Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời cảm ơn
Em xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành của mình tới dân, đã tận tình hớng
dẫn em trong quá trình hoàn thiện đề án này
Tôi cũng xin cảm ơn những ngời bạn đã cho tôi mợn tài liệu, đã góp ý và động
viên tôi, để tôi có thể hoàn thành tốt nhất đề án này.
1
Đề án môn học Lý thuyết tài chính - Tiền tệ
Lời nói đầu
Đối với các nớc đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng, phát triển và
tăng trởng kinh tế luôn là mục tiêu quốc gia. Trong khi nền kinh tế phát triển thấp,
tích luỹ từ nội bộ không nhiều, các nguồn lực của nền kinh tế cha có điều kiện
khai thác thì việc hỗ trợ của dòng vốn từ bên ngoài là rất cần thiết và đóng vai trò
quan trọng đối với tăng trởng kinh tế. Tuy nhiên, để có thể thu hút dòng vốn từ
bên ngoài đòi hỏi chúng ta phải thực thi hàng loạt chính sách kinh tế có liên quan,
nhằm tạo môi trờng cho dòng vốn đợc lu chuyển dới tác động của cung cầu tiền tệ
trên thị trờng.
Bởi vì tiền tệ là vấn đề rất nhạy cảm, việc thực thi chính sách tiền tệ không
những tác động đến tình trạng của nền kinh tế quốc gia mà còn ảnh hởng đến các
nớc khác do xu thế toàn cầu hoá, khu vực hóa nền kinh tế thế giới. Mặt khác, việc
thực thi chính sách tiền tệ rất đa dạng, phần lớn tuỳ vào quan điểm của các nhà
lãnh đạo, tuy nhiên, cho dù thế nào đi nữa thì những gì đúc kết từ thực tiễn điều
hành chính sách vẫn là cơ sở quan trọng cho việc định hớng, hoàn thiện về sau.
Trên tinh thần đó, việc nghiên cứu, tổng kết việc thực thi chính sách tiền tệ trong
thời gian qua là điều đáng quan tâm.
Bớc vào thế kỉ 21, Việt Nam xác định mục tiêu tăng trởng KT &công bằng
XH, vì vậy việc lựa chọn giaỉ pháp nào để xây dựng &điêù hành chính sách tiền tệ
quốc gia có hiệu quả nhất vẫn là 1 vấn đề khó khăn,phức tạp.
Qua quá trình học tập &rèn luyện môn Lý thuyết tài chính tiền tệ, đợc sự hớng
dẫn của các thầy cô giáo khoa Ngân hàng tài chính, em xin mạnh dạn trình bày Đề
Nhà nớc, độc quyền phát hành tiền, thực hiện nhiệm vụ cơ bản là ổn định giá trị
tiền tệ, thiết lập trật tự, bảo dảm sự hoạt động an toàn và ổn định và hiệu quả của
toàn bộ hệ thống ngân hàng nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô của mỗi
đất nớc.
Hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ là nhiệm vụ trung tâm, của NHNW
trong lĩnh vực tiền tệ. Điều hành chính sách tiền tệ của NHTW trong nền kinh tế
thị trờng mang tính chất điều tiết vĩ mô, hớng các tổ chức tín dụng vào thực hiện
các mục tiêu của chính sách tiền tệ, đồng thời vẫn đảm bảo tính tự chủ trong hoạt
động kinh doanh của các tổ chức tín dụng. NHTW thờng không can thiệp và
3
Đề án môn học Lý thuyết tài chính - Tiền tệ
không ra lệnh trực tiếp vào các quyết địng tác nghiệp của các tổ chức tín dụng mà
chủ yếu sử dụng các biện pháp tác động gián tiếp để điều chỉnh môi trờng và các
điều kiện kinh doanh của các tổ chức tín dụng nh: khả năng thanh toán, lãi suất
chiết khấu, dự trữ, khối lợng tiền cung ứng, tỷ giá... để thông qua đó đạt tối mục
tiêu của chính sách tiền tệ.
Để điều hành chính sách tiền tệ, NHTW phải hình thành và sử dụng hệ thống
công cụ của nó. Đặc điểm của các công cụ chính sách tiền tệ là tạo cho NHTW
khả năng tác động có hiệu lực đến các yếu tố tiền đề buộc các tổ chức tín dụng
phải tự điều chỉnh hoạt động của mình theo hớng chỉ đạo của NHTW nhng vẫn
phải đảm bảo quyền tự chủ trong kinh doanh cũng nh sự bình đẳng trong môi tr-
ờng cạnh tranh giữa các ngân hàng.
I.2. Mục tiêu của chính sách tiền tệ
Bất kỳ một chính sách kinh tế- xã hội nào cũng có những mục tiêu của nó,
chính sách tiền tệ không nằm ngoài quy luật đó. Đối với chính sách tiền tệ có 6
mục tiêu cơ bản thờng xuyên đợc nhắc đến, đó là:
- Giải quyết việc làm
- Tăng trởng kinh tế
- ổn định giá cả và kiềm chế lạm phát.
- ổn định lãi suất.
I.2.3. Về ổn định giá cả và kiềm chế lạm phát.
Khi giá cả ổn định, lạm phát ở mức thấp thu nhập thực tế của ngời dân đợc
nâng cao, đời sống nhân dân đợc cải thiện, đầu t cho nền KT cũng đợc đảm bảo,
tăng trởng KT thực dơng.
Ngợc lại, khi lạm phát ở mức cao,thu nhập của ngời dân bấp bênh, nguy cơ
khủng hoảng KT cao.
Chính vì vậy mà mục tiêu này đợc xem là một trong những mục tiêu quan
trọng nhất trong CSTT. Mục tiêu tăng trởng KT luôn luôn gắn liền với mục tiêu ổn
định giá cả kiềm chế lạm phát.
5
Đề án môn học Lý thuyết tài chính - Tiền tệ
I.2.4. Mục tiêu ổn định lãi suất:
Tất cả các quốc gia đều mong muốn một sự ổ định về lãi suất.Vì lãi suất có
ảnh hởng lớn đến đầu t và tăng trởng,ảnh hởng đến các luồng vốn,ngoại tệ..Chính
vì thế, ổn định lãi suất tạo ra thế ổn định cho các lĩnh vực nh tín dụng, đầu t, sự di
chuyển vốn..dẫn đến ổn định chung cho nền KT.
Lãi suất chính là một trong những công cụ quan trọng nhất của CSTT. Để cho
nền KT đợc ổn định đòi hỏi CSTT phải đa ra một hệ thống lãi suất mềm dẻo đúng
đắn,phù hợp với sự vận động của cơ chế thị trờng.
I.2.5.Về ổn định thị trờng tài chính:
Việc tạo ra một nền tảng tài chính ổn định để hệ thống NH& các tổ chức tín
dụng có thể hoạt động một cách có hiệu quả và hỗ trợ một cách tốt nhất cho tăng
trởng KT cao,lạm phát thấp, cũng nh hạn chế những khuyết tật của hệ thống tài
chính là mục tiêu chủ đạo của chính sách tiền tệ. NHTW phải điều hoà hoạt động
của hệ thống TC trong nớc một cách gián tiếp,tăng cờng hiệu quả cho nó.
Bản thân hệ thống TC cũng có những mục tiêu riêng của nó và nhiều khi
những mục tiêu này lại đối chọi với các mục tiêu chung của nền KT. Do đó vai trò
của CSTT là làm hài hoà một cách tối u giữa các mục tiêu trên,để phục vụ tốt nhất
cho lợi ích chung của nền KT mà không làm tổn hại hay hạn chế sự phát triển của
hệ thống TC.
thắt chặt, lãi suất tăng lên làm giảm các nhân tố cấu thành tổng cầu và do đó đến
tổng cầu của nền kinh tế. Thất nghiệp vì thế có xu hớng tăng lên. Mặt khác, việc
duy trì một tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn thờng kéo theo chính sách tiền tệ mở rộng và
sự tăng giá.
Thứ hai, mục tiêu công ăn việc làm mâu thuẫn với mục tiêu ổn định giá cả
còn thể hiện thông qua sự phản ứng của Ngân hàng trung ơng đối với các cú shock
cung nhăm đảm bảo mức cầu tiền thực tế, kết quả là giá tăng lên.
Thứ ba, mâu thuẫn này còn đợc thể hiện thông qua định hớng điều chỉnh tỷgiá:
bằng việc hạ giá đồng bản tệ các ngành công nghiệp xuất khẩu có khả năng mở
rộng. Tỷ lệ thất nghiệp vì thế giảm thấp kèm theo sự tăng lên của mức giá chung.
Nh vậy, việc duy trì một mức tỷ giá ổn định và thích hợp sẽ làm giảm tỷ lệ việc
làm, trong khi một mức tỷ giá cao hơn sẽ góp phần làm tăng tỷ lệ đó.
7
Đề án môn học Lý thuyết tài chính - Tiền tệ
I.3. Nội dung của chính sách tiền tệ.
Xét cho cùng NHTW có thể thực thi hai loại chính sách tiền tệ phù hợp với
tình hình thực tiễn của nền kinh tế:
- Chính sách mở rộng tiền tệ: là việc cung ứng thêm tiền cho nền kinh tế
nhằm khuyến khích đầu t phát triển sản xuát tạo công ăn việc làm.
Chính sách này đợc đa ra trong trờng hợp nền KT trì trệ,tăng trởng thấp.Nó
tạo ra không khí tiêu dùng mạnh mẽ kích thích đầu t và tăng trởng KT.
- Chính sách thắt chặt tiền tệ: là việc giảm cung ứng tiền cho nền kinh tế
nhằm khuyến khích đầu t, ngăn chặn sự phát triển quá đà của nền kinh tế và kiềm
chế lạm phát. Chính sách này đợc đa ra nhằm ngăn trặn tình trạng phát triển quá
nóng của nền KT. Nó tạo ra sự khan hiếm về tiền, sự đắt đỏ về chi phí, làm giảm
tốc độ tăng trởng quá nhanh, tạo ra một sự phát triển bền vững.
Trong nền KT thị trờng, CSTT bao gồm 3 thành phần cơ bản gắn liền với 3
kênh dẩn nhập tiền vào lu thông. Đó là:
+Chính sách tín dụng
+Chính sách ngoại hối
bằng các biện pháp phát hành tiền& vay nợ nớc ngoài.
- Trong trờng hợp NSNN cân bằng, khi chính phủ thu thuế tức là đã lấy ra
khỏi lu thông một lợng tiền và chi tiêu trở lại số tiền đó vào bộ may kinh tế.khối l-
ợng tiền không thay đổi vì nó đợc tăng giảm một lợng nh nhau.Tuy nhiên, nó có
thể làm thay đổi kết cấu giữa tiêu dùng và tiết kiệm, chẳng hạn nếu tầng lớp chịu
thuế không giảm tiêu thụ mà giảm tiết kiệm, trong khi đó CP phải dùng số thuế
thu đợc trợ cấp cho những ngời có thu nhập thấp thì số tiêu thụ chung lạI gia tăng,
số đầu t giảm và kết quả là làm tăng khả năng tăng vật giá. Nêú Nhà nớc dùng số
chi ngân sách để đầu t của nhà nớc tăng lên, đầu t chung không đổi, lu ý hai trờng
hợp:
9
Đề án môn học Lý thuyết tài chính - Tiền tệ
Thứ nhất, nếu CSTT chống lạm phát,ngân sách thăng bằng vãn có thể tác
dụng ngợc với CSTT chống suy thoái.
Thứ hai, Trờng hợp CSTT nhằm chống suy thoái, Ngân sách cân bằng vẫn có
thể chuyển dịch thu nhập tiền tệ theo hớng góp phần chống suy thoái bằng cách
làm tăng mức tiêu thụ.
- Trờng hợp NS thặng d: Đây là trờng hợp rất có lợi vì nó rút bớt khối tiền tệ
d thừa, tác động có lợi cho mối tơng quan giữa tổng cung và tổng cầu.
Để thực hiện tốt các mục tiêu và nội dung nh đã nêu ở trên, bản thân CSTT
phải sử dụng một cách có hiệu quả nhất các công cụ mà nó có đợc. Các công cụ
đó bao gồm cả các u và nhợc đIúm.Vì vậy trong khi sử dụng cần hết sức lu ý,tránh
tình trạng quá đà không kiểm soát nổi để chúng gây phản tác dụng, gây ra những
hậu quả khó lờng đối với nền KT.
II. Các công cụ của chính sách tiền tệ
Công cụ chính sách tiền tệ là các hoạt động đợc thực hiện trực tiếp hoặc gián
tiếp đến khối lợng tiền trong lu thông và lãi suất, từ đó mà đạt đợc các mục tiêu
của chính sách tiền tệ.
II.1. Các công cụ trực tiếp.
Các công cụ sau đợc gọi là các công cụ trực tiếp bởi vì thông qua chúng,
suất cho vay để kich thích các nhá đầu t vay vốn, khi cần hạn chế đầu t NHTW sẽ
ấn định mức lãi suất cao.
Tuy nhiên, biện pháp này làm cho các NHTM mất tính chủ động, linh hoạt
trong kinh doanh. Mặt khác, nó dễ dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn ở Ngân hàng,
nhng lại thiếu vốn đầu t hoặc khuyến khích dân c dùng tiền để dự trữ vàng, ngoại
tệ, bất động sản trong khi ngân hàng bị thiếu hụt về tiền mặt cũng nh nguồn cho
vay.
Biện pháp này có u điểm là giúp Ngân hàng lựa chọn những dự án kinh tế tối
u để cho vay, loạI bỏ các dự án kém hiệu quả nhng nó cũng làm cho tính linh hoạt
của thị trờng tiền tệ bị suy giảm, các NHTM bị động trong kinh doanh. Ngày nay
biện pháp này ít đợc sử dụng ở các nớc theo cơ chế thị trờng bởi trong cơ chế thị
11
Đề án môn học Lý thuyết tài chính - Tiền tệ
trờng lãi suất rất nhạy cảm với đầu t, nó phải đợc vận động theo quan hệ cung cầu
vốn trên thị trờng.
II.1.3. Phát hành tiền trực tiếp cho ngân sách và đầu t, phát hành trái
phiếu:
Nh đã xét ở trên, khi NSNN bị thiếu hụt thì một trong các biện pháp giải
quyết đó là phát hành tiền. Rõ ràng là biện pháp này làm tăng lợng tiền trong lu
thông, trong khi lợng hàng hoá không tăng hoặc tăng không kịp dãn đến hậu quả
tất yếu là lạm phát. Chính vì vậy mà công cụ nay hoàn toàn không nên sử dụng.
Phát hành trực tiếp cho đầu t có thể thông qua con đờng NSNN hoặc là bằng
con đờng tín dụng ngân hàng.Biện pháp này còn đợc gọi là biện pháp ứng trớc cho
sản xuất,là một biện pháp tốt trong trờng hợp nền KT suy thoái,d thừa tiềm
năng.Nó sẽ mang lại hiệu quả tích cực, khơi dậy các tiềm năng về tài nguyên và
con ngời.
Trong điều kiện các biện pháp khác không thuận lợi, Nhà nớc muốn làm
giảm lợng tiền trong lu thông, có htể phát hành một lợng nhất định trái phiếu CP
để thu hút khối lợng tiền trong lu thông.
Bên cạnh các công cụ trực tiếp trên, CSTT còn bao gồm các công cụ gián tiếp
bắt buộc nh phần a trong bảng sau:
a. tỷ lệ dự trữ bắt buộc: 10%
Tài sản có Tài sản nợ
Dự trữ: 100
Cho vay: 900
Tiền gửi: 1000
Với tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10% và tiền gửi là 1000, ngân hàng giữ 100 cho
yêu cầu dự bắt buộc và có thể cho vay tối đa là 900.
b.tỷ lệ bắt buộc: 5%.
Tài sản có Tài sản nợ
Dự trữ: 100
+ Dự trữ bắt buộc: 50
Tiền gửi: 1000
13
Đề án môn học Lý thuyết tài chính - Tiền tệ
+ Dự trữ vợt mức: 50
Khi tỷ lệ dự trữ bắt buộc giảm xuống 5% nh phần b, ngân hàng vẫn có 100
dự trữ, nhng trong đó phần dự trữ vợt mức là 50. Đây là bộ phận ngân hàng sẵn
sàng cho vay, làm cho tổng số cho vay có thể lên đến 950. Điều này xảy ra ở tất cả
các ngân hàng và sự tác động qua lại giữa các ngân hàng sẽ tạo lên sự thay đổi
trong tổng số cho vay và tiền gửi của hệ thống ngân hàng bằng bội số của sự thay
đổi dự trữ ban đầu.
II.2.1.2. Ưu điểm và nhợc điểm của dự trữ bắt buộc:
Điểm lợi chính của công cụ này là nó tác động đến tất cả các ngân hàng nh
nhau và có tác dụng đâỳ quyền lực đến cung ứng tiền tệ. Tuy nhiên khi dự trữ bắt
buộc không đợc trả lại, chúng tơng đơng với một khoản thuế và có thể dẫn đến
hiện tợng phi trung gian hoá. Mặt khác bự trữ bắt buộc thiếu tính mềm dẻo bởi sẽ
rất vất vả để thực hiện đợc những thay đổi nhỏ trong cung ứng tiền tệ bằng cách
thay đổi dự trữ bắt buộc. Một điểm bất lợi khác nữa của việc sử dụng dự trữ bắt
buộc để kiểm soát việc cung ứng tiền tệ là việc tăng dự trữ bắt buộc cói thể gây
đợc đến các cửa sổ chiết khấu là một đặc ân chứ không phải là một quyền hạn.
Ngân hàng phải chịu ba loại phí khi đến vay tại cửa sổ chiết khấu:
- Phí lãi biểu thị bằng lãi suất chiết khấu.
- Phí về việc phải làm đúng theo các điều tra của Ngân hàng trung ơng về
khả năng thanh toán của Ngân hàng khi đến vay tại cửa sổ chiết khấu.
- Phí về việc rất có thể bị từ chối cho vay chiết khấu bởi vì đến cửa sổ chiết
khấu quá thờng xuyên.
II.2.2.3. Ưu và nhợc điểm của chính sách chiết khấu.
Chính sách chiết khấu là một công cụ rất quan trọng trong việc thực thi
chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ơng. Nó không chỉ điều tiết lợng tiền cung
ứng, mà còn thể hiện vai trò ngời cho vay cuối cùng đối với các tổ chức tín dụng
và tác động đến việc điều chỉnh cơ cấu đầu t đối với nền kinh tế.
Biện pháp này có u điểm là việc vay mợn đợc thực hiện trên những giấy tờ có
giá nên thời hạn vay mợn tơng đối rõ ràng, việc hoàn trả nợ tơng đối chắc chắn,
tiền vay vận động phù hợp với sự vận động của qui luật cung cầu thị trờng. nó
15
Đề án môn học Lý thuyết tài chính - Tiền tệ
cũng giúp NHTW thực hiện vai trò là ngời vay cuối cùng nhằm tránh khỏi những
cuộc sụp đổ tài chính. Chiết khấu là một cách có hiệu quả đặc biệt để cung cấp dự
trữ cho hệ thống ngân hàng trong quá trình xảy ra một cuộc khủng hoảng ngân
hàng bởi vì dự trữ lập tức đợc điều đến các ngân hàng nào cần thêm dự trữ hơn cả.
Chính sách chiết khấu có tác dụng thông báo ý định của NHTW về chính sách tiền
tệ trong tơng lai.
Việc sử dụng biện pháp này đôi khi cũng không đạt hiệu quả bởi vì nó có hai
nhợc điểm chính sau: thứ nhất, ở vào nghiệp vụ này NHTW ở vào thế bị động,
NHTW có thể thay đổi lãi suất tái chiết khấu nhng không thể bắt các NHTM phải
đi vay; thứ hai khi NHTW ấn định mức lãi suất chiết khấu tại một mức đặc biệt
nào đấy sẽ xảy ra những biến động lớn trong khoảng cách giữa lãi suất chiết khấu
và lãi suất thị trờng vì lãi suất vay thay đổi, dẫn đến những thay đổi ngoài ý định
trong khối lợng cho vay chiết khấu và do đó trong cung ứng tiền tệ, NHTW khó có
thuộc vào ngời mua bán ( các NHTM ). Và để sử dụng đợc nghiệp vụ này thì phải
có sự phát triển khá cao của của cơ chế thanh toán không dùng tiền mặt, tiền trong
lu thông phần lớn nằm trong tài khoản của ngân hàng, đòi hỏi thị trờng tài chính
phải tơng đối phát triển.Hay nói cách khác, nghiệp vụ thi trờng mở chỉ đạt đợc
hiệu quả trong điều kiện có một thị trờng chứng khoán thứ cấp sôi động,một thị tr-
ờng liên NH, thị trờng tiền tệ hoạt động sôi động.
II.3. Kinh nghiệm về các chính sách tiền tệ trên thế giới
Có bốn loại chính sách tiền tệ cơ bản trên thế giới: chính sách tiền tệ có mục
tiêu tỷ giá hối đoái; chính sách tiền tệ có mục tiêu là khối lợng tiền tệ; chính sách
tiền tệ có mục tiêu lạm phát; chính sách tiền tệ có mục tiêu ngầm ẩn chứ không
công khai.
- Chính sách tiền tệ có mục tiêu tỷ giá hối đoái đã có một lịch sử lâu dài. Đó
là việc ấn định giá trị đồng nội tệ theo giá vàng hoặc gắn vào đồng tiền của một
quốc gia khác. Gần đây, ngời ta thờng sử dụng phơng pháp neo giá trị của đồng
nội tệ theo giá trị một ngoại tệ trong một biên độ nhất định. Phơng pháp này rất
đơn giản rõ ràng và dễ hiểu và tỷ lệ lạm phát dự kiến sẽ đợc kiểm soát thông qua
đồng ngoại tệ đợc chọn làm neo. Một số quốc gia đã sử dụng thành công chính
sách này nh Anh, Pháp (sau khi gắn đồng tiền của nó vào đồng Mark Đức. Tuy
nhiên nó cung có những mặt hạn chế nh làm mất đi tính độc lập của các chính
17