ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm nấm là một trong những bệnh khá phổ biến trên thế giới. Nấm
tồn tại ở khắp mọi nơi: môi trường đất, nước, không khí, ở thực vật, động
vật và trên cả cơ thể người. Khi gặp điều kiện thuận lợi như nóng ẩm, sang
chấn, sức đề kháng suy giảm…nấm sẽ phát triển và gây bệnh. Bệnh do nấm
gây ra gặp nhiều ở các nước nhiệt đới và ôn đới. Bệnh có thể gặp ở cả
người lớn và trẻ em [1],[2].
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ và độ ẩm cao là
điều kiện thuận lợi cho vi nấm phát triển và dễ dàng gây nhiễm nấm ở người.
Những năm gần đây, tỷ lệ nhiễm nấm thông thường do ý thức kém và điều
kiện vệ sinh thiếu thốn đã giảm nhiều. Tuy nhiên, do sự xuất hiện đại dịch
HIV/AIDS cùng với việc ứng dụng những thành tựu mới của y học hiện đại
như: Ghép tạng, dùng thuốc ức chế miễn dịch, hoá trị, xạ trị điều trị ung thư,
sử dụng kháng sinh hoạt phổ rộng, corticoid kéo dài, các bệnh rối loạn chuyển
hoá Thực tế nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm nấm da trong các bệnh ngoài
da trong cộng đồng chiếm tỷ lệ khá cao. Ở Đông Nam Á bệnh da do nấm
chiếm 40-60% tổng số bệnh da [3]. Ở Việt Nam, bệnh nấm da đứng hàng thứ
2 trong các bệnh da sau chàm [4]. Trong đó, nhóm nấm men gây bệnh ở da
chiếm tỷ lệ khá cao, đặc biệt trong thời gian gần đây người ta đề cập nhiều
đến chủng nấm men Malassezia ssp. Nghiên cứu năm 2003 tại Iran, tỷ lệ
nhiễm nấm Malassezia ssp chiếm 6% trong số các bệnh da nói chung và 30%
bệnh da do nấm da nói riêng [5].
Tại bệnh viện Da liễu TW số bệnh nhân đến khám và làm xét nghiệm
tìm nấm rất đông và đa dạng. Trong đó, vi nấm Malassezia ssp gây bệnh
ngoài da chiếm tỷ lệ khá cao. Malassezia có rất nhiều loài, mỗi loài có độc
tính khác nhau nên khả năng gây bệnh khác nhau vì vậy lâm sàng cũng rất đa
1
dạng. Bệnh biểu hiện các triệu chứng lâm sàng không đặc hiệu như: Ngứa, đỏ
da, bong vẩy,…Thương tổn có thể gặp bất kỳ vùng nào trên cơ thể nhưng
thông thường khu trú vùng tiết nhiều bã nhờn như: da đầu, lưng, ngực, mặt.
Ngoài ra, có thể gặp ở nếp kẽ, nang lông, vùng móng…thậm chí vi nấm xâm
phòng tránh nấm gặp nhiều khóa khăn
+ Nấm sinh sản nhanh, nhiều và dễ dàng nên việc điều trị nấm phải tận gốc
+ pH: nấm phát triển dải pH rộng (3-10), nhưng thường ưa môi trường
kiềm hơn. Tốt nhất là môi trường có pH= 6-6,5. Ở môi trường trung tính hoặc
kiềm nhẹ, vi khuẩn phát triển mạnh hơn nấm.
Đăc điểm dinh dưỡng
+ Nấm đòi hỏi chất hữu cơ sẵn có từ môi trường, chúng tiết các men đặc biệt
giúp phân giải các chất hữu cơ đó thành những hợp chất đơn giản để hấp thu.
3
+ Phần lớn phát triển môi trường đơn giản không cần vitamin, nhưng
một số cần thiamine, biotin… để phát triển.
Nấm có khả năng gây bệnh cho người và động vật. Đặc biệt ở người nấm
gây nhiều bệnh rất nguy hiểm và khó điều trị. Nấm có thể gây bệnh bất kỳ vị trí
nào trên cơ thể từ da, lông tóc, móng, thậm chí xâm nhập vào các cơ quan, các
mô trong cơ thể [7],[8],[9],[10],[11]
1.1.2 Đặc điểm cấu trúc và sinh sản nấm
1.1.2.1 Bộ phận sinh dưỡng
- Nấm men: cấu tạo đơn bào, sinh sản hình thức nảy chồi, hình tròn
hoặc bầu dục, kích thước 3-15mn
- Nấm sợi: cấu tạo đa bào, có vách ngăn hoặc không. Chúng chia nhánh
và xen kẽ với nhau thành từng khúm nấm. Đối với nấm Malassezia spp khi ký
sinh cũng có thể tạo sợi nấm thô ngắn.
1.1.2.2 Bộ phận sinh sản
- Lớp Actinomycetes không có bộ phận sinh sản. Các lớp nấm khác có
bộ phân sinh sản vô tính hoặc hữu tính.
+ Phương thức sinh sản vô tính: phân chia không có sự phối hợp nhân, đó
là loại bào tử vô tính, thường do sợi nấm sinh ra, có nhiệm vụ phát triển hoặc/và
dự trữ.
+ Phương thức sinh sản hữu tính: phân chia có sự phối hợp nhân, đó là
bào tử nang, bào tử tiếp hợp, bào tử noãn, bào tử đảm.
- Ngoài ra dựa và vị trí gây bệnh chia làm hai loại [11]
+ Nhiễm nấm nông: gồm các loại nấm da và dưới da 1-2 mm
+ Nhiễm nấm sâu: nấm xâm nhập vào các mô của cơ thể như các loại
nấm nội tạng, nấm não, nhiễm nấm máu
- Nhiễm nấm phân chia theo căn nguyên
+ Căn nguyên nội sinh: Một số chủng nấm thường sống ký sinh trên da,
đường tiêu hóa và âm đạo, khi sức đề kháng giảm sút hoặc điều kiện sống tại
chỗ thay đổi như: mất cân bằng vi hệ, thay đổi pH da…thì chúng gây bệnh cơ
hội ở vùng này.
+ Căn nguyên ngoại sinh: khi hít phải các bào tử nấm trong không khí
hoặc ăn phải các thức ăn có nhiễm nấm, gây ra các bệnh nấm đường hô hấp,
tiêu hóa…
7
1.2 Lịch sử vi nấm Malassezia
Bệnh nấm da nói chung mô tả rất sớm trong lịch sử loài người. Năm 1800,
Gruby đã nuôi cấy nấm gây bệnh thực nghiệm trên vùng da ẩm ướt. Năm
1910, Sabouraud là người đầu tiên đưa ra bảng định danh các loài nấm,
đặc điểm lâm sàng và phương pháp điều trị bệnh nấm. Với công sức này
ông được coi là cha đẻ ngành nấm y học hiện đại [14]. Nấm gây bênh trên
bề mặt da rất phổ biến vì chúng cs mặt ở khắp nơi và rất dễ lây nhiễm đặc
biệt ở các nước khí hậu nóng ẩm nhiệt đới như nước ta. Bệnh có thể gây ra
bởi các chủng Dermatophyte, Candida, Malassezia, Trichosporon Trong
đó, bệnh do nấm Malassezia nói riêng cũng đã được mô tả từ lâu trong y
văn thế giới. Từ những năm 40 – 50 của thế ký 19, các tác giả đã ghi nhận
vai trò nấm gây bệnh của nấm với tên gọi Pityrosporum và tác giả nhận
thấy sự hiện diện của vi nấm trên một số bệnh như: Lang ben, viêm da
dầu, Viêm nang lông, viêm da cơ địa. Cũng trong thời gian đó, Raymond
Sabouraud đã xác định vi sinh vật gây hiện tương gầu da đầu cũng có tên
gọi là: Pityrosporum. Nhưng mãi đến giữa thế kỷ 20 một số nhà khoa học
tìm được 3 loài nấm là: P. oval, P.orbiculair, P.pachydermatis. Trong đó,
kỷ gần đây rất nhiều nghiên cứu khác nhau ở nhiều nơi trên thế giới đã cho
biết vi nấm này được chú ý rất nhiều trong cơ chế bệnh sinh của một số
bệnh da thường gặp như: Viêm da cơ địa, viêm da dầu, gầu da đầu [19],
[20], [22], [23]
Malassezia là nấm men ưa lipid, đa phần các loài gây bệnh cho người như:
M.globosa, M. furfur, M. dermatits, M.sympothealis Chúng thường biểu
hiện ở mọi lúa tuổi và trong rất nhiều bệnh lý với nhiều vị trí khác nhau
9
nhưng chủ yếu là độ tuổi thanh niên có liên quan vùng da mỡ. Ngoài ra,
một số loài khác gây bệnh móng và gây bệnh cơ quan, hệ thống. Bên cạnh
đó, có một số loài gây bệnh chủ yếu ở động vật như: M.pachydermatis.
Nhưng đôi khi cũng gây bệnh cho người trong một số trường hơp suy
giảm miễn dịch , có thể biểu hiện tình trạng bệnh cảnh lâm sàng nặng nề,
nguy kịch.
Malassezia spp có cấu tạo đơn bào và sinh sản hình thức nảy chồi. Tuy
nhiên, một số loài có cấu tạo đa bào như: M.globosa, loài này có phương thức
sinh sản hữu tính tức là chúng có khả năng giao phối kết hợp giữa giao tử đực
và giao tử cái do đó chúng thích nghi, sinh sản và phát triển hàng loạt. Đồng
thời di truyền những đặc tính của loài qua nhiều thế hệ. Vì vậy, thế hệ sau
luôn mang các đặc tính về khả năng thích nghi và đề kháng với những yếu tố
có tính chất đào thải nấm trong chính mỗi cá thể hoặc từ môi trường tự nhiên.
Do đó, loài M.globosa mang tính chọn lọc tự nhiên rất cao hơn nữa loài nấm
này tồn tại ở vi hệ rất nhiều và là căn nguyên gây bệnh chủ yếu [18],[21],[22].
Nấm Malassezia.spp thuộc vi hệ trên da của người và động vật máu nóng.
Nhiều nghiên cứu cho thấy có khoảng 70-90% vi nấm Malassezia.spp có mặt
trên da người khỏe mạnh [17],[22]. Tuy nhiên, những vi nấm tồn tại ở vi hệ
này không bền vững đôi khi cũng thay đổi. Ngay từ khi mới sinh, vi nấm đã
xuất hiện và có mặt ở nhiều vị trí trên cơ thể. Nhưng đa phần chúng phát triển
nhiều ở tuổi vị thành niên, bởi lứa tuổi này tuyến bã hoạt động mạnh nên chế
tiết nhiều chất bã… Bên cạnh đó, vi nấm cũng có thể đồng nhiễm với một số
hoạt con đường gây viêm [18]
- Khả năng né tránh và chống lại quá trình thực bào do:
+ Lớp lipid dày bao quanh tế bào nấm
+ Tính đa kháng nguyên và thay đổi thành phần tế bào.
1.5 Một số yếu tố thuận lợi
Bệnh do nấm Malassezia thường có nguồn gốc nội sinh do các loài
Malassezia phát triển quá mức gây bệnh, đặc biệt khi có điều kiện thuận lợi
[27],[28],[29],[15]
Các yếu tố thuận lợi hay gặp là:
11
* Yếu tố bên trong:
- Sinh lý: phụ nữ có thai, trẻ sơ sinh
- Bệnh lý toàn thân: Nhiễm trùng cấp và mạn tính, bệnh chuyển hóa, béo
phì…Các bệnh lý như bỏng, ung thư, Hodking, nhiễm HIV/AIDS…
- Bệnh lý tại chỗ làm thay đổi tính chất da: VDCD, Rụng tóc, Bạch biến…
- Sử dụng hóa chất: Dùng kháng sinh phổ rộng, kéo dài làm thay đổi sự
cân bằng vi hệ…
* Yếu tố bên ngoài:
- Người già sức đề kháng suy giảm
- Loét do bỏng
- Điều kiện vệ sinh kém, không ý thức bệnh tật hoặc thiếu kiến thức
- Môi trường vi khí hậu thay đổi…
- Ngoài ra thói quen dùng dầu dưỡng tóc, kem chống nắng, môi trường
nóng ẩm… là những yếu tố rất thuận lợi cho vi nấm Malassezia ssp phát triển
và gây bệnh.
1.6 Tình hình nhiễm vi nấm Malassezia ssp
1.6.1 Trên thế giới
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng: các loài Malassezia đóng vai
trò rất quan trọng trong căn nguyên sinh bệnh của: lang ben, viêm da tiết
bã, viêm da cơ địa, viêm nang lông… [20],[30].[31]
không đáp ứng. Đặc biệt khi tình trạng da khô và chức năng da suy yếu là
điều kiện thuận lợi kích hoạt quá trình dị ứng bởi các vi sinh vật, bọ ve, bụi
nhà…Trong đó, phải kể đến vai trò vi sinh vật gây bệnh là một yếu tố quan
trọng làm trầm trọng hơn tình trạng bệnh.
13
Một nghiên cứu khác chỉ ra có hơn 90% VDCĐ vùng đầu và cổ có hàm
là lượng kháng thể IgE trong huyết thanh kháng lại kháng nguyên của
Malassezia. Trong đó có khoảng 83% VDCĐ ở người lớn liên quan đến
Malassezia [22]. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng chính việc lạm dụng thuốc điều
trị taị chỗ Corticoit cũng như các chất dưỡng ẩm và kết hợp một số yếu tố
liên quan khác đã vô hình chung tạo môi trường thuận lợi cho sự gia tăng số
lượng cũng như sự sinh sản và phát triển của vi nấm Malassezia.
Một báo cáo năm 2008 tại Trung Quốc cho thấy có khoảng 1,5% các
bệnh nhân Da liễu đã được chẩn đoán viêm nang lông do vi nấm Malassezia.
Trong số đó, hầu hết họ đều là nam giới khỏe mạnh và đang ở độ tuổi trung
niên [36]. Một nghiên cứu khác ở Philippines cho biết có khoảng 16% bệnh
nhân viêm nang lông do Malassezia trong tổng số bệnh lý nang lông [37].
Từ tháng 7 năm 1996 đến tháng 12 năm 1999, một nghiên cứu trên 588
bệnh nhân có thương tổn móng tay với chẩn đoán nấm móng tại các Phòng
khám Da liễu và vi khuẩn học EPM \ UNIFESP, Brazil. Cùng thời gian đó ở
Chile, V.Silva cũng có báo cáo về các trường hợp nhiễm nấm móng do
Malassezia spp. Bên cạnh đó, bằng các xét nghiệm soi tươi, nuôi cấy định loại
và sinh học phân tử, một số nghiên cứu đã khẳng định M.furfur là căn nguyên
gây nấm móng [26],[38],[39].
Ngoài ra vi nấm Malassezia còn gây viêm tai giữa, nấm móng, đôi khi
phối hợp với các viêm nhiễm do virus ở dạng u nhú. Có nhiều báo cáo về tình
trạng nhiễm Malassezia spp ở máu ngoại vi và nội tạng; năm 1996 tại Iran
báo cáo trường hợp nhiễm Malassezia spp trong máu trẻ sơ sinh khi đang
truyền máu [40]. Năm 1987, Gueaho E và cộng sự đã báo cáo trường hợp
nhiễm nấm hệ thống do một loài vi nấm rất đặc biệt thường gây bệnh cho
không? Theo Eduado Silva bình thường bệnh không lây vì nó thuộc vi hệ.
Nhưng dưới ảnh hưởng một số yếu tố thuận lợi: khí hậu nóng ẩm, tính chất da
thay đổi, sức đề kháng suy giảm…tạo điều kiện vi nấm tăng sinh và gây bệnh
[43]. Nhưng Jose Latoni thì cho rằng bệnh có thể lây do dùng chung ga
giường, quần áo.
* Triệu chứng lâm sàng
Bệnh biểu hiên thể điển hình với các triệu chứng rất dễ nhận biết. Đó là
đám màu hồng nâu, hình tròn, ranh giới rõ, đôi khi là những đám thuơng tổn
mất sắc tố. Thường khu trú vùng cổ, ngực, lưng, vai, cánh tay. Hiếm khi ở
cẳng tay, chân cũng như lòng bàn tay và bàn chân [44].
● Chẩn đoán của lang ben nói chung là đơn giản
- Triệu chứng lâm sàng điển hình
- Xét nghiệm: Kết quả soi trực tiếp cho kết quả dương tính 80 - 90%,
trong đó đa phần (89%) cho hình ảnh điển hình là “mì ống và thịt viên”. Theo
dữ liệu của một số nghiên cứu gần đây về nuôi cấy, định loại và kỹ thuật
ADN đã khẳng định M. globosa là loài gây bệnh phổ biến nhất trong bệnh
lang ben; một nghiên cứu năm 2000 do F.Sanchez F thực hiện đã chỉ ra rằng
căn nguyên gây lang ben là M.globosa [45]. Trong đó, M.globosa chiếm
khoảng 53,3%, tiếp theo M. furfur 25,3%, M. sympodialis 9,3%, còn M.
obtusa 8,1% và M. slooffiae 4,0%. Bên cạnh đó, Gupta et al cũng tìm thấy M.
sympodialis là tác nhân chủ yếu trong lang ben đối với vùng khí hậu ôn đới,
còn M. globosa là tác nhân chính ở các vùng nhiệt đới [22].
1.7.2.Viêm da dầu
16
Viêm da dầu (Seborrheic Dermatitis - SD) là bệnh da mạn tính thường
gặp. Bệnh chủ yếu ở trẻ sơ sinh, tuổi dậy thì và độ tuổi ngoài 50, nam gặp
nhiều hơn nữ [42].
Tác nhân gây bệnh viêm da dầu còn đang tiếp tục được làm rõ, tuy nhiên
nhiều nghiên cứu cho thấy viêm da dầu thường xảy ra trên cơ địa những
người tăng tiết chất nhờn kết hợp nhiễm nấm Malassezia ssp [23], [46].
má, mi mắt, cung mày, sau tai, ống tai ngoài, vùng trước xương ức, vùng liên
bả vai. Trong nghiên cứu Nguyễn Thị Phượng (2009) vị trí tổn thương
thường gặp nhất là rãnh mũi má 93%. Các vị trí ít gặp hơn là kẽ nách, nếp lằn
vú, rốn, vùng bẹn sinh dục và kẽ liên mông. Tuy nhiên, khi bệnh nặng tổn
thương có thể lan toả khắp cơ thể. Từ sự phân bố tổn thương trong bệnh VDD
có thể thấy rằng có sự liên quan rất mật thiết giữa vị trí da dầu với bệnh [33]
* Chẩn đoán xác định
- Chủ yếu dựa vào lâm sàng
- Để xác định căn nguyên có nhiễm nấm Malassezia ssp cần thiết phải
xét nghiệm soi tươi tìm nấm. Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu trước đây chỉ ra
rằng M. furfur là loài gây bệnh chính. Tuy nhiên, gần đây người ta đã khẳng
định vai trò chủ yếu do loài M. restricta, kế đến M.globosa, sau đó mới đến
các loài khác trong đó có M.furfur [45], [42].
1.7.3. Gầu da đầu
Các biểu hiện trên da đầu mà thường được gọi là "gàu" gây ra bởi nhiều
yếu tố của cơ thể kết hợp với hệ vi nấm Malassezia ssp. Thật vậy, các nghiên
18
cứu lâm sàng đã chỉ ra rằng chính tác dụng của thuốc kháng nấm tương quan
với một tình trạng lâm sàng được cải thiện, khi da khô gặp không khí lạnh
trong suốt mùa đông là nguyên nhân phổ biến nhất của ngứa, bong vẩy gàu ở
đầu. Đó là một trong những nguyên nhân thường gặp nhất của gàu. Theo
Flakes những người da khô thường tiết ít dầu hơn so với những người da bình
thường nên dễ bị kích thích tăng tiết nhiều bã nhờn trên da. Khi da tăng tiết bã là
tức là bệnh ảnh hưởng không chỉ đến da đầu mà còn xuất hiện trên các bộ phận
khác của cơ thể, chẳng hạn như lông mày của bạn, hai bên mũi và lưng, xương
ức, vùng nách, vùng háng đôi khi gặp ở cánh tay và chân. Nếu bạn không gội
đầu thường xuyên thì dầu và các tế bào da từ da đầu của bạn có thể phát triển ở
các vùng da khác của cơ thể [42], [29], [21].
Một loại nấm men Malassezia spp ký sinh trên da đầu của hầu hết người
trưởng thành khỏe mạnh mà không gây ra vấn đề gì. Nhưng đôi khi nó phát
đến tỷ lệ những người nhiễm vi nấm Malassezia gây viêm nang lông. Những
người sống ở vùng khí hậu ấm và ẩm ướt có tỷ lệ nhiễm cao hơn và ngày càng
gia tăng ở vùng này. Vi nấm này chủ yếu gặp ở tuổi vị thành niên [2], phổ
biến nhất ở những người khoảng 13-45 tuổi với tỷ lệ nữ / nam là 1,5:1
Ngoài ra, những người có thói quen dùng các sản phẩm dưỡng da, chăm
sóc tóc cùng với nhiều loại mỹ phẩm, sữa, kem chống nắng, chất làm mềm,
dầu ôliu. Ngay cả chất liệu của trang phục, quần áo cũng tạo điều kiện thuận
lợi cho vi nấm Malassezia viêm nang lông, Một số yếu tố liên quan thuận lợi
tạo điều kiện cho vi nấm gây viêm nang lông bao gồm: đái tháo đường, suy
giảm miễn dịch, và nhiễm Candida hệ thống [48]. Khi quan sát vi thể
Malassezia trong nang lông qua các phương pháp nhuộm PAS và nhuộm
20
Grocott-Gomori methenamine, đa phần chỉ quan sát hình thái nấm men,
không có hình thái sợi nấm. Thông thường khi phát hiện có vi nấm thì tiên
lượng và điều trị không khó khăn. Nhưng nếu không điều trị, vi nấm xâm
nhập sâu nang lông có thể là viêm mạn tính và hoại tử nang lông [49] .
1.7.5. Nấm móng do Malassezia.spp
Mặc dù hầu hết các trường hợp của nấm móng gây ra bởi các chủng nấm
da. Tuy nhiên, gần đây có nhiều báo cáo trong y văn đã phân lập được
Malassezia.sp là căn nguyên gây bệnh nấm móng . Tuy móng không phải là
một nguồn thức ăn lý tưởng của vi nấm nhưng do nấm men thiếu khả năng
sừng hóa (keratolytic) đồng thời xuất hiện những biến đổi không bình thường
trong quá trình sinh trưởng nên chúng xâm chiếm và phá hủy móng, chủ yếu
móng tay. Tuy nhiên, vẫn có những báo cáo trái ngược nhau xoay quanh vấn
đề vi nấm Malassezia là một tác nhân gây bệnh thực sự ở móng hay không
[38].
Chowdhary đã cô lập Malassezia furfur từ vẩy móng tay thu được ở tổn
thương nấm móng tăng sừng trên bàn tay và bàn chân của nam bệnh nhân 13
tuổi [39]. Crespo-Erchiga đã khẳng định rằng họ đã từng gặp phải Malassezia
spp và Candida spp gây bệnh ở móng. Nhưng bởi vì tỉ lệ nhiễm Malassezia
các bệnh nhiễm nấm bề mặt [38].
1.7.6. Một số biểu hiện khác do nhiễm nấm Malassezia.spp
- Malassezia thuộc vi hệ nên vi nấm này có mặt khắp nơi và gây bệnh
nhiều vị trí với các biểu hiện triệu chứng đa dạng trong rất nhiều bệnh cảnh
lâm sàng. Malassezia có thể gặp trong viêm da cơ địa và thông thường
Malassezia làm trầm trọng thêm tình trạng bệnh. Ngoài ra, trong một số bệnh
lý khác: Trứng cá thông thường, U nhú thể mảng, Gaiden, Bạch biến
22
- Xâm nhập cơ quan, hệ thống: Người ta đã phát hiện bệnh nhân nằm
điều trị hồi sức tích cực bị nhiễm Malassezia.spp huyết. Ngoài ra, nhiều
nghiên cứu khác đã
saaaaa cùng nhận định Malassezia.spp là tác nhân gây bệnh ở phổi, viêm
màng bụng, nhiễm khuẩn huyết qua đặt Catheter [51],[29],[48]. Sau đó, các
nhà khoa học thuộc đại học Amsterdam đã tiến hành nuôi cấy, định loại nấm
và thực hiện kỹ thuật sinh học phân tử đã xác định có hai loài gây bệnh hệ
thống hay gặp: M.pachydermatis chiếm khoảng 46% và M.furfur chiếm 63%
[40].
- Theo nghiên cứu CDC (1984) nhận thấy vi nấm Malassezia.spp gây
bệnh nhiều nơi. Khi người ta tiến hành lấy các mẫu từ bệnh phẩm: máu, nước
tiểu, đờm, phân đều có thể phân lập được Malassezia.spp với tỷ lệ khá cao
1.8 Chẩn đoán bệnh do nấm Malassezia.spp
1.8.1 Triệu chứng lâm sàng
Thông thường các triệu chứng biểu hiện rất đa dạng và không đặc hiệu.
- Dát đỏ, bong vẩy da
- Da tăng tiết bã nhờn
- Gầu da đầu
- Dát tăng, giảm sắc tố
- Sẩn đỏ kèm ngứa vùng lông, tóc
- Vị trí chủ yếu: Da đầu, vùng mặt (rãnh mũi má, vùng trán, cằm, giữa
hai cung mày), lưng ngực, Một số vị trí khác ít gặp hơn như: móng tay, chân,
ta quan sát các mẫu bệnh phẩm trên kính hiển vi có thể gặp hình ảnh điển
ta quan sát các mẫu bệnh phẩm trên kính hiển vi có thể gặp hình ảnh điểnhình của
hình của
Malassezia
Malassezia
như: sợi nấm + tế bào men, hoặc sợi nấm thô ngắn như
như: sợi nấm + tế bào men, hoặc sợi nấm thô ngắn nhưsợi miến vụn, đặc biệt nhiều khi chỉ gặp hình thái tế bào nấm men. Các tế bào
sợi miến vụn, đặc biệt nhiều khi chỉ gặp hình thái tế bào nấm men. Các tế bàonấm men này thường có kích thước nhỏ và ẩn trong chất bã, vẩy da đồng thời
nấm men này thường có kích thước nhỏ và ẩn trong chất bã, vẩy da đồng thờiđa hình thái như hình cầu
đa hình thái như hình cầu
(P.Orbicculair
(P.Orbicculair
) và/ hoặc hình bầu dục (
) và/ hoặc hình bầu dục (
P.Oval
P.Oval
). Vì
). Vì
nhanh, chính xác nhưng cũng đòi hỏi kinh nghiệm. Bên cạnh đó, trong y văn
24
cũng đề cập tới một số phương pháp xét nghiệm khác có độ nhậy và đặc hiệu
cao như: miễn dịch học, PCR…
Tuy nhiên, so sánh giữa các nghiên cứu không nhằm mục đích nêu ra
sự khác biệt giữa các phương pháp nghiên cứu cũng như các kỹ thuật áp dụng
để phát hiện nấm. Mà xa hơn mỗi nghiên cứu góp phần vào sự hiểu biết ngày
càng sâu rộng về vi nấm Malassezia nói chung. Qua đó làm sáng tỏ hơn vấn
đề vi hệ Malassezia và cơ chế bệnh sinh trong bệnh cảnh lâm sàng, đặc biệt
một số bệnh ngoài da thường gặp.
Điều đó chứng tỏ mặc dù trên da người khỏe mạnh vi nấm có thể tồn
tại hay chỉ xuất hiện thoáng qua nên đôi khi ta có thể quan sát được trên kính
hiển vi nhưng khi tiến hành nuôi cấy trên môi trường nhân tạo thì chúng
không phát triển. Có lẽ do vi nấm thuộc vi hệ nên chỉ có thể sinh sản và phát
triển cùng cơ thể vật chủ. Do vậy vi nấm này chưa đủ số lượng, độc lực và
không thắng được hàng rào miễn dịch bảo vệ da nên chưa gây bệnh. Điều này
càng rõ hơn khi 15 SV có thương tổn dạng dat khi soi tưoi đều dương tính và
nuôi cấy mọc tỷ lệ 33,33%. Nghiên cứu này phù hợp với thực tế khi phát hiện
tỷ lệ giữa Lâm sàng, soi tươi và nuôi cấy với tỷ lệ (3:2:1)
Gần đây, tại phòng nấm khoa Xét nghiệm Bệnh viện Da liễu TW, được sự
giúp đỡ các chuyên gia CDC/Hoa Kỳ chúng tôi đã cập nhật phương pháp soi tìm
Malassezia.spp bằng kỹ thuật KOH kết hợp Parker Ink với tỷ lệ là 2:1. Đây là kỹ
thuật giúp ích nhiều cho chẩn đoán cận lâm sàng bởi ưu điểm:
- Thời gian cho kết quả nhanh
- Nhận định hình thái vi nấm rõ nét và dễ dàng hơn.
- Tránh bỏ sót vi nấm khi soi trực tiếp
- Đánh giá mật độ tập trung của vi nấm chính xác.
25