Tình trạng dinh dưỡng và phát triển tâm vận động trẻ dưới 6 tuổi tại phường Trần Hưng Đạo thành phố Phủ Lý Hà Nam năm 2012 - Pdf 23



NGUYỄN THỊ THU HÀ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ PHÁT TRIỂN TÂM
VẬN ĐỘNG CỦA TRẺ EM DƯỚI 6 TUỔI TẠI
PHƯỜNG TRẦN HƯNG ĐẠO THÀNH PHỐ
PHỦ LÝ – HÀ NAM NĂM 2012 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA
KHÓA 2007 - 2013 HÀ NỘI – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn: Ban giám hiệu, Phòng đào tạo
Đại học, Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng Trường Đại học Y
Hà Nội đã tạo điều kiện để tôi được học tập và bảo vệ thành công khóa luận.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng cảm ơn
PGS.TS. Lê Thị Hương, Phó Viện trưởng Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y
tế công cộng, Phó trưởng Bộ môn Dinh dưỡng và An toàn thực phẩm, cô đã
trực tiếp hướng dẫn, nhiệt tình giảng dạy, cung cấp những kiến thức khoa
học, tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Thạc sĩ Nguyễn Thùy Linh đã có những góp
ý hữu ích giúp tôi thực hiện khoá luận này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Bộ môn Dinh dưỡng
và An toàn thực phẩm, đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài.
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các cán bộ y tế phường Trần Hưng Đạo
Thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi nghiên cứu
và hoàn thành khóa luận.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc tới bố mẹ, anh chị của tôi,
những người luôn sát cánh bên tôi, chia sẻ cho tôi những điều bổ ích. Con
đặc biệt cám ơn bố, bố đã giảng giải cho con rất nhiều trong khóa luận này.
Xin chân thành cám ơn những người bạn thân mến đã chia sẻ, giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu dưới mái trường thân yêu này.

Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Sinh viên

Nguyễn Thị Thu Hà
SDD
TVĐ
UNICEF
VDD
WHO
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
Chiều cao theo tuổi
Cân nặng theo chiều cao
Cân nặng theo tuổi
Cộng sự
Chỉ số phát triển tâm vận động
Chỉ số thông minh
Kế hoạch hóa gia đình
Suy dinh dưỡng
Tâm vận động
Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc
Viện dinh dưỡng
Tổ chức y tế thế giới



3.2.2 Cân nặng, chiều cao tại thời điểm điều tra 26
3.2.3 Tỷ lệ suy dinh dưỡng các thể tại thời điểm điều tra 27
3.2.4 Tỷ lệ thừa cân tại thời điểm điều tra 29
3.3 Phát triển tâm vận động (TVĐ) 30
3.3.1 Phát triển TVĐ ở khu vực 1 (cá nhân – xã hội) 30
3.3.2 Phát triển tâm vận động khu vực 2(vận động tinh tế và thích ứng) 31
3.3.3 Phát triển TVĐ khu vực 3 (ngôn ngữ) 32
3.3.4 Phát triển tâm vận động ở khu vực 4 (vận động thô sơ) 33
3.3.5 Mức độ phát triển chung của 4 khu vực 34
3.3.6 Đánh giá chỉ số phát triển tâm vận động (DQ) 34
3.4 Mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng và tâm vận động của trẻ 35
3.4.1 Mối liên quan giữa tình trạng suy dinh dưỡng các thể và phát triển tâm
vận động của trẻ 35
3.4.2 Mối liên quan giữa tình trạng thừa cân và mức độ phát triển tâm vận
động ở 4 khu vực 39
Chương 4 BÀN LUẬN 40
4.1 Tình trạng dinh dưỡng 40
4.2 Sự phát triển tâm vận động (TVĐ) 43
4.3 Mối liên quan giữa mức độ phát triển tâm vận động và tình trạng dinh
dưỡng 48
KẾT LUẬN 50
KHUYẾN NGHỊ 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phụ lục 1 – PHIẾU PHỎNG VẤN
Phụ lục 2 – TEST DENVER II
DANH MỤC BẢNG

Biểu đồ 3.3 - Tỷ lệ suy dinh dưỡng các thể theo các mức độ 27
Biểu đồ 3.4 - Tỷ lệ SDD các thể theo giới 27
Biểu đồ 3.5 - Mức độ phát triển khu vực cá nhân xã hội theo các nhóm tuổi 30
Biểu đồ 3.6 - Mức độ phát triển khu vực vận động tinh tế và thích ứng 31
Biểu đồ 3.7 - Mức độ phát triển khu vực ngôn ngữ theo các nhóm tuổi 32
Biểu đồ 3.8 - Mức độ phát triển khu vực vận động thô theo các nhóm tuổi 33
Biểu đồ 3.9 - Mức độ phát triển tâm vận động đánh giá theo chỉ số DQ 34 1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Trẻ em là mầm non, là tương lai và là niềm hy vọng của toàn thể nhân
loại. Sự phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần của trẻ em ngày hôm nay sẽ
là sự hứa hẹn tốt đẹp cho sự phát triển của xã hội sau này.
Giai đoạn từ lúc lọt lòng đến 6 tuổi là một quãng đời có tầm quan trọng
đặc biệt trong quá trình phát triển chung của trẻ. Đây là thời kì tăng trọng
lượng nhanh nhất trong cuộc đời trẻ, nhiều hệ thống cơ quan trong cơ thể
được hoàn chỉnh đặc biệt là hệ thống thần kinh trung ương và hệ vận động
của trẻ [22] [30]. Việc đánh giá tình trạng sức khoẻ, dinh dưỡng và phát triển
tâm lý, vận động cho trẻ là cần thiết hơn cả. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng
có ý nghĩa quan trọng trong việc xem xét có đáp ứng đủ dinh dưỡng cho sự
phát triển của trẻ hay không, còn đánh giá sự phát triển tâm vận động (TVĐ)
của trẻ nhằm giúp cho sớm nhận định được các mức độ phát triển của trẻ cả
về thể chất và tinh thần, từ đó tìm ra cách giải quyết thích hợp và kịp thời để
trẻ phát triển tốt hơn trong những năm sau.
Hiện nay, theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, các nước đang phát
triển có khoảng 500 triệu trẻ em bị thiếu dinh dưỡng và hàng năm có 12,9
triệu trẻ chết vì bệnh tật như viêm phổi, ỉa chảy, ho gà, trong đó suy dinh
dưỡng là nguyên nhân trực tiếp chiếm tới 50% [21]. Theo số liệu thống kê của

Hưng Đạo Thành phố Phủ Lý Hà Nam năm 2012.
2. Đánh giá sự phát triển tâm vận động ở những trẻ này bằng test Denver II.

3

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về dinh dưỡng:
1.1.1 Một số khái niệm về dinh dưỡng:
 Dinh dưỡng:
Là tình trạng cơ thể được cung cấp đầy đủ, cân đối các thành phần dinh
dưỡng, đảm bảo cho sự phát triển toàn vẹn, tăng trưởng của cơ thể để đảm
bảo chức năng sinh lý và tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội [15].
 Tình trạng dinh dưỡng:
Là tập hợp các đặc điểm về chức phận, cấu trúc và hóa sinh, phản ánh
mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể.
Tình trạng dinh dưỡng là kết quả tác động của một hay nhiều yếu tố
như: tình trạng an ninh thực phẩm hộ gia đình, thu nhập, điều kiện vệ sinh
môi trường, công tác chăm sóc trẻ em, gánh nặng công việc lao động của bà
mẹ…
Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào
và tình trạng sức khoẻ. Khi cơ thể có tình trạng dinh dưỡng không tốt (thiếu
hoặc thừa dinh dưỡng) là thể hiện có vấn đề về sức khoẻ hoặc dinh dưỡng
hoặc cả hai [15].
 Suy dinh dưỡng:
Là tình trạng cơ thể thiếu protein, năng lượng và các vi chất dinh
dưỡng. Bệnh hay gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi, biểu hiện ở nhiều mức độ khác
nhau, nhưng ít nhiều ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, tinh thần và vận
động của trẻ.
Tùy theo sự thiếu hụt các chất dinh dưỡng mà suy dinh dưỡng biểu hiện

/Tuổi
Cân nặng/Chiều cao
<-2: SDD thể nhẹ cân
<-3: SDD thể nhẹ cân
nặng

<-2: SDD thể thấp còi
<-3: SDD thể thấp còi
nặng
>2: Thừa cân
>3: Béo phì
<-2: SDD thể còm
<-3: SDD thể còm nặng
5

1.1.2 Thực trạng suy dinh dưỡng hiện nay:
 Thực trạng suy dinh dưỡng trên thế giới:
Trên thế giới, tỷ lệ SDD thấp còi năm 1985 là 51,5%, năm 1990 là
56,5%, năm 1994 là 44,9%, hiện nay là 31,9% (năm 2009) [16] [31] [32] [36].
Theo báo cáo của UNICEF, hiện nay thế giới có khoảng 146 triệu trẻ em dưới
5 tuổi được xem là thiếu cân, phần lớn tập trung ở châu Á, châu Phi và châu
Mỹ La tinh.
Tại Nam Á, Bangladesh, Ấn Độ và Pakistan, số trẻ thiếu cân chiếm 1/2
tổng số trẻ thiếu cân của thế giới. Riêng tại Ấn Độ, khoảng 47% trẻ dưới 5
tuổi bị thiếu cân [16] [31] [32] [36].
Ở Đông và Nam Phi, nơi nạn đói thường xuyên xảy ra, có 29% trẻ bị
thiếu ăn. Tại Đông Á, Trung Quốc, số trẻ thiếu cân giảm 6,7% mỗi năm kể từ
năm 1990, tuy nhiên ở các nước khác trong khu vực, tình hình vẫn diễn biến
rất chậm [16] [31] [32] [36].
Đầu những năm 90, các chuyên gia Ngân hàng Thế giới đã dự đoán vào

2010 - 2011 tại 63 tỉnh thành với gần 100 000 trẻ dưới 5 tuổi cho thấy tỷ lệ
SDD thể nhẹ cân còn ở mức 16,8%, nhưng tỷ lệ SDD thể thấp còi là 27,5%
[6] [16] [21] [28]. Vì vậy, vấn đề SDD đặc biệt là SDD thấp còi cần phải
được chú trọng hơn.
7 Biểu đồ 1.1 - Số liệu thống kê về tình trạng dinh dưỡng trẻ em qua các
năm (1999 - 2011) – Nguồn: Viện Dinh dưỡng quốc gia
Tỷ lệ SDD có sự chênh lệch giữa các khu vực, các tỉnh. Những vùng có tỷ
lệ SDD cao là Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ, vùng núi và Trung du phía Bắc (trên
30%). Tỷ lệ SDD thấp là ở Thành phố Hồ Chí Minh (6,8%), Đà Nẵng (7,8%),
Hà Nội (10,8%), trong khi có một số vùng có tỷ lệ SDD cao trên 20% như Nghệ
An, Lai Châu, Lào Cai, Đắc Lắc, Gia Lai, Quảng Bình… [6] [16] [21] [28].
Bên cạnh những cố gắng giảm suy dinh dưỡng, Việt Nam cũng đang
phải đối phó với tình trạng trẻ em dưới năm tuổi bị thừa cân, béo phì. Đến
cuối năm 2009, cả nước đã có 4,8% số trẻ dưới năm tuổi bị thừa cân béo phì,
tăng 6,2 lần so với năm 2000. Tình trạng thừa cân, béo phì mới xuất hiện
nhưng đang tăng nhanh ngay cả ở những vùng nông thôn (từ 2,2% năm 2005
lên 4,2% năm 2009) [3]. Đây cũng là một báo động cho ngành dinh dưỡng
Việt Nam hiện nay.
8

1.2 Tổng quan về sự phát triển tâm vận động.
1.2.1 Đặc điểm sự phát triển tâm vận động trong các giai đoạn:
Sự phát triển của tâm lý diễn ra trên cơ sở sự phát triển về giải phẫu và
sinh lý [22] [33], đặc biệt là trên cơ sở sự phát triển của não bộ và của hệ thần
kinh.
Trẻ em phát triển qua 6 giai đoạn [24] [35]:
 Giai đoạn bào thai.

Giai đoạn từ 1 - 3 năm là giai đoạn rất đặc biệt. Đây là giai đoạn tiểu
não dần dần hoàn thiện chức năng. Điều này thấy rõ qua mối quan hệ của trẻ
với thế giới xung quanh và xã hội loài người được thay đổi về cơ bản cùng
với sự phát triển của vận động đi lại và tiếng nói. Việc tự đi lại cho phép trẻ
làm quen một cách toàn diện với các sự vật, hiện tượng xung quanh nó, còn
sự phát triển tiếng nói của trẻ giúp trẻ khả năng tiếp xúc nhiều hơn với người
lớn. Hành vi của trẻ 2 - 3 tuổi thể hiện rất rõ bằng hoạt động tìm tòi, lôi cuốn
chúng đến với mọi đồ vật, chạm, sờ, đẩy, cầm lấy chúng [14] [24].
Đặc điểm hoạt động tư duy của trẻ ở năm thứ hai thay đổi rất rõ, tuy
các kích thích phức hợp vẫn còn tác dụng, nhưng đã khác về chất. Trẻ đã bắt
đầu biết tách các thành phần của các kích thích xuất phát từ một đối tượng –
xuất hiện hình ảnh của từng đối tượng. Các hiện tượng của môi trường bên
ngoài đối với trẻ ở năm thứ hai đã có được đặc điểm mới. Từ thế giới tổng
quát không phân chia xung quanh của trẻ, bắt đầu xuất hiện từng đối tượng
riêng rẽ. Sự tiến bộ to lớn này trong việc phân tích môi trường bên ngoài chỉ
có thể diễn ra nhờ tác dụng của các dấu vết do các đối tượng gây ra trong não
của trẻ [14]. Dần dần ở trẻ được hình thành hệ thống hành động thích đáng
đối với các đối tượng khác nhau: Trẻ ngồi lên ghế, dùng thìa xúc thức ăn,
10

uống nước từ chén Nhờ tác động qua lại giữa trẻ với các đối tượng mà hình
thành được các chức năng khái quát - nét hoạt động đặc biệt của não người.
Cũng vào thời điểm này (khoảng 2 - 3 tuổi) tiếng nói của trẻ bắt đầu
phát triển nhanh. Tiếng nói trở thành tín hiệu có ưu thế khi nó tác động lên
các thụ cảm thể thính giác. Sang năm thứ 3 trẻ có thể nói lại và nhớ dễ dàng
những từ mới do người lớn nói ra ngay cả trong những trường hợp trẻ chưa
hiểu ý nghĩa của từ đó. Từ 2,5 đến 3 tuổi, vốn ngôn ngữ của trẻ không những
chỉ gồm những từ riêng rẽ hay những thành ngữ, mà có cả những câu được
đặt ra trong quá trình phát triển ngôn ngữ và là những liên hợp khác nhau của
những từ ngữ đã quen biết trước đó, với việc sử dụng các giới từ, động từ và

Bạch Mai. Năm 1990 tác giả đã viết một tài liệu khá đầy đủ về cách sử dụng
trắc nghiệm này [7]. Quách Thuý Minh và CS đã áp dụng trắc nghiệm Denver
I đánh giá sự phát triển tâm vận động của trẻ em tại một số nhà trẻ mẫu giáo
nội thành Hà Nội [19] [20]. Nguyễn Thị Yến, Lê Nam Trà, Hàn Nguyệt Kim
Chi đã áp dụng trắc nghiệm Denver I đánh giá sự phát triển tâm vận động của
99 trẻ em dưới 5 tuổi tại Hà Nội và Hà Tây [4].
Từ năm 2000, Khoa Tâm thần, Bệnh viện Nhi Trung ương tiếp tục
nghiên cứu và chuẩn hoá thành test Denver II và từ đó đến nay đã có nhiều
đơn vị khác trong nước tiếp tục triển khai thực hiện. Test Denver II có một số
thay đổi và điều chỉnh so với Test Denver I cho phù hợp với môi trường và
văn hoá Việt Nam và bao gồm nhiều mục hơn (Test Denver I: 105 tiết mục;
Test Denver II: 125 tiết mục). Test Denver II được thiết kế để sử dụng tốt trẻ
cho em độ tuổi sơ sinh đến 6 tuổi và được tổng kết qua đánh giá hành vi của
trẻ trên một loạt những kỹ năng được thiết kế phù hợp với lứa tuổi. Test này
thường được sử dụng trong việc theo dõi những triệu chứng của trẻ để phát
12

hiện ra vấn đề, trong việc xác thực những nghi ngờ bằng trực giác có thể dùng
test để đo và trong việc giám sát những vấn đề xấu trong sự phát triển của trẻ,
cũng như những vấn đề ở những người đã trải nghiệm nhưng khó khăn trong
thời kỳ chu sinh [1].
Mục đích của trắc nghiệm: Nhằm tiêu chuẩn hóa một phương pháp
đánh giá sự phát triển tâm vận động để có thể phát hiện sớm các trạng thái
chậm phát triển ở trẻ em trước tuổi đi học. Trắc nghiệm chủ yếu là vận dụng
các tiêu chuẩn bình thường đã biết, sắp xếp các tiêu chuẩn đó vào một hệ
thống chung để tiến hành, dễ nhận định, dễ đánh giá và tiện làm nhiều lần trên
cùng một đối tượng [1].
Test Denver II không phải là test IQ, cũng không phải là những dự báo
chính xác cho sự thích ứng trong tương lai hay những năng lực trí tuệ. Nó
không được thiết kế cho việc chẩn đoán một cách chung chung như mất khả

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
- Địa điểm: phường Trần Hưng Đạo, Thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
- Thời gian: từ tháng 9 năm 2012 đến tháng 6 năm 2013.
2.2 Đối tượng nghiên cứu:
Trẻ dưới 6 tuổi và các bà mẹ có con dưới 6 tuổi tại địa bàn phường.
Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Trẻ dưới 6 tuổi tại thời điểm điều tra, trên địa bàn phường Trần Hưng
Đạo, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Trẻ không mắc các bệnh bẩm
sinh, bệnh mạn tính, và các bất thường về phát triển trí tuệ, hiện tại
không mắc các bệnh cấp tính.
- Bà mẹ: là mẹ của các trẻ được chọn, không bị tâm thần, không bị rối
loạn trí nhớ và hợp tác.
2.3 Phương pháp nghiên cứu:
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.3.2 Cỡ mẫu và quy trình chọn mẫu:
 Cỡ mẫu: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu 1 tỷ lệ:
p(1- p)
n = Z
2
1-/2
.
e
2

15


các bà mẹ của trẻ.
 Nhóm chỉ số về nhân trắc
Thu thập các chỉ số về cân nặng, chiều cao của trẻ để đánh giá tình
trạng dinh dưỡng theo 3 chỉ số: cân nặng/tuổi, chiều cao/tuổi, cân nặng/chiều
cao, theo WHO 2005.
 Nhóm chỉ số về tâm lý, vận động [1]:
- Sử dụng trắc nghiệm đánh giá sự phát triển Denver II.
- Trắc nghiệm Denver II gồm 125 tiết mục được sắp xếp trên phiếu kiểm
tra theo 4 khu vực. Đánh giá thao tác vận dụng của trẻ qua 4 khu vực
này.
 Khu vực (1): Cá nhân – xã hội: sự tương tác của trẻ với người khác và
thực hiện nhu cầu cá nhân gồm 23 tiết mục.
 Khu vực (2): Vận động tinh tế - thích ứng: sự phối hợp tay mắt, khả
năng thao tác với vật nhỏ: 30 tiết mục
 Khu vực (3): Ngôn ngữ: Sự hiểu và sử dụng ngôn ngữ : 21 tiết mục
 Khu vực (4): Vận động thô: khả năng lẫy, bò, ngồi, đi, chạy vận động
của các nhóm cơ lớn: 31 tiết mục.
2.4 Phương pháp thu thập thông tin:
2.4.1 Cách thức và phương pháp thu thập thông tin:
 Phỏng vấn trực tiếp: Sử dụng bộ câu hỏi cấu trúc sẵn để phỏng vấn
trực tiếp các bà mẹ là mẹ của các trẻ đã được lựa chọn.
Bộ câu hỏi gồm các phần:
- Thông tin chung của trẻ: Tên, địa chỉ, ngày sinh, tuổi, giới.
- Thông tin gia đình: Nghề nghiệp bố, mẹ, kinh tế gia đình, số con.

Trích đoạn Sự phát triển tâm vận động (TVĐ) Mối liên quan giữa mức độ phát triển tâm vận động và tình trạng dinh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status