Đánh giá khả năng kết hợp và chọn lọc các tổ hợp lai cà chua triển vọng - Pdf 23

1
I. MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Cà chua (Lycopersicon esculentum Mill). Là một trong những loại rau phổ
biến, được trồng rộng rãi và ưa chuộng ở nhiều nước trên thế giới.
Cà chua là loại rau ăn quả có giá trị dinh dưỡng cao, trong quả chín có nhiều
đường, vitamin như: A, Bị, B
2
, E, c axit amin và chất khoáng quan trọng: Ca, p,
Fe (theo E.D Warr c. Tigchelaar), (1989).
Ớ nước ta, cây cà chua đã được trồng từ hàng trăm năm, cho đến nay cây cà
chua vẫn là loại rau ăn quả chủ lực được nhà nước ưu tiên phát triển. Trong “ Đề
án rau - quả - hoa cây cảnh thời kỳ 1999 - 2010”, được thủ tướng chính phủ phê
duyệt ngày 03 tháng 09 năm 1999, cà chua là một trong các đối tượng cây rau chủ
lực, vừa để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước vừa cung cấp nguyên liệu cho
các nhà máy chế biến cà chua xuất khẩu. Tuy nhiên ở nước ta vẫn còn nhiều hạn
chế:
- Vụ sản xuất chính là vụ đông xuân với thời gian thu hoạch sản phẩm tập
chung trong vòng 3 tháng (từ tháng 12 đến tháng 2), nên giá cà chua rẻ, sản xuất
không có lãi.
- Sản phẩm cà chua chủ yếu để ăn tươi và nấu chín nên nhu cầu không
lớn.
- Các nhà nghiên cứu đã tập chung đi sâu vào nghiên cứu chọn, tạo giống cà
chua thích hợp trồng trong vụ xuân hè, cùng với giống chất lượng có khả năng
chống chịu cao. Mặc dù đã thu được một số kết quả đáng chú ý, nhưng vẫn còn rất
ít so với nhu cầu thực tế.
- Để đáp ứng cho việc sản xuất cà chua, hàng năm chúng ta vẫn phải nhập
một lượng lớn hạt giống cà chua ăn tươi cũng như toàn bộ lượng hạt giống phù
hợp cho chế biến.
Do vậy, để góp phần làm phong phú thêm cho bộ giống cà chua hiện có và
2

người ta vẫn quan niệm là cà chua là một cây trồng độc hại vì nó có họ hàng với loại cà
độc dược.
Đầu thế kỷ thứ 18, các giống cà chua đã trở lên đa dạng và phong phú, nhiều vùng
đã trồng cà chua để làm thực phẩm. Cuối thế kỷ 18, cà chua mới được dùng làm thực
phẩm ở Nga và Italia.
Đến thế kỷ thứ 19 cà chua đã trở thành thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn
hàng ngày.
Những tiến bộ về dòng, giống cà chua là hoàn toàn dựa vào châu Âu. Năm 1863,
có 23 giống được giới thiệu và trong vòng hai thập kỷ, dòng, giống cà chua được phát
triển tới hàng mấy trăm giống.
Năm 1886, chương trình thử nghiệm của Liberty Hyde Bailey ở trường nông
nghiệp Michigan (Mỹ) đã tiến hành chọn lọc và phân loại giống cà chua trồng trọt. Từ
năm 1870 đến 1893 ông đã giới thiệu 13 giống cà chua trồng trọt được chọn lọc theo
phương pháp chọn lọc cá thể.
4
Quá trình chọn lọc và cải tiến giống được các nhà chọn giống thực hiện liên tục
không ngừng, đến nay giống cà chua đã trở lên phong phú và đa dạng, đáp ứng được nhu
cầu của người tiêu dùng trên thế giới.
2.2. Phân loại
Cà chua thuộc họ cà Solanacea, chi Lycopersicon Tour (2n=24).
Phân loại cà chua đã được nhiều các tác giả phân loại, nhưng sự phân loại của
Muller được sử dụng rộng rãi nhất cho đến nay. Theo Muller chi lycopersicon Tour được
phân làm hai chi phụ.
* Chi phụ eriopersicon: Chi này gồm các loài dại, cây dại một năm hoặc nhiễu
năm. Quả thường có lông, vỏ xanh hoặc vàng nhạt, có các vệt màu với các sắc tố
Anthocyanin, hạt nhỏ, chùm hoa có lá bao. Chi này gồm các chi phụ:
L.peruvianumm. Mill; L.cheesmanii; L.hirsutum; L.gỉandulosum.
* Chi phụ Eulycopersicon: thuộc dạng cây hàng năm, quả không có lông, khi chín
có màu đỏ hoặc đỏ vàng, hạt to, chùm hoa không có lá bao, trong nhóm này gồm hai
loài:

Năm
Diện tích (nghìn
ha)
Năng suất
(tấn/ha)
Sản lượng (nghìn
tấn)
2000
3.750,176 27,192 101.975,637
2001
3.745,229 26,770 100.259,346
2002
3.998,219 27,005 107.972,098
2003 4.188,389 27,921 116.943,619
2005 4.570,869 27,222 124.426,995
(Nguồn FAO - [25]
6
Qua bảng tổng kết cho thấy: Đến năm 2005 thì Trung Quốc vẫn luôn là nước đứng
đầu trên thế giới về diện tích và sản lượng cà chua, tiếp theo là Mỹ và Thổ Nhỹ Kỳ.
Có thể thấy rằng cà chua đang là mặt hàng nông sản được sản xuất chủ lực ở các
nước ôn đới và á nhiệt đới.
2.3.2 Tình hình nghiên cứu chọn tạo cà chua trên thê giới.
Việc chọn tạo giống cà chua đã có nhiều tiến bộ trong khoảng 200 năm trở lại đây.
Lịch sử công tác chọn tạo giống cà chua trên thế giới bắt đầu ỏ châu Âu, có lẽ người
Italia là những người đầu tiên phát triển các giống cà chua mới. Họ chọn các giống có sự
khác nhau về tính trạng quả, chủ yếu là màu sắc quả.
Năm 1836, 23 giống cà chua được giới thiệu. Chương trình thử nghiệm của Liberti
Hyde Bailey ở trường nông nghiệp Michigan (Mỹ) bắt đầu từ năm 1886 đã tiến hành
chọn lọc phân loại giống cà chua trồng trọt. A.w.Livingston là người Mỹ đầu tiên nhận
thức được việc phải chọn tạo giống cà chua. Từ năm 1870 đến năm 1893 ông đã giới

kiểu gen ngay từ bản thân các giống - từ các đột biến tự nhiên, lai tự do hoặc tái tổ hợp
bản thân các biến thể di truyền đang tồn tại trong tự nhiên. Hàng loạt các tính trạng di
truyền đơn giản được chú ý trong quá trình cải tiến giống và thay đổi kỹ thuật trồng nhờ
phát hiện đột biến tự nhiên - gen sp - là gen xác định tập tính sinh trưởng hữu hạn ở
giống Florida vào năm 1914 và được dùng trong lai tạo với mục đích giảm bớt công lao
động cho việc tỉa cành. Vào những năm 1970, hàng loạt giống cà chua mới có đặc điểm
sinh trưởng hữu hạn, thấp cây, cây gọn, chín sớm, chín tập trung và thích hợp cho thu
hoạch bằng máy ra đời làm tăng mật độ, diện tích và năng suất cà chua. (Tigchelaar
E.C).
Ngoài các phương pháp chọn tạo thông thường, nhiều dòng, giống cà chua được
tạo ra từ các xử lý đột biến: xử lý bằng dung dịch hoá học (Q1SO4 (0.2%), axit Boric
(0.02%), Coĩchisin (0.01%)), các tác nhân vật lý (tia cực tím, tia lazer (10' với
E=0.02VT/cm
3
)) đã tạo sự thay đổi cấu trúc quần thể phân ly bằng cách kích thích sức
sống của hạt Fj. Việc xử lý băng tia cực tím với liều lượng không cao cũng làm tăng men
hạt phấn, tăng nhanh sự nảy mầm ở điều kiện invitro. Tia Rơnghen ở liều lượng 8-80r
cũng có tác dụng kích thích lên hạt phấn làm tăng sức sống của con lai F, khác loài lên
10-12%.
Ớ các nước vùng nhiệt đới, năm 2001 AVRDC đã tiến hành một số thí nghiệm đối
với giống lai và giống thuần cà chua song một vấn đề lớn gây trở ngại với cà chua vùng
nhiệt đới là chính là bệnh héo xanh vi khuẩn {Pseudomonas solanacearum) (AVRDC
report 2001). Họ đã tiến hành 2 thí nghiệm: Thí nghiệm 1 gồm các giống thuần có khả
năng kháng bệnh héo xanh vi khuẩn và thí nghiệm 2 là các giống lai kháng héo xanh vi
khuẩn và virus xoăn lá để từ đó tìm ra được một số giống có khả năng phát triển tốt cho
vùng nhiệt đới như: CLN2396B, CLN2396C, CLN2396D, CLN2400A, CLN2400B và
các giống: PT4755, PT4767, PT4733 được khuyến cáo là các giống có bố mẹ kháng
8
Virus xoăn lá, giống CLN 2443 DC-B-7 là giống chịu được vius xoăn lá và héo xanh vi
khuẩn, năng suất của nó đạt 101-118 tấn/ha.

một công cụ hữu ích trong ngành sinh học quả, vì nó sẽ có ích khi phân tích cấu trúc gen
của quả, những gen có thể ảnh hưởng đến quá trình phát triển của quả.
Ngày nay, nhiều nghiên cứu ưu thế lai F,, ưu tiên dạng vô hạn, tiếp đến bán hữu
hạn và hữu hạn. Chọn giống cà chua năng suất cao, phục vụ ăn tươi chế biến, chống chịu
được vius xoăn lá và bệnh héo xanh vi khuẩn. Hàng năm trên thế giới, nhiều công ty hạt
giống của Mỹ, Nhật, Pháp, Hà Lan đã giới thiệu nhiều giống lai Fị có năng suất cao,
phẩm chất tốt, chống chịu sâu bệnh và các điều kiện bất lợi của môi trường.
Hiện nay Trung Quốc là nước đã có nhiều thành tựu trong lĩnh vực này, các
giống cà chua lai (Fl) đã chiếm tới 80-85% giống trồng trong sản xuất. Tạo giống lai mới
có năng suất cao, chất lượng tốt, sản phẩm đa dạng phục vụ ăn tươi và chế biến là mục
tiêu hàng đầu của các nhà khoa học Trung Quốc. Tại Trung tâm rau Bắc Kinh (BVRC),
trong thập kỷ 80-90 thế kỷ trước đã tạo được 5 giống cà chua lai (Fl): giống Jiafen Nol
(1980), Jiafen No2 (1982), Jiafen NolO, Jiafen Nol5 (1990), Shuang Kang No2 (1989).
Các giống này đang giữ vai trò chủ lực trồng cho trên 20 tỉnh với quy mô 24.000
ha/năm, năng suất 60-90 tấn/ha, quả to tròn , chín đỏ, đẹp có khả năng chống bệnh virus
(TMV, CMV) khá.
Trung tâm rau Châu á (AVRDC) tại Đài Loan, trong 2 năm 2002, 2003 đã nghiên
cứu đánh giá 8 giống cà chua quả nhỏ (cherry tomato), như: CLN2545, CLN254DC
năng suất 15 tạ/ha, 20 giống cà chua chất lượng cao phục vụ chế biến (Processing
tomato) như: CLN2498-68, CLN2498-78 , năng suất đạt >55 tấn/ha và 9 giống cà chua
phục vụ ăn tươi, nấu chín như: Taoyuan, Changhua, Hsinchu2 năng suất đạt trên 70
tấn/ha. Tất cả các giống cà chua triển vọng trên đều là giống lai (hybrid).
2.4. Tình hình nghiên cứu chọn tạo và sản xuất cà chua ở Việt Nam.
2.4.1. Tình hình sản xuất cà chua của Việt Nam
Việt Nam, một đất nước có khí hậu, thời tiết thuận lợi, đất đai phù hợp cho sự phát
triển của các loại rau, trong đó có cà chua.
10
Qua kết quả số liệu thống kê năm 2006 ta thấy: Năng suất cà chua trong 6 năm qua
là thấp và không ổn định nhưng do diện tích trồng tăng liên tục nên sản lượng vẫn tăng.
So với năng suất trung bình của thế giới thì còn thấp chỉ đạt khoảng 60- 65%. Diện tích

2003
21,628
164,1 354, 846
2004 24, 644 172,1 424, 126
2005 23,354 198,0 462, 435
(Trích sô liệu của tổnẹ cục thống kê 2006)
11
Cà chua là một trong những loại rau quan trọng và đa dụng: Sản phẩm được sử
dụng để ăn tươi, chế biện công nghiệp và xuất khẩu tươi. Để đáp ứng yêu cầu trên, giống
cà chua chọn tạo ra phải đạt năng suất cao, độ Brix > 4,5% và độ cứng tốt, có thể trồng
trái vụ.
Nghiên cứu chọn tạo cà chua có những phương pháp:
* Thu thập nguồn vật liệu khởi đầu: Là các giống địa phương, các loài hoang dại, các
giống nhập nội từ khắp nơi trên thế giới.
Đến nay chúng ta đã thu thập được 717 mẫu giống cà chua được lưu trữ tại Viện
NCRQ, viện CLT & CTP, Viện DTNN và tại trường ĐHNNI.
* Chọn lọc cá thể nhiều lần để thuần hoá giống và chọn dòng thuần từ tập đoàn nhập
nội.
* Chọn giống mới bằng phương pháp lai hữu tính để tạo ra con lai kết hợp được những
ưu điểm của cả bố và mẹ.
Trong những năm gần đây, các nhà khoa học Việt nam (Viện Rau quả, Viện cây
Lương thực và cây thực phẩm, Viện Di truyền, Trường ĐHNN I ) đã lai tạo và tạo ra
rất nhiều giống cà chua lai mới có triển vọng, năng suất cao, chất lượng quả tốt, chống
chịu được sâu bệnh, đáp ứng được nhu cầu sản xuất và tiêu thụ.
Phương pháp này đang được áp dụng rất phổ biến ở hầu hết các loại cây trồng, và
cũng không phải ngẫu nhiên mà các nhà khoa học về sinh học đã cho rằng thế kỷ 21 là
thế kỷ của sinh vật học, trong đó các giống cây trồng và vật nuôi ưu thế lai chiếm vị trí
tuyệt đối trong sản xuất nông nghiệp.
* Có thể tạo giống bằng phương pháp hoá học và vật lý để gây đột biến, tuy nhiên
phương pháp này khá tốn kém và thao tác khó thành công.

tạo. Là giống lai được công nhận quốc gia vào năm 1999.
- Giai đoạn từ năm 2000 đến nay:
Các nghiên cứu chọn tạo giống phục vụ cho chế biến và nghiên cứu để chọn tạo ra
những giống chống chịu đế trồng trái vụ.
Bằng phương pháp sử dụng ưu thế lai, Nguyễn Hồng Minh, Kiều Thị Thư đã
nghiên cứu và chọn ra được giống HT7. Tại hội nghị khoa học Bộ Nông nghiệp và Phát
13
triển nông thôn họp tháng 9/2000. Giống HT7 có đặc điểm: Khả năng chịu nóng cao,
trồng được nhiều vụ trong năm, thấp cây, Thời gian sinh trưởng 110-120 ngày, thu quả
sớm sau trồng 60-65 ngày, có 30-35 quả/cây, khối lượng trung bình quả 65-70 gam, tròn
cao, chín đổ tươi, độ Brix 4,8-5,0%. Năng suất đạt 45-55 tấn/ha vụ đông, 32- 40 tấn/ha
vụ xuân hè (Nguyễn Hồng Minh, Kiều Thị Thư, 2006).
Từ một tập đoàn cà chua quả nhỏ thu thập từ năm 1990 - 1994 gồm 17 mẫu giống
có nguồn gốc từ Thái Lan, Nhật Bản, Đài Loan. Qua khảo nghiệm, chọn lọc ở các vụ
Đông Xuân, vụ Xuân hè đã chọn được giống VR2, giống đã được công nhận là giống
tiến bộ vào tháng 11/2000.
Sau nhiều năm nghiên cứu, lai tạo, tuyển chọn và trồng thử nghiệm ở nhiều địa
phương, các nhà khoa học của Việt Nam đã đưa ra một số giống cà chua mới có triển
vọng được Hội đồng KHCN của Bộ NN & PTNT đã công nhận và cho phép đưa vào sản
xuất. Giống lai F1 PT18 là giống cà chua được Viện nghiên cứu Rau quả tạo ra bằng
phương pháp chọn lọc cá thể qua nhiều thế hệ trong nhiều năm từ dòng cà chua
CLN2026D có nguồn gốc từ AVRDC, đến nay đã thu được giống ổn định về di truyền,
đáp ứng nhu cầu chế biến công nghiệp và thích ứng với điều kiện canh tác ở từng vùng
sinh thái ở nước ta, đến năm 2004 đã được Hội đồng KH Bộ Nông nghiệp và PTNT
công nhận là giống quốc gia.
Giống C95 được Viện Cây lương thực và cây thực phẩm chọn ra bằng phương
pháp chọn lọc dòng từ tổ hợp lai NN325 X số 7 trong thời gian 13 năm (1991 - 2003). Đã
thu được giống ổn định về đặc tính sinh học và kinh tế, đến năm 2004 được Bộ Nông
nghiệp và PTNT công nhận là giống quốc gia.
Ở giai đoạn 2001- 2005/2006 PGS.TS. Nguyễn Hồng Minh thuộc Trường ĐHNN ĩ

vật thử các dòng đem lai với nhau để xác định tổ hợp lai tốt nhất, từ đó đã xác định được
giống cà chua lai số 9 và lai số 4 có tính trội hơn hẳn so với bố mẹ và đối chứng. Giống
cà chua lai số 9 đã được Hội đồng KH của Bộ Nông nghiệp & PTNT công nhận là giống
tạm thời năm 2005.
15
Vụ đông xuân 1999, từ các dòng đánh giá các con lai, phát hiện ra con lai VT3 của
tổ hợp lai (15 X VX3) cho kết quả tốt nhất, đến năm 2004 giống VT3 đã được Hội đồng
KH Nông nghiệp và PTNT công nhận là giống tạm thời.
12 dòng cà chua với đặc tính chống chịu bệnh héo xanh vi khuẩn từ Trung tâm Rau
thế giới được đánh giá so sánh vào năm 2000. Giống CLN1462A được đặt tên là CHX1
đã được Hội đồng KH Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận là giống tạm thời năm 2002.
Bảng 2.4. Những giống cà chua chọn tạo bằng phương pháp khác nhau
16
nghệ nhăn giống và kỹ thuật thâm canh một số giống rau chủ yếu ” — Viện nghiên
cứu Rau Quả.
Do điều kiện khí hậu nước ta còn khắc nghiệt cho nên việc chú trọng nghiên
TT Tên giống
Cơ quan
chọn tạo
Con
đường
chọn tạo
Năng suất
(tấn/ha)
Cá thể
trồng
trong vụ
Chống
chịu
Mức độ trong

ĐX: 55-60
XH: 42-44
Chính
vụ
Chống sương
mai
Giống tạm
thời
4 CHX1 VNCRQ
Chọn lọc
giống từ
tập đoàn
nhập nội.
ĐX: 60-70
XH: 42-45
Xuân hè
Héo xanh vi
khuẩn,chịu
nhiệt
Giống tạm thời
2002.
Nhóm cà chua chế biến
5 PT18 VNCRQ
Chọn lọc
giống
thuần từ
tập đoàn
nhập nội
ĐX: 44-50
XH: 30

Giống tạm thời
năm 2005
8 Lai số 4 VNCRQ
u’u thế lai
F1
ĐX: 55-60
XH: 35-40
Thu
đông
Chống
virus
Mô hình sản
xuất diện rộng
9 VT3
VCLT-
CTP
Ưu thế lai
F1
TĐ 43 ĐX:
60 XH: 30
Thu
đông
Sương mai,
đốm lá, héo

Giống tạm thời
năm 2004
1
0
HT21 ĐHNNỈ

lượng cao, nhằm mở rộng các sản phẩm tiêu dùng phục vụ cho nhu cầu ngày càng
tăng và đa dạng ở trong nước và xuất khẩu. Chỉ có như vầy chúng ta mới tạo ra
được bước đột phá mới trong phát triển sản xuất cà chua ở nước ta.
18
III. NỘI DUNG, VẬT LIỆU
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
3.1. Nội dung nghiên cứu
a) Thí nghiệm 1: Đánh giá khả năng kết hợp của các dòng cà chua vụ thu đông.
b) Thí nghiệm 2: Đánh giá các tổ hợp lai cà chua vụ xuân hè.
3.2. Vật liệu nghiên cứu
- Vật liệu thí nghiệm 1: Bao gồm 51 tổ hợp lai cà chua từ hệ thống lai đỉnh
giữa 17 dòng nghiên cứu với 3 dòng thử.
- Vật liệu thí nghiệm 2: Bao gồm 12 tổ hợp lai chọn lọc từ thí nghiệm 1 và
đối chứng.
3.3. Địa điểm nghiên cứu
- Thí nghiệm được bố trí tại khu thí nghiệm khoa Nông học trường Đại học
Nông nghiệp I.
3.4. Phưưng pháp
nghiên cứu Bô trí thí
nghiệm:
Được chia làm 2 thí nghiệm:
- Thí nghiệm 1: Đánh giá 51 tổ họp lai và đối chứng, bố trí theo phưong pháp
khảo sát không nhắc lại.
- Thí nghiệm 2: Đánh giá các tổ hợp lai vụ xuân hè 2008, bao gồm 12 tổ hợp
và bố trí ngẫu nhiên 3 lần nhắc lại.
Tổng số 39 ô thí nghiệm,
(I)
lo.
I» C259

55
lo,
C259
Cọ 60
B01
BQ6
Dải bảo vệ
(III)
Dải
bảo
vệ
(II)
Dái báo vệ
19
Sơ đồ thí nghiệm 2
3.5. Kỹ thuật trồng trọt
3.5.1. Thòi vụ
- Vụ thu đông: Gieo hạt 18/8, trồng ra ruộng 18/09/2007.
- Vụ xuân hè: Gieo hạt 28/01, trồng ra ruộng 02/03/2008.
3.5.2. Vườn ươm
- Chọn đất: Chọn vùng thịt nhẹ, thoát nước và tưới tiêu tốt, đủ ánh sáng, PH trung
tính, giao thông thuận tiện.
- Làm đất: Đất được làm tơi xốp, dọn sạch cỏ dại.
- Chuẩn bị hạt giống: Chọn hạt mẫu giống có tỷ lệ nảy mầm cao >80%.
- Chăm sóc vườn ươm.
3.5.3. Giai đoạn trồng ra ruộng sản xuất
Sau khi trồng cần tưới nước mỗi ngày 2 lần (sáng/chiều), đảm bảo cho cây hồi
xanh trong tuần đầu, sau đó tuỳ từng điều kiện thời tiết mà có lượng nước tưới và cách
tưới khác nhau.
- Làm đất: Thí nghiệm được trồng trên đất thịt nhẹ, cày bừa kỹ và sạch cỏ.

21
- Số đốt từ gốc đến chùm hoa thứ nhất.
- Chiều cao từ gốc tới chùm hoa thứ nhất.
- Chiều cao cây.
3.6.3. Một sô tính trạng hình thái và đặc điểm nở hoa
- Màu sắc lá
- Đặc điểm nở hoa
- Dạng chùm quả
3.6.4. Tỷ lệ đậu quả, các yếu tô cấu thành năng suất
- Tỷ lệ đậu quả
- Số chùm quả/cây
- Số quả/cây, xác định tổng số quả/cây.
Trong đó: Tổng số nhóm quả lớn: NI Tổng
số nhóm quả nhỏ: N2
- Khối lượng trung bình quả
Nhóm quả lớn: P1
Nhóm quả nhỏ: P2
- Năng suất cá thể NSCT =
N1P1 + N2P2
- Năng suất quả/ô thí nghiệm
3.6.5. Tình hình nhiễm sâu bệnh ngoài đồng ruộng
- Tình hình nhiễm virus
- Một số loại sâu bệnh hại khác
3.6.6. Đặc điểm về cấu trúc hình thái quả
- Màu sắc vai quả khi xanh
- Màu sắc quả chín
- Hình dạng quả
I=h/d
22
Trong đó: h là chiều cao cây d là

1
AI 44 53 92 97
2
A2 42 52 92 97
3 A3 42 53 93 99
4 A4 43 51 95
100
5 A5 42 53 95 99
6
A6 42 53 92 96
7 A7 44 53 91 96
8
A8 41 53 89 93
9 A9 42 53 89 97
10
A10 41 50 90 95
11
All 40 50 89 95
12
A12 43 53 93 99
13 A13 43 53 91 98
14 A14 40 53 94 99
15 A15 44 52 95
101
16
A16 41 52 93 97
17 A17 40 51 90 95
18
El 49 55 98 105
24

32 E15 41 50 92
106
33 E16 46 54 97
100
34 E17 47 55 97
101
35 II 44 52 92 97
36
12
46 52 97
101
37 13 43 49 92 99
38 14 49 58
101
lio
39 15 49 55 103
112
40
16
44 48 91 96
41 17 46 52 97
101
42
18
41 50
88
95
43 19 41 48 93 98
44
no

tới ra hoa ngắn nhất là All , A14, A17 (40 ngày), ngắn hơn giống đối chứng là 1
ngày.
4.1.2. Thời gian từ trồng đến đậu quả
Theo Kuo và cs (1998), sự thụ phấn có thể kéo dài 2-3 ngày trước khi hoa nở
cho đến 3-4 ngày sau khi hoa nở. Thời gian từ trồng đến ra hoa và từ trồng và từ
trồng đến đậu quả có tương quan chặt chẽ với nhau, tổ hợp nào ra hoa sớm thì đậu
quả sớm và ngược lại.
Kết quả nghiên cứu thí nghiệm cho thấy: Các tổ hợp lai có thời gian từ trồng
đến đậu quả dao động từ 48-58 ngày. Trong đó tổ hợp lai có thời gian từ trồng đến
đậu quả ngắn nhất là E3,16,19,117 (48 ngày sau trồng) ngắn hơn so với giống đối
chứng HT7 là 1 ngày, tổ hợp lai có thời gian từ trồng đến đậu quả dài nhất là E5
(58 ngày sau trồng) dài hơn so với HT7 là 9 ngày.
4.1.3. Thời gian từ trồng đến bắt đầu chín
Sau khi đậu quả, cây cà chua sẽ tập chung tích luỹ dinh dưỡng để phát triển
quả. Ớ giai đoạn chín trong quả cà chua diễn ra quá trình biến đổi các hợp chất hữu
cơ và tạo ra các hợp chất đặc trưng cho từng giống.
Trong thời gian này nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn. Nhiệt độ thích họp cho quả
chín từ 22 - 24°c, nhiệt độ chênh lệch ngày đêm là 10 - 12°c, ẩm độ thích hợp là
80%.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status