cuộc cách mạng ở châu Âu những thế kỉ trước, trong cuộc cách mạng Xiêm năm 1932
không có sự tham gia của quần chúng nhân dân. Quần chúng nhân dân không trở thành động lực của cách
mạng. Cách mạng 1932 là một cuộc cách mạng hòa bình (A peaceful revolution).
3.2.3. Cách mạng 1932 gắn liền với vai trò to lớn của giới quân sự
20
Lịch sử của cuộc cách mạng 1932 và lịch sử chính trị Xiêm gắn liền với vai trò của giới quân sự. Những
người thuộc giới quân sự chiếm một vị trí quan trọng trong Đảng Nhân dân ở cả hai phái “Những người lớn
tuổi” và “Những người trẻ”, trong chính phủ mới và trong cả tiến trình cách mạng Xiêm những năm 30.
3.2.4. Cách mạng 1932 gắn liền và bị chi phối bởi đặc tính dân tộc Thái, đó là: Tính thực dụng, uyển
chuyển, dễ thích nghi; Sự tôn trọng và duy trì tinh thần Phật giáo của dân tộc, vai trò của nhà vua vẫn
được coi trọng
Sự lựa chọn thiết chế nhà nước quân chủ lập hiến vừa phù hợp với xu thế phát triển của Xiêm trong tiến
trình hội nhập vào quỹ đạo chủ nghĩa tư bản vừa gắn liền với đặc tính dân tộc Thái, đó là: Tôn trọng và duy
trì tinh thần Phật giáo của dân tộc với biểu hiện rõ nhất là sự coi trọng vai trò và địa vị của nhà vua. Sự tồn
tại của một nhà vua theo tinh thần Phật giáo bên cạnh Nghị viện và Chính phủ là nét đặc trưng riêng biệt của
nền quân chủ lập hiến Xiêm so với các nền quân chủ lập hiến trên thế giới.
Chương 4
Ý NGHĨA CỦA CÁCH MẠNG 1932
4.1. Cách mạng 1932 đưa đến sự kết thúc chế độ quân chủ chuyên chế, hình thành nên thể chế quân chủ
nghị viện tư sản và cải cách nền chính trị Xiêm theo phương thức dân chủ phương Tây
Có thể đánh giá đây là ý nghĩa quan trọng nhất của cuộc cách mạng. Cách mạng 1932 đã kết thúc 150
năm tồn tại của triều đại Chakri và gần 700 năm chế độ quân chủ chuyên chế trong lịch sử Thái Lan. Sự ra

điểm trước đó chưa từng có trong lịch sử.
KẾT LUẬN
1. Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, trước áp lực xâm thực mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản thực dân
phương Tây, dưới các triều vua Rama IV (1851-1868), đặc biệt là Rama V (1868 - 1910), vương quốc Xiêm
đã lựa chọn con đường mở cửa, canh tân đất nước theo mô hình phát triển của các nước phương Tây và trở
thành quốc gia duy nhất trong khu vực còn giữ được nền độc lập tương đối trong khi hầu hết các quốc gia
khác đều trở thành thuộc địa hoặc nửa thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc. Kết quả của quá trình cải cách đã
đưa Xiêm tiến một bước đi đầu tiên vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.
23
Tuy nhiên, quá trình cải cách chỉ là những cải cách từ trên xuống do giai cấp phong kiến quý tộc tiến
hành. Vì vậy, mặc dù mang tính chất tư sản nhưng hết sức không triệt để, vẫn chỉ là những thay đổi hạn chế
trong trật tự và giới hạn của chế độ phong kiến.
2. Trong thời gian giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, với sự kiện cách mạng 1932, Xiêm nổi lên là một
hiện tượng khá độc đáo, không chỉ trong bản thân lịch sử nước Xiêm mà cả ở khu vực.
Cách mạng 1932 bùng nổ là sự kết hợp tác động của các yếu tố nội sinh và ngoại sinh, yếu tố chủ quan
và khách quan. Nguyên nhân chủ quan của cách mạng 1932 là tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng về kinh
tế, chính trị, xã hội Xiêm trong những năm 20 thế kỉ XX, đặc biệt là trong cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới
1929 – 1933. Về nguyên nhân khách quan, cùng với những nguy cơ và thách thức, có thể thấy, bối cảnh thế
giới và khu vực Đông Nam Á đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho Xiêm có thể học hỏi và tiếp thu những
mô hình và những bài học kinh nghiệm, áp lực xâm lược của chủ nghĩa tư bản phương Tây như một “lực
đẩy” buộc Xiêm phải tiến hành đổi mới và đổi mới hơn nữa để theo kịp với thời đại.
3. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân, chủ yếu gồm các trí thức tiểu tư sản chịu ảnh hưởng của tư
tưởng dân chủ phương Tây và các quan chức quân sự. Cách mạng 1932 diễn biến qua ba giai đoạn chủ yếu:
Giai đoạn 1: Cách mạng bùng nổ và sự sụp đổ của chế độ quân chủ chuyên chế.
Giai đoạn 2: Sự thiết lập nền quân chủ lập hiến và cuộc đấu tranh bảo vệ chế độ quân chủ chuyên chế.
Giai đoạn 3: Cuộc đấu tranh vì quyền lực và quá trình lên cầm quyền của phái quân sự - giai đoạn 1933
– 1938.
Kết quả cuối cùng quan trọng nhất của cuộc cách mạng là sự sụp đổ của chế độ quân chủ chuyên chế, sự
ra đời của chế độ quân chủ lập hiến và đặc biệt một hệ quả từ tiến trình cách mạng mà Luận án muốn nhấn
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status