Các giải pháp phát huy vốn đổi mới máy móc thiết bị công nghệ nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm may tại công ty may chiến thắng - Pdf 23

lời Mở đầu
Nền kinh tế Việt Nam đang có sự chuyển mình mạnh mẽ, Công nghiệp hoá-
Hiện đại hoá đất nớc đã gặt hái đợc nhiều thành tựu đáng khích lệ. Tuy nhiên,
bên cạnh những thành tựu đã đạt đợc thì nền kinh tế nói chung, các doanh
nghiệp nói riêng đã và đang gặp phải những trở lực trong quá trình phát triển
trong đó hiện tợng thiếu vốn cho đầu t phát triển là một trong những vấn đề
nổi cộm. Một cán bộ cao cấp của Đảng ta đã từng phát biểu về tình trạng thiếu
vốn tại các doanh nghiệp nh sau: Vốn là nguồn lực đầu tiên và cơ bản của sự
phát triển và hiện đại hoá đất nớc, cái mà các doanh nghiệp cần hiện nay là
vốn, v.v. và vốn, nếu không có vốn tất cả dự định của chúng ta chỉ là mơ ớc
mà thôi .
Quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế
thị trờng vừa tạo ra thời cơ nhng cũng đem đến không ít các thách thức cho
các doanh nghiệp. Công ty May Chiến Thắng - một doanh nghiệp may thuộc
Tổng công ty Dệt - May Việt Nam là một trong những doanh nghiệp đã trải
qua hơn 30 năm xây dựng và phát triển, trong quá trình hoạt động công ty đã
đạt đợc nhiều thành tựu đáng khích lệ. Tuy nhiên, cũng nh nhiều doanh
nghiệp khác, công ty đang phải giải quyết rất nhiều vấn đề khó khăn mà nổi
bật là vấn đề tạo vốn cho đổi mới máy móc thiết bị . Nếu công ty có thể tạo ra
một chính sách huy động và sử dụng vốn thích ứng, có hiệu quả thì nó sẽ là
một trong những động lực cơ bản để phát triển công ty trong tơng lai.
Trong thời gian thực tập tại công ty May Chiến Thắng. Em đã có điều kiện
nghiên cứu tình hình thực tế về công tác huy động vốn tại công ty và xin mạnh
dạn đa ra một số ý kiến về: Các giải pháp huy động vốn đổi mới máy móc
thiết bị công nghệ nhằm nâng cao chất lợng sản xuất sản phẩm, tăng khả
năng cạnh tranh của sản phẩm may tại công ty May Chiến Thắng
Nội dung của luận văn đợc trình bày qua 3 chơng sau:
Ch ơng I : Những vấn đề chung về huy động vốn đổi mới máy móc thiết bị
tại các doanh nghiệp hiện nay
Ch ơng II : Thực trạng về công tác huy động vốn đổi mới máy móc thiết bị
tại công ty May Chiến Thắng

gian sử dụng tối thiểu, hai tiêu chuẩn này đợc quy định tuỳ theo điều kiện
kinh tế, yêu cầu và trình độ quản lý trong từng thời kỳ nhất định. Theo Quyết
định 51/TTg ngày 21/01/1995 thì t liệu lao động đợc coi là TSCĐ thì phải có
thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên và có giá trị trên 5.000.000 đ. Tuy nhiên,
cũng có những tài sản còn thiếu một trong hai tiêu chuẩn trên nhng có vị trí
đặc biệt quan trọng và xét trong một hệ thống gồm nhiều bộ phận liên kết với
nhau cùng thực hiện một chức năng nào đó thì cũng vẫn đợc coi là TSCĐ.
3
Đặc điểm chung của TSCĐ trong doanh nghiệp là tham gia vào nhiều chu
kỳ sản xuất sản phẩm, trong quá trình đó hình thái vật chất (của TSCĐ hữu
hình) và đặc tính sử dụng ban đầu của TSCĐ là không thay đổi, song giá trị
của nó lại đợc chuyển dịch dần từng phần vào giá trị sản phẩm sản xuất ra. Bộ
phận gía trị chuyển dịch này cấu thành một yếu tố chi phí sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp và đợc bù đắp mỗi khi sản phẩm đợc tiêu thụ.
Trong các doanh nghiệp, TSCĐ có nhiều loại khác nhau. Mỗi loại lại có
công dụng kinh tế, tính chất kỹ thuật và đợc sử dụng trong những điều kiện
khác nhau. Để thuận tiện cho công tác quản lý TSCĐ doanh nghiệp cần tiến
hành phân loại TSCĐ một cách khoa học. Thông thờng có các phơng pháp
phân loại TSCĐ nh sau:
Ph ơng pháp thứ nhất : Phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện. Theo phơng
pháp này TSCĐ của doanh nghiệp đợc phân làm những loại sau:
+ TSCĐ hữu hình: là những TSCĐ có hình thái vật chất
+ TSCĐ vô hình: là những TSCĐ không có hình thái vật chất
Ph ơng pháp thứ hai : Phân loại TSCĐ theo mục đích sử dụng. Theo phơng
pháp này TSCĐ của doanh nghiệp đợc phân làm những loại sau:
+ TSCĐ dùng cho mục đích sản xuất kinh doanh: là những TSCĐ dùng
trong hoạt động sản xuất kinh doanh chính và phụ của doanh nghiệp
+ TSCĐ dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp an ninh, quốc phòng: là
những TSCĐ do doanh nghiệp quản lý và sử dụng cho các hoạt động phúc lợi,
sự nghiệp an ninh, quốc phòng của doanh nghiệp.

dụng, công dụng cụ thể của từng loại TSCĐ và mức độ sử dụng có hiệu quả
các TSCĐ. Đó là căn cứ quan trọng để doanh nghiệp xây dựng các quyết định
đầu t, điều chỉnh cơ cấu đầu t sao cho phù hợp với tình hình thực tế đồng thời
nó cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý, sử dụng TSCĐ và tính khấu
hao TSCĐ cho chính xác.
5
1.1.2 Vốn cố định
Vốn cố định là số vốn ứng trớc để mua sắm, xây dựng TSCĐ hữu hình và
vô hình. VCĐ quyết định quy mô của TSCĐ, song chính đặc điểm của TSCĐ
lại quyết định đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển của VCĐ. Đặc điểm của
VCĐ là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm, nó đợc luân chuyển
dần từng phần trong các chu kỳ sản xuất và sau nhiều chu kỳ sản xuất VCĐ
mới hoàn thành một vòng luân chuyển. Trong các doanh nghiệp VCĐ chiếm
vai trò đặc biệt quan trọng bởi nó là là một bộ phận của vốn đầu t nói riêng và
vốn sản xuất kinh doanh nói chung. Việc xác định quy mô VCĐ, mức trang bị
TSCĐ hợp lý là cần thiết song điều quan trọng nhất là phải có biện pháp quản
lý sử dụng tốt VCĐ tránh thất thoát vốn đảm bảo năng lực sản xuất và hiệu
quả hoạt động của TSCĐ.
Trong công tác quản lý VCĐ, một yêu cầu đợc đặt ra đối với các doanh
nghiệp là phải bảo toàn VCĐ. Bảo toàn vốn có thể hiểu là việc giữ nguyên vẹn
sức mua của đồng vốn ban đầu và không ngừng làm cho nó phát triển lên để
sau khi kết thúc một vòng tuần hoàn vốn, với số vốn thu hồi đợc doanh nghiệp
ít nhất cũng có thể mua đợc một khối lợng TSCĐ có quy mô và tính năng kỹ
thuật nh cũ với thời giá hiện tại. Trong quy chế quản lý tài chính và hạch toán
kinh doanh đối với DNNN ban hành kèm theo Nghị định 59/CP ngày
03/10/1996 và sau này là Nghị định 27/1999/NĐ-CP ngày 20/04/1999 có quy
định rõ: Doanh nghiệp có nghĩa vụ nhận, quản lý và sử dụng có hiệu quả
vốn và các nguồn lực đợc Nhà nớc giao, không ngừng nâng cao hiệu quả kinh
doanh, bảo toàn và phát triển vốn,
Tại các doanh nghiệp việc bảo toàn VCĐ phải xem xét trên cả hai mặt :

+ Hao mòn vô hình loại 1: TSCĐ bị giảm giá trị trao đổi do đã có những
TSCĐ nh cũ song giá mua lại rẻ hơn. Do đó trên thị trờng các TSCĐ cũ bị mất
đi một phần giá trị của mình.
7
+ Hao mòn vô hình loại 2: TSCĐ bị giảm giá trị trao đổi do đã có những
TSCĐ mới tuy mua với giá trị nh cũ nhng lại hoàn thiện hơn. Do đó trên thị
trờng các TSCĐ cũ bị mất đi một phần giá trị của mình.
+ Hao mòn vô hình loại 3: TSCĐ bị mất giá hoàn toàn do chấm dứt chu kỳ
sống của sản phẩm tất yếu dẫn đến những TSCĐ sử dụng để sản xuất những
sản phẩm này cũng bị lạc hậu, mất tác dụng.
Tóm lại, trong quá trình sử dụng, TSCĐ bị hao mòn hữu hình và hao mòn
vô hình. Bộ phận giá trị hao mòn đó đợc chuyển dịch dần vào giá thành sản
phẩm gọi là khấu hao TSCĐ. Bộ phận giá trị này đợc cấu thành trong giá
thành sản phẩm đợc biểu hiện dới hình thức tiền tệ gọi là tiền khấu hao. Sau
khi sản phẩm sản xuất ra đợc tiêu thụ, số tiền khấu hao sẽ đợc tích luỹ lại hình
thành quỹ khấu hao TSCĐ. Việc trích lập quỹ khấu hao có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng đối với doanh nghiệp bởi nó là một trong những nguồn vốn cơ bản
để tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng TSCĐ.
1.2 Sự cần thiết phải đổi mới máy móc thiết bị công
nghệ và các nhân tố ảnh hởng tới quyết định đầu t
đổi mới máy móc thiết bị công nghệ tại doanh nghiệp.
1.2.1 Đầu t đổi mới thiết bị công nghệ là đòi hỏi khách quan tại các
doanh nghiệp
Nền kinh tế thị trờng đã tạo cho các doanh nghiệp nhiều điều kiện thuận lợi
để phát triển. Tuy nhiên, gắn chặt với nó là một hệ thống các quy luật kinh tế
trong đó quy luật cạnh tranh giữ một vị trí chủ chốt. Mỗi doanh nghiệp khi
hoạt động đều phải chấp nhận cạnh tranh với các doanh nghiệp khác. Nếu
doanh nghiệp nào chiến thắng đợc trong cạnh tranh thì sẽ tiếp tục phát triển,
còn nếu không thua lỗ phá sản là khó tránh khỏi. Do đó, các doanh nghiệp
luôn tìm kiếm các giải pháp nhằm chiếm lợi thế trong cạnh tranh. Trong số rất

9
đợc nữa. Theo tính toán chung, số hàng hoá trong nớc hiện bị ứ đọng thì 40%
là do giá thành cao và chất lợng kém, 20% đã lạc hậu lỗi mốt, 30% do không
cạnh tranh nổi với hàng ngoại. Công nghệ cũ còn gây ra tình trạng ô nhiễm
môi trờng trầm trọng tại nhiều khu vực khác nhau.
Tóm lại, việc đổi mới máy móc thiết bị là đòi hỏi khách quan đối với các
doanh nghiệp nếu muốn chiến thắng trong cạnh tranh, củng cố và mở rộng
chỗ đứng của mình trên thị trờng cả trong hiện tại và tơng lai.
1.2.2 Các yêu cầu cơ bản đối với máy móc thiết bị công nghệ khi tiến
hành quá trình đầu t đổi mới tại các doanh nghiệp hiện nay.
Đổi mới máy móc thiết bị là cần thiết đối với các doanh nghiệp song việc
đổi mới hoàn toàn không đơn giản, nó phải đảm bảo đợc một loạt các yêu cầu
sau:
Đổi mới phải bắt kịp tiến bộ khoa học công nghệ : Mục đích của việc đổi
mới thiết bị công nghệ trong doanh nghiệp là thay thế, khắc phục những tồn
tại, hạn chế của công nghệ cũ bằng những công nghệ mới tiên tiến hơn, u việt
hơn, có khả năng tạo ra những sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trờng.
Chính vì thế, khi thực hiện hoạt động đầu t đổi mới doanh nghiệp cần tiến
hành điều tra, nghiên cứu kỹ tính năng kỹ thuật cũng nh mức độ tối tân của
công nghệ sắp đầu t. Việc điều tra, nghiên cứu này sẽ giúp doanh nghiệp tránh
việc đầu t vào những công nghệ lạc hậu, làm giảm sút hiệu quả của hoạt động
đầu t.
Đổi mới phải đồng bộ , có trọng điểm : Tính đồng bộ trong đổi mới là rất
quan trọng bởi một sản phẩm tạo ra nếu muốn đợc thị trờng chấp nhận thì cần
phải đáp ứng đợc nhiều mặt nh chất lợng, kiểu dáng, mẫu mã, nếu đổi mới
một cách khập khiễng chẳng hạn nh sản phẩm vẫn giữ nguyên kiểu dáng,
mẫu mã, chỉ thay đổi chất lợng, chất liệu cấu thành sản phẩm thì rất khó cho
ngời tiêu dùng nhận ra đợc những u điểm mới của sản phẩm này. Do đó, sẽ
làm giảm hiệu quả của công tác đổi mới tài sản. Tuy nhiên, đổi mới đồng bộ
10

tính đến những tiến bộ trong tơng lai của khoa học công nghệ đối với những
thiết bị mình sẽ đầu t, từ đó có thể xác định chính xác trọng tâm cũng nh cách
thức đầu t đổi mới trang thiết bị. Nếu thiết bị máy móc luôn tiên tiến, ít nhất
ngang bằng với công nghệ của các doanh nghiệp cùng ngành trong nớc cũng
nh khu vực thì doanh nghiệp mới có khả năng sản xuất ra những sản phẩm có
lợi thế trên thị trờng, có khả năng cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại.
Ba là: Thị trờng và sự cạnh tranh: Một dự án đầu t chỉ có thể đợc chấp nhận
khi nó có khả năng tạo ra lợi thế cho doanh nghiệp trong cạnh tranh, có khả
năng sản xuất ra những sản phẩm đáp ứng đợc những đòi hỏi ngày càng phong
phú và khắt khe của thị trờng. Vì vậy , khi đa ra một quyết định đầu t không
thể thiếu đợc sự phân tích kỹ tình hình hiện tại của bản thân doanh nghiệp,
tình hình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cũng nh dự đoán diễn biến tình
hình thị trờng trong tơng lai.
Bốn là: Khả năng tài chính của doanh nghiệp: doanh nghiệp không thể tiến
hành các dự án đầu t nằm ngoài khả năng tài chính của mình. Hoạt động đầu
t đổi mới máy móc thiết bị luôn mang tính hai mặt. Một mặt, nó đem lại diện
mạo mới, tạo ra lợi thế trong cạnh tranh và uy tín cho doanh nghiệp. Mặt khác,
đó là hoạt động đầu t cho tơng lai, luôn chứa đựng những rủi ro và mạo hiểm.
Một cơ cấu tài chính vững chắc sẽ là điều kiện tiên quyết đến sự tồn tại của
doanh nghiệp. Chính vì vậy công tác đầu t đổi mới máy móc thiết bị phải quan
tâm tới tình hình tài chính tại thời điểm đầu t, trong quá trình đầu t, hiệu quả
của hoạt động đầu t. Có nh vậy doanh nghiệp mới tránh đợc những cú sốc về
tài chính do hậu quả của hoạt động đầu t sai lầm gây ra.
Nhu cầu về vốn cho hoạt động đầu t là rất lớn, nó phát sinh liên tục. Tình
trạng chung tại các doanh nghiệp hiện nay là nguồn vốn tự có rất hạn hẹp và
thờng không đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng. Vì vậy, để có đủ vốn thực hiện hoạt
động đầu t thì doanh nghiệp phải huy động thêm dới nhiều hình thức khác
12
nhau. Khi huy động các nguồn vốn doanh nghiệp cần chú ý đến một số vấn đề
sau:

quyết các khó khăn về vốn là một vấn đề cấp bách cần đợc giải quyết không
thể trì hoãn.
Vậy đâu là nguyên nhân dẫn tới tình trạng thiếu vốn tại các doanh nghiệp
nói chung, DNNN nói riêng ?
+ Nguồn vốn NSNN cấp cho các DNNN còn hạn hẹp. Việt Nam đang trong
quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trờng. Mặc dù trong những
năm gần đây thu NSNN không ngừng tăng nhng cùng với nó rất nhiều khoản
chi NSNN cũng phát sinh và đòi hỏi một lợng vốn lớn từ NSNN. Hiện tợng bội
chi NSNN diễn ra thờng xuyên trong các năm tài khoá. Chính vì vậy, nguồn
vốn NSNN cấp cho các doanh nghiệp rất hạn hẹp, phân tán, không đáp ứng đủ
nhu cầu vốn để đổi mới tài sản tại các DNNN. Khu vực kinh tế t nhân thì lại
càng khó khăn hơn, các doanh nghiệp này quy mô vốn chủ sở hữu thờng nhỏ,
khả năng vay vốn từ ngân hàng cũng khó khăn do phải chịu nhiều sức ép nh
vay vốn phải có tài sản thế chấp, lãi suất vay vốn thờng ít đợc u đãi hơn lãi
suất vay vốn ở các DNNN,
+ Mặc dù đã trải qua hơn 10 năm chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá
tập trung sang nền kinh tế thị trờng nhng một thực tế không thể phủ nhận là cơ
chế quản lý kinh tế cũ cha hoàn toàn bị xoá bỏ, bản thân tại một số doanh
nghiệp còn có một sức ỳ khá lớn, cha thoát khỏi tâm lý ỷ lại vào Nhà nớc,
thiếu năng động trong công tác quản lý cũng nh tổ chức hoạt động sản xuất
kinh doanh. Trình độ quản lý kinh tế yếu kém dẫn tới tình trạng thiếu vốn sản
xuất kinh doanh, thiếu vốn đầu t phát triển, bản thân chính các doanh nghiệp
này cha phát huy đợc năng lực thực sự của mình. Do không mạnh dạn tìm
kiếm các nguồn tài trợ khác từ bên ngoài nên việc thiếu vốn là khó tránh khỏi.
14
Ngoài ra còn có nhiều lý do khác cũng dẫn tới hiện tợng thiếu vốn tại các
doanh nghiệp nh: Cơ chế vay vốn tín dụng còn khá ngặt ngèo đối với khu vực
kinh tế t nhân (vay vốn phải thế chấp tài sản, ), thị trờng vốn tại Việt Nam
cha đợc hoàn thiện, Để giải quyết nghịch lý ngân hàng thừa vốn trong khi
các doanh nghiệp thiếu vốn, Nhà nớc cần bổ sung các chính sách hỗ trợ các

doanh nghiệp sử dụng để bù đắp, bảo toàn vốn sản xuất kinh doanh và trích
lập các quỹ nh: quỹ dự phòng tài chính, quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm,
quỹ khen thởng, quỹ phúc lợi, với tỷ lệ trích lập đợc quy định rất chi tiết.
Trong số các quỹ trên thì doanh nghiệp có thể sử dụng quỹ đầu t phát triển
phục vụ cho hoạt động đầu t đổi mới hiện đại hoá TSCĐ.
Hoạt động tài chính tại các doanh nghiệp rất đa dạng và phong phú, trên
thực tế ngoài một số nguồn vốn kể trên doanh nghiệp còn có thể khai thác một
số nguồn vốn nữa nhng chỉ mang tính chất tạm thời nh : nguồn vốn do thanh
lý nhợng bán TSCĐ, do chênh lệch đánh giá lại tài sản, do kiểm kê tài sản
phát hiện thừa,
Trong công tác huy động vốn doanh nghiệp đặc biệt coi trọng nguồn vốn
bên trong bởi nó có rất nhiều u điểm:
Một là: Tái đầu t đổi mới máy móc thiết bị công nghệ là mục đích nguyên
thuỷ của việc trích lập quỹ khấu hao
Hai là: Nguồn vốn bên trong là nguồn vốn chủ sở hữu, nó thuộc quyền sở
hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp có toàn quyền quyết định trong việc sử
dụng nên việc sử dụng ngồn vốn này khá linh hoạt và không phải chịu những
sức ép trong quá trình sử dụng nh vốn vay ( nh sức ép về việc thanh toán nợ
gốc khi khoản vay đáo hạn, lãi vay phải trả, các quy định chặt chẽ do ngân
hàng đề ra trong quá trình sử dụng vốn vay, )
16
Nh vậy, huy động tối đa nguồn vốn bên trong của doanh nghiệp là xu hớng
chung trong việc huy động vốn đổi mới thiết bị công nghệ. Tuy nhiên, thực
trạng tại các doanh nghiệp hiện nay là nguồn vốn bên trong còn rất hạn chế,
thờng không thể đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng tại doanh nghiệp. Chính vì vậy,
việc huy động nguồn vốn bên ngoài là cần thiết.
1.3.2 Nguồn vốn bên ngoài
Nguồn vốn bên ngoài là các khoản doanh nghiệp đi vay của các tổ chức, cá
nhân có quan hệ với mình, đó có thể là quan hệ bạn hàng, đối tác, cán bộ công
nhân viên trong công ty, các ngân hàng thơng mại, các tổ chức tín dụng, huy

cùng nhau phát triển đợc coi là một xu thế mới mẻ và có nhiều triển vọng.
Việc chuyển từ đối đầu sang đối thoại hợp tác cùng phát triển không những
không làm cho doanh nghiệp suy yếu đi mà còn đem lại nhiều u thế. Khi tiến
hành liên doanh liên kết thì doanh nghiệp có thể huy động đợc một lợng vốn
chủ sở hữu đủ lớn để đáp ứng cho nhu cầu đầu t phát triển. Liên doanh vừa tạo
điều kiện tăng nguồn lực tài chính, nâng cao trình độ quản lý và sử dụng thiết
bị công nghệ, tận dụng u thế hiện có của các bên liên doanh Doanh nghiệp
có thể liên doanh với các đối tác trong nớc nhng xu hớng hiện nay là hợp tác
liên doanh với nớc ngoài. Thông thờng bên Việt Nam góp vốn bằng đất đai,
nhà xởng là chủ yếu, còn bên nớc ngoài góp vốn bằng máy móc thiết bị công
nghệ hoạc bằng tiền. Nh vậy, đối với các doanh nghiệp Việt Nam điều này là
có lợi bởi có thể đầu t đổi mới thiết bị công nghệ trong điều kiện thiếu vốn.
Khó khăn lớn nhất của bên Việt Nam khi tiến hành liên doanh là việc xác định
trị giá vốn góp của bên đối tác, việc thiếu kinh nghiệm này nhiều khi gây lên
những bất lợi lớn đối với bên Việt Nam. Ngoài ra việc xây dựng điều lệ hoạt
động của liên doanh thiếu chặt chẽ, không khoa học đã dẫn tới hiện tợng bên
đối tác dựa vào những hạn chế của bên Việt Nam trong quá trình hoạt động để
tìm cách gây khó khăn nh: yêu cầu tăng thêm vốn khi liên doanh thiếu vốn
18
hoạt động, thay đổi cơ cấu tổ chức của liên doanh, Để liên doanh thực sự
đem lại hiệu quả cao thì doanh nghiệp cần hết sức chú ý đến những vấn đề
này.
Kêu gọi viện trợ, thu hút đầu t của các tổ chức phi chính phủ, đầu t trực tiếp
từ n ớc ngoài, đầu t từ quỹ hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), từ các tổ chức
bảo vệ mội tr ờng, hoà bình , Việc mở cửa nền kinh tế đã tạo điều kiện cho
các tổ chức quốc tế có điều kiện hiểu biết thêm về đất nớc và con ngời Việt
Nam, có điều kiện tìm hiểu tình hình tài chính còn khá eo hẹp của các doanh
nghiệp Việt Nam. Tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức nớc ngoài là một hớng
đi cần lu tâm khi các nguồn lực tài chính của các doanh nghiệp trong nớc còn
hạn hẹp

Công ty may Chiến Thắng là một DNNN, là thành viên của Tổng công ty
Dệt May Việt Nam, trực thuộc Bộ Công nghiệp. Công ty May Chiến Thắng có
tên giao dịch quốc tế là: Chiến Thắng Garment Company
Tên viết tắt: CHIGAMEX
Trụ sở chính: Số 10 Thành Công - Ba Đình - Hà Nội
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Ngày 2/3/1968, trên cơ sở máy móc, thiết bị và nhân lực của Trạm may Lê
Trực và xởng may cấp I Hà Tây. Bộ Nội thơng quyết định thành lập Xí nghiệp
May Chiến Thắng có trụ sở tại số 8B phố Lê Trực, Quận Ba Đình, Thành phố
Hà nội và giao cho Cục vải sợi may mặc quản lý .
Ngày 15/6/1968 là ngày ra mắt xí nghiệp May Chiến Thắng, tổng số lao
động của xí nghiệp lúc bấy giờ là 325 ngời( trong đó có 147 nữ). Năm 1986 ,
theo tinh thần Nghị quyết 306 của Bộ Chính trị và Quyết định 217/HĐBT của
Hội đồng Bộ Trởng đã chuyển giao quyền tự chủ cho xí nghiệp trong việc tổ
chức sản xuất kinh doanh, hàng năm ngoài phần kế hoạch Nhà nớc giao, xí
nghiệp đợc phép tự tổ chức sản xuất thêm để đảm bảo việc làm và tăng thu
nhập cho ngời lao động. Năm 1992, xí nghiệp thành lập thêm một cơ sở mới
tại số 10 Thành công .
Ngày 25/8/1992 Bộ Công nghiệp nhẹ ban hành quyết định số 730/CNn-
TCLĐ chuyển xí nghiệp May Chiến Thắng thành công ty May Chiến Thắng.
Ngày 25/3/1994 xí nghiệp thảm len xuất khẩu Đống Đa thuộc Tổng công ty
Dệt Việt Nam đợc sát nhập vào công ty May Chiến Thắng theo quyết định
290/QĐ-TCLĐ của Bộ Công nghiệp nhẹ .
Năm 1997 công trình đầu t ở cơ sở 10 Thành công hoàn thành bao gồm 3
đơn nguyên 5 tầng với diện tích 13000 m2 , bao gồm: 6 phân xởng may,1
phân xởng da, 1 phân xởng thêu-in , 50% khu vực sản xuất đợc trang bị hệ
thống điều hòa không khí với hơn 1560 loại thiết bị các loại, v.v.
21
Đợc sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ công nghiệp và Tổng công ty Dệt-May Việt
Nam, trên cơ sở thực hiện đầy đủ các thủ tục pháp lý cần thiết theo hớng dẫn,

trong một số trờng hợp cá biệt khách hàng có thể ký hợp đồng và yêu cầu
công ty mua giúp một số loại nguyên phụ liệu (từ thị trờng trong nớc hoặc
nhập khẩu từ nớc ngoài).
Sản phẩm của công ty May Chiến Thắng chủ yếu đợc sản xuất thông qua
các đơn đặt hàng. Khi công ty nhận đợc các đơn đặt hàng và nguyên phụ liệu
do bên đặt hàng cung cấp (có kèm theo các tài liệu và thông số cần thiết về
sản phẩm cần sản xuất) thì công ty sẽ tiến hành chế thử sản phẩm. Sản phẩm
chế thử sau đó sẽ đợc chuyển đến bộ phận duyệt mẫu để kiểm tra xem sản
phẩm có đạt yêu cầu đề ra không. Khi mẫu chế thử đạt yêu cầu , thì các mã
sản phẩm này sẽ đợc đa đến các phân xởng sản xuất. Mỗi phân xởng sản xuất
là một dây truyền khép kín phải tiến hành toàn bộ các công việc từ làm mẫu
cứng, giác mẫu, khớp mẫu rồi đa đến tổ cắt. Tổ cắt sẽ nhận vật liệu cắt theo
mẫu đã giác và đa đến từng tổ may. Các tổ may cũng đợc chuyên môn hóa ,
mỗi ngời may một công đoạn: may thân, tay, vào chun, khóa, thùa khuyết,
đính cúc, Kết thúc quy trình công nghệ may mỗi tổ sẽ có một thợ cả đi
kiểm tra về mặt kỹ thuật và một thu hóa làm nhiệm vụ thu thành phẩm tại cuối
chuyền sau đó chuyển sang cho thợ là. Cuối cùng sản phẩm sẽ đợc đa sang bộ
phận KCS của phân xởng để kiểm tra , đóng gói, chuyển đến kho.
Trong mỗi phân xởng may cơ cấu tổ chức đợc bố trí nh sau:
- Bộ phận quản lý gồm có:
+ 1 quản đốc phân xởng: nhận kế hoạch của công ty, quản lý chung các
khâu, giám sát chung tình hình sản xuất của phân xởng ,
+ 2 phó quản đốc phân xởng: có nhiệm vụ bao quát , đôn đốc các tổ sản
xuất, và mọi vấn đề phát sinh trong ca mình quản lý .
23
- Bộ phận giúp việc gồm có:
+ 2 KCS phân xởng: kiểm tra chất lợng sản phẩm sản xuất của phân xởng
+ 2 Thợ sửa máy
+1 Nhân viên thống kê
- Bộ phận sản xuất gồm có:

- Phòng phục vụ sản xuất : Mua sắm các trang thiết bị sản xuất cho các
phân xởng, cung ứng nguyên vật liệu cho các phân xởng sản xuất theo kế
hoạch sản xuất, chuẩn bị hòm, đai, phục vụ cho đóng hòm, v v.
- Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu: Có nhiệm vụ lập kế hoạch sản xuất -
kinh doanh ngắn hạn, dài hạn theo các hợp đồng gia công đã ký kết, thiết lập
mối quan hệ với khách hàng, mở các cửa hàng giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm,
thực hiện kí kết các hợp đồng xuất nhập khẩu trực tiếp, v v.
- Phòng kinh doanh tiếp thị: xây dựng và thực hiện các chiến dịch quảng
cáo, xúc tiến bán hàng, tiêu thụ sản phẩm, tìm kiếm thị trờng tiêu thụ sản
phẩm trong và ngoài nớc, v v.
- Phòng Hành chính- tổng hợp: Lu giữ , pho to, đóng dấu các công văn giấy
tờ sử dụng trong hoạt động hàng ngày của công ty,
- Phòng Bảo vệ: Trông giữ bảo quản các tài sản của công ty
- Phòng Ytế : Chăm sóc sức khỏe cho cán bộ công nhân viên trong công ty.
- Phòng đào tạo Thái Nguyên: Phụ trách đào tạo nghề cho học sinh có
nguyện vọng vào làm việc trong công ty tại chi nhánh khu vực Thái Nguyên.
Cụ thể sơ đồ tổ chức quản lý đợc bố trí ở Sơ đồ 1
2.1.4 Một số chỉ tiêu chủ yếu của công ty May Chiến Thắng trong
những năm gần đây
Vốn kinh doanh của công ty May Chiến Thắng tính đến 31/12/1999 là
41.385.842.226 VNĐ, trong đó: - Vốn cố định 25.589.138.858 : VNĐ
-Vốn lu động : 15.796.703.368VNĐ
25

Trích đoạn Vay vốn CB-CNV trong công ty Vay dài hạn ngân hàng 7.030.000.000Đ (52.07%) Vay dài hạn ngân hàng và Huy động vốn qua hợp tác liên doanh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status